CHƯƠNG MƯỜI MỘT
Quyết định bơi. - Đảo Tabor. - Những cuộc tìm kiếm trong rừng. - Trên đảo không có ai. - Túp lều hoang.
- Có ai đó bị tai nạn đắm tàu, - Pencroff kêu lên, - và sống hoàn toàn có một mình trên đảo Tabor cách chúng ta đâu đó một trăm hải lý! Thế nào, ngài Cyrus, bây giờ ngài sẽ không phản đối chuyến du hành nữa chứ!
- Không, Pencroff, - Cyrus Smith trả lời, - và cần phải khởi hành càng sớm càng tốt.
- Ngày mai?
- Ngày mai.
Kỹ sư xem qua vài giây mảnh giấy mà ông lấy trong chai ra. Ông suy tư điều gì đó, rồi nói:
- Các bạn của tôi, dựa vào bức thư này có thể kết luận như sau: thứ nhất, người bị nạn ở đảo Tabor là một người am hiểu nghề hàng hải, bởi vì vĩ tuyến và kinh tuyến của đảo mà ông ta cho biết trùng khớp với vĩ tuyến và kinh tuyến mà chúng ta đã xác định với độ chính xác tới một phút; thứ hai, ông ta là một người Anh hoặc một người Mỹ, bởi vì lá thư đã được viết bằng tiếng Anh.
- Một nhận xét hoàn toàn lôgic, - Gédéon Spilett tuyên bố, - đấy chính là lời giải đố; đã rõ ràng cái hòm mà chúng ta tìm thấy là ở đâu rồi. Một tai nạn đắm tàu đã xảy ra, vì đã có một người bị nạn. Dù anh ta là ai thì cũng đã gặp may, vì Pencroff đã nảy ra ý định đóng tàu và hôm nay thử nó, chứ chậm một ngày thôi chắc chắn cái chai sẽ bị va vào đá ngầm và vỡ tan rồi.
- Đúng thế, - Harbert nói, - may mà “Bonadventur” đã đi qua trong lúc cái chai còn nổi trên mặt nước.
- Thế anh có thấy điều ấy lạ lùng không? - Cyrus Smith hỏi Pencroff.
- Tôi cảm thấy rằng đây là một dịp may, có vậy thôi, - chàng thủy thủ đáp. - Còn ngài Cyrus, chẳng nhẽ ngài thấy trong việc này có điều gì đó khác thường sao? Bởi vì, một cái chai có thể trôi đến đâu đó mà chả được? Tại sao nó lại không có thể giạt vào đây?
- Có thể là anh nói đúng đấy, Pencroff, - kỹ sư trả lời, - nhưng…
- Nhưng, - Harbert nhận xét, - đâu có gì chứng tỏ là cái chai đã trôi trên biển được bao lâu rồi?
- Chẳng có gì hết, - Gédéon Spilett trả lời, - và thậm chí cả bức thư hình như cũng mới được viết đây thôi. Ngài nghĩ thế nào về điều này, thưa ngài Cyrus?
- Khó nói đấy, nhưng chúng ta nhất định sẽ giải thích được tất cả! - Cyrus Smith trả lời.
Trong lúc diễn ra câu chuyện ấy, Pencroff không ngồi bó tay. Chàng chuyển sang góc hứng gió khác và “Bonadventur” giương hết cánh buồm lao về mũi Cái móng. Ai nấy đều nghĩ về con người bị số phận quẳng lên đảo Tabor. Thế nếu nhỡ họ đến trễ và không cứu được anh ta thì sao? Trong cuộc sống của những người di dân đã xảy ra một sự kiện lớn. Chính họ bị lâm nạn, nhưng họ lại sợ rằng cái con người bị nạn kia không được may mắn như họ, và thấy mình có trách nhiệm phải mau mau đi cứu giúp con người bất hạnh ấy.
“Bonadventur” vòng qua mũi Cái móng và bốn giờ chiều đã thả neo gần sông Tạ ơn.
Buổi tối hôm ấy, những người di dân đã bàn bạc kỹ kế hoạch du hành. Hợp lý hơn cả là Pencroff và Harbert sẽ đi sang đảo Tabor, bởi vì cả hai người đều biết lái tàu. Hôm sau, 11 tháng mười, rời bến thì họ có thể cập đảo vào ngày 13, bởi vì, nếu thuận gió thì sau hai ngày hai đêm họ có thể dễ dàng vượt được một trăm năm mươi hải lý. Họ sẽ ở đảo một ngày, ba - bốn ngày trên đường về, nghĩa là 17 tháng mười họ sẽ phải trở về đảo Lincoln. Thời tiết rất tốt, phong vũ biểu nhích lên một cách nhịp nhàng, hướng gió hình như đã ổn định, - tóm lại là mọi sự đều thuận lợi cho những nhà du hành dũng cảm rời hòn đảo yêu dấu của mình vì ý thức trách nhiệm và lòng yêu quí đối với con người đồng loại.
Thế là đã quyết định xong, Cyrus Smith, Nab và Gédéon Spilett sẽ ở lại nhà. Nhưng, Gédéon Spilett không quên mình là phóng viên báo “New York herald”. Vì vậy đã đột ngột tuyên bố sẵn sàng đi theo tàu, chứ không chịu bỏ lỡ một dịp như thế này. Và ông đã được nhập vào số những người du hành.
Buổi tối, những người di dân đã chuyển lên tàu “Bonadventur” các đồ ngủ, bát đĩa, vũ khí, đạn, địa bàn, lương ăn cho một tuần, sau đó trở về ngay Lâu đài đá hoa cương. Hôm sau, năm giờ sáng, ba người bạn xúc động chia tay những người ở lại, nhổ neo lên đường…
“Bonadventur” cách bờ đã một phần tư hải lý rồi mà các hành khách của nó vẫn nhìn thấy hai người đứng trên bãi đất cạnh Lâu đài đá hoa cương và vẫy chào tạm biệt họ. Đấy là Cyrus Smith và Nab.
- Kìa, các bạn của chúng ta đó! - Gédéon Spilett thốt lên. - Lần đầu tiên sau một năm rưỡi chúng ta xa nhau.
Pencroff, nhà báo và Harbert vẫy họ lần cuối cùng, và Lâu đài đá hoa cương chẳng bao lâu đã biến mất sau các vách đá cao của mũi Cái móng…
“Bonadventur” chạy rất tốt. Nó nhẹ nhàng cưỡi sóng và đạt dần tốc độ khá cao.
Thỉnh thoảng Harbert cầm lái thay Pencroff. Chú điều khiển chắc chắn, tàu chạy không bị chệch hướng và thuyền trưởng cũng không có gì phải trách cứ người giúp việc của mình.
Gédéon Spilett lúc thì trò chuyện với chàng thủy thủ, lúc thì trò chuyện với Harbert, thỉnh thoảng còn giúp đỡ họ kéo hoặc cuốn buồm…
Sang tối ngày thứ hai, các nhà du hành tính rằng “Bonadventur” có lẽ đã bơi cách đảo Lincoln được một trăm hai mươi hải lý, bởi tàu chạy với tốc độ trên ba hải lý một giờ. Gió thổi rất nhẹ, tưởng như sắp lặng hẳn. Tuy vậy, vẫn có thể hy vọng sáng sớm mai đảo Tabor sẽ xuất hiện, nếu như các tính toán đều đúng và con tàu không bị đi chệch hướng.
Suốt đêm 12 rạng 13, không có ai trong số họ, cả Gédéon Spilett, Harbert lẫn Pencroff, chợp mắt được. Họ thao thức chờ sáng và không thể nào nén nổi hồi hộp.
Biết bao điều nghi hoặc cứ xoáy chặt vào đầu óc họ! Có đúng họ đang ở gần đảo Tabor không? Con người bị nạn đắm tàu mà họ đang vội đi cứu giúp đây có còn sống không? Liệu anh ta có đem vào cái gia đình hòa thuận của những người di dân mối bất đồng nào không? Tất cả những câu hỏi mà có lẽ ngày mai đây phải được giải đáp ấy đã làm cho họ mất ngủ, và khi những tia sáng mai đầu tiên xuất hiện, họ đã dán mắt nhìn về đường chân trời phía Tây.
- Đất liền! - Bỗng Pencroff kêu lên lúc gần sáu giờ sáng.
Pencroff tất nhiên không thể nhầm được, - thế nghĩa là đúng đất liền rồi.
Ta có thể hình dung được đoàn thủy thủ nhỏ bé ấy sung sướng biết chừng nào. Vài giờ nữa thôi họ sẽ lên bờ rồi!
Bây giờ họ đã nhìn thấy toàn bộ hòn đảo, trên đó có những cây leo và còn có cả những cây lớn gì đó nữa giống như những cây mọc trên đảo Lincoln. Nhưng lạ thay, các nhà hàng hải không thấy ở đâu có lấy một làn khói nhỏ - dấu hiệu chắc chắn nói lên rằng hòn đảo có người ở, cũng không thấy có tín hiệu tai nạn nào cả.
Vậy mà lá thư lại nói trên đảo có một người bị tai nạn đắm tàu đang ở, và anh ta tất nhiên là đang đợi sự cứu giúp!
Trong khi đó “Bonadventur” vẫn dũng cảm bơi quanh co giữa các tảng đá ngầm, Pencroff căng mắt chú ý từng khúc ngoặt. Chàng giao tay lái cho Harbert, còn tự mình đứng ở mũi tàu nhìn xuống nước, nắm lấy dây kéo buồm, sẵn sàng hạ buồm ngay lập tức. Gédéon Spilett quan sát bờ qua ống nhòm, nhưng không lưu ý thấy điều gì cả.
Cuối cùng, gần giữa trưa, sống mũi tàu “Bonadventur” chạm vào bờ cát. Họ thả neo, hạ buồm, và đoàn thủy thủ của tàu lên bờ.
Theo kinh nghiệm của Cyrus Smith, họ trèo lên một quả đồi, từ trên cao nhìn bao quát, thấy hòn đảo có hình bầu dục kéo dài, chu vi không quá sáu dặm biển, toàn là rừng, hầu như không có những mũi, vịnh hay eo biển gì.
- Ờ, vùng lãnh địa hơi nhỏ, - Harbert nhận xét.
- Hơi nhỏ, - Pencroff tán thành, - chúng mình chẳng có chỗ để mà dạo chơi.
- Hơn nữa, - nhà báo nói thêm, - có lẽ đảo không có người…
Có lẽ, ai đó đã viết lá thư nọ từ mấy tháng trước, thậm chí từ vài năm trước. Vậy có nghĩa là người bị nạn đắm tàu đã trở về quê hương, hoặc là đã chết vì thiếu thốn.
Suốt mấy giờ liền Pencroff, Gédéon Spilett và Harbert đi tìm trên đảo, mà chưa gặp ai, và bây giờ đây, năm giờ chiều, họ đi sâu vào rừng.
Họ đã làm cho một số con vật nào đấy hoảng sợ chạy tán loạn: hóa ra đó là những con dê và heo giống châu Âu. Chắc chắn là một chiếc tàu đánh cá voi nào đấy tình cờ đưa những con giống ấy đến đây, và chúng đã mau chóng sinh sôi nảy nở thêm. Harbert quyết định thế nào cũng phải bắt lấy vài con cái và đực đưa về đảo Lincoln.
Không nghi ngờ gì nữa, - trên đảo đã từng có người ở. Các du khách tin chắc như vậy khi bước vào rừng: ở đấy có những thân cây bị ngả xuống bằng rìu, và chỗ nào cũng thấy có những dấu vết con người đấu tranh với thiên nhiên.
- Có lẽ, Gédéon Spilett nói, - không những có người ở mà thậm chí họ còn ở đây một thời gian. Họ là những ai vậy? Có bao nhiêu người? Còn bao nhiều người ở lại đây?
- Trong thư chỉ nói đến một người thôi, - Harbert nhận xét.
- Không nhẽ ta lại không tìm ra người ấy sao! - Pencroff thốt lên.
Thế là, những cuộc tìm kiếm được tiếp tục.
Harbert rất mừng đã phát hiện trên đường đi có khoai tây, cà rốt, bắp cải, xu hào; có thể lấy hạt và củ giống đem về trồng trên đảo Lincoln.
- Tuyệt quá! - Pencroff kêu lên. - Dù không tìm được người bị nạn thì chuyến du hành của chúng ta cũng không uổng công.
- Đúng thế, - Harbert tán thành, - có ai coi thường rau, củ bao giờ!...
Trời đã bắt đầu tối, nhà báo đề nghị mọi người quay về tàu ngủ, ngày mai tìm tiếp.
Mọi người đã chấp nhận lời khuyên sáng suốt ấy và định thực hiện thì bỗng Harbert kêu toáng lên:
- Có lều kìa!
Và, ba người bạn vội vã đi về phía căn lều.
Pencroff mở toang cánh cửa khép hờ ra và xộc vào.
Trong đó vắng tanh!