CHƯƠNG MƯỜI BỐN
Điều bí mật chưa được giải thích. - Những lời đầu tiên của người lạ. - Mười hai năm sống trên đảo nhỏ. - Người lạ biến mất. - Cyrus Smith không mất niềm tin. - Cái bắt tay của những người lương thiện.
Đúng là người lạ đã khóc! Có lẽ, một sự hồi tưởng nào đấy đã làm hắn chạnh lòng, và, như Cyrus Smith đã nói, những giọt nước mắt đã thức tỉnh con người trong hắn…
Hai ngày sau cái cảnh ấy, người lạ dường như bắt đầu quan tâm đến cuộc sống của trại di dân. Rõ ràng là hắn nghe hết, hiểu hết, nhưng một mực không muốn nói chuyện với những người chung quanh. Một buổi tối nọ, Pencroff áp tai vào cửa phòng hắn, đã nghe thấy hắn lẩm bẩm:
- Không, không phải họ!
Chàng thủy thủ thông báo lại cho các bạn biết những lời của hắn ta.
- Ở đây ẩn giấu điều bí mật buồn thảm nào đó, - Cyrus Smith nói.
Và cuối cùng, người lạ đã bắt tay làm việc, - hắn bắt đầu đánh những luống đất trong vườn, nhưng thường hay bỏ xẻng và đứng bất động rất lâu, chìm đắm trong những suy tư của mình. Theo lời khuyên của kỹ sư, những người di dân không phá vỡ sự đơn độc mà hắn muốn giữ. Nếu có ai đến gần là hắn bỏ chạy, đôi vai hắn rung lên vì cố nén những tiếng nức nở muốn bật ra.
Có thể là hắn bị lương tâm cắn rứt chăng? Chắc là như vậy. Có lần, không kìm được nữa, Gédéon Spilett đã có nhận xét như sau:
- Hắn im lặng bởi vì hắn phải thú nhận một điều trầm trọng lắm.
Mấy ngày sau, mồng 3 tháng mười một, người lạ đang làm việc bỗng vứt xẻng và Cyrus Smith từ xa đã trông thấy hắn lại khóc. Cố nén lòng thương xót, kỹ sư lại gần hắn và khẽ chạm vào vai hắn.
- Này, anh bạn của tôi! - Ông nói.
Người lạ tránh nhìn ông, còn khi Cyrus Smith định nắm tay hắn, hắn cự tuyệt.
- Anh bạn của tôi, - Cyrus Smith nhắc lại bằng một giọng cứng rắn, - tôi muốn anh nhìn vào mắt tôi.
Người lạ nhìn kỹ sư, phục tùng ý chí của ông, như một người bị thôi miên. Hắn định bỏ chạy. Nhưng nét mặt hắn bỗng thay đổi. Đôi mắt hắn rực lửa. Đôi môi hắn chỉ chực bật ra những lời gì đó. Hắn không thể tự kìm chế được nữa rồi! - Cuối cùng, hắn khoanh chéo tay trước ngực, dịu giọng hỏi:
- Các ngài là ai?
- Chúng tôi cũng bị lâm nạn như anh, - kỹ sư trả lời với niềm xúc động khôn xiết, - Anh đang sống với những người bạn của mình, giữa những con người…
- Giữa những con người… Không, tôi không phải là con người nữa!
- Anh đang sống giữa những người bạn.
- Giữa những người bạn! Tôi không có bạn! - Người lạ kêu lên, hai tay bưng kín mặt. - Không… và sẽ không bao giờ có… Hãy để mặc tôi, hãy để…
Hắn chạy đến tận bờ rìa cao nguyên chênh vênh trên mặt biển và đứng mãi ở đó. Cyrus Smith quay trở lại với các bạn và kể cho họ nghe về tất cả những điều gì đã xảy ra.
- Đúng là trong cuộc đời của con người này có điều bí mật gì đó, - Gédéon Spilett nhận xét, - và, rõ ràng là chỉ có sự cắn rứt lương tâm mới thức tỉnh được con người trong hắn.
- Chúng ta đã đưa về đây một gã kỳ cục thích cô đơn nào đó, - chàng thủy thủ tuyên bố, - Hắn kín miệng quá đi.
- Hắn giữ kín điều gì đó, và chúng ta phải tôn trọng, - Cyrus Smith trả lời một cách rõ ràng. - Nếu hắn phạm tội thì hắn phải đền tội một cách nghiêm khắc và những tội lỗi của hắn sẽ từ giã hắn.
Suốt hai giờ người lạ tha thẩn một mình trên bờ vực; có lẽ, dưới sự dồn nén của những ký ức, trong lòng hắn đã sống lại quá khứ, và, tất nhiên là một quá khứ buồn. Những người di dân vẫn trông thấy người lạ, nhưng họ không định xâm phạm đến cá tính riêng của hắn.
Và đây, sau hồi suy ngẫm dài, hình như hắn đã quyết định điều gì đó và tìm đến Cyrus Smith. Hai mắt hắn đỏ ngầu vì nước mắt, nhưng hắn không khóc nữa. Có cảm tưởng như hắn sợ hãi, sượng sùng; hắn muốn thu mình lại để không ai nhận ra hắn; hắn nhìn gằm gằm xuống đất.
- Thưa ngài, - hắn nói với Cyrus Smith, - ngài và các bạn của ngài là người Anh?
- Không, chúng tôi là người Mỹ.
- Ồ, hóa ra thế, - người lạ thốt lên và khẽ nói thêm: - Càng tốt.
- Thế còn anh, anh bạn của tôi? - Kỹ sư hỏi.
- Người Anh, - hắn nhanh nhẹn trả lời. Rõ ràng là hắn đã chẳng thấy dễ dàng gì khi nói mấy lời ấy, vì ngay lúc đó hắn đã rời khỏi bờ vực, hắn chạy từ thác nước đến cửa sông, và có cảm giác như hắn phát khùng lên vì xúc động.
Một lần nọ, khi đi ngang qua Harbert, hắn dừng lại và hỏi bằng một giọng nghẹn ngào:
- Bây giờ là tháng mấy?
- Tháng mười một, - Harbert trả lời.
- Còn năm?
- Năm một ngàn tám trăm sáu mươi sáu.
- Mười hai năm! Mười hai năm! - Người lạ nhắc lại. Và đột nhiên hắn bỏ chạy đi.
Harbert đã kể lại cho những người di dân nghe câu chuyện ấy.
- Gã tù binh lạ mặt của chúng ta, - Gédéon Spilett nhận xét, - đã quên tính tháng, năm rồi.
- Đúng. - Harbert nói thêm, - nghĩa là ông ta đã sống mười hai năm trên đảo Tabor?
- Mười hai năm! - Cyrus Smith nhắc lại. - Đúng, nếu mười hai năm sống trong sự cô đơn mà lương tâm lại có vết nhơ nữa thì mất lý trí chẳng khó gì.
- Theo tôi, - đến đây Pencroff xen vào, - con người này hoàn toàn chẳng phải bị tai nạn đắm tàu gì đâu, mà đơn giản là người ta đày hắn lên đảo Tabor để trừng phạt vì một tội ác nào đấy thôi.
- Có lẽ anh nói đúng, Pencroff, - nhà báo ủng hộ chàng, - mà nếu vậy thì những người đày hắn lên đảo nhất định sẽ trở lại đưa hắn về.
- Và sẽ không tìm thấy hắn, - Harbert nhận xét.
- Thế nghĩa là cần phải đi sang đảo… - Pencroff nêu ý kiến.
- Các bạn của tôi, - Cyrus Smith nói, - chúng ta sẽ không bàn luận vấn đề này trong khi chưa biết rõ sự tình ra sao. Tôi tin rằng người lạ đã phải chịu đựng nhiều đau khổ, đã phải trả giá ghê gớm cho những tội ác của mình, và đang bị dằn vặt bởi ý muốn thổ lộ nỗi lòng mình với chúng ta. Tạm thời chúng ta sẽ không cưỡng bức anh ta làm điều ấy. Tất nhiên, anh ta sẽ tự kể hết, và khi ấy chúng ta sẽ thấy phải xử sự như thế nào. Vả lại, chỉ có người lạ mới có thể nói cho chúng ta biết anh ta có hy vọng, có tin tưởng rằng đến một lúc nào đó anh ta sẽ trở về tổ quốc không. Bản thân tôi không chắc rằng anh ta sẽ được như vậy.
- Tại sao thế? - Nhà báo hỏi.
- Bởi vì, nếu anh ta bị kết án có thời hạn nhất định thì anh ta đã chờ đợi ngày được trả tự do và đã không viết thư bỏ xuống biển. Không, chắc chắn là anh ta đã bị kết án tù chung thân, bị suốt đời cô độc.
- Có một điều tôi không hiểu nổi, - chàng thủy thủ nhận xét.
- Cụ thể là điều gì?
- Nếu mười hai năm trước đây người ta đày anh ta lên đảo Tabor, thì anh ta đã phải sống nhiều năm trong cảnh hoang hóa như khi chúng ta tìm thấy anh ta!
- Hoàn toàn có thể, - Cyrus Smith nói.
- Vậy ra là anh ta đã viết bức thư từ mấy năm trước rồi!
- Không có gì phải nghi ngờ… song, xét trên mọi mặt thì rõ ràng là bức thư mới được viết gần đây thôi.
- Không có nhẽ từ đảo Tabor sang đảo Lincoln mà cái chai đựng lá thư đã trôi mất những mấy năm trời.
- Chuyện này chẳng có gì phi lý cả, - nhà báo phản đối, - biết đâu cái chai ấy đã được sóng biển đưa đến đảo chúng ta từ lâu rồi thì sao.
- Ồ, không! - Pencroff đáp. - Không thể có chuyện sóng cuốn cái chai ra khỏi bờ được, đừng có tưởng vậy. Bởi vì ở phía nam của đảo toàn những vách đá, nó sẽ bị vỡ ngay lập tức.
- Anh nói đúng, - Cyrus Smith nói và ngẫm nghĩ điều gì đấy.
- Chẳng những vậy, - chàng thủy thủ nói tiếp, - lá thư để trong chai suốt mấy năm nhất định là phải bị ướt nát rồi chứ. Nhưng đằng này nó vẫn giữ được nguyên vẹn.
Nhận xét của chàng thủy thủ hoàn toàn đúng: đấy chính là điều khó hiểu nhất, bởi vì lá thư mà những người di dân nhặt được hình như mới được viết gần đây thôi. Hơn nữa trong đó lại chỉ dẫn chính xác vĩ tuyến và kinh tuyến của đảo Tabor, chứng tỏ người viết thư rất am hiểu về địa lý thủy văn mà một thủy thủ bình thường không thể biết được.
- Chúng ta lại gặp một điều gì đó không giải thích nổi, - cuối cùng, kỹ sư nói. - Nhưng dẫu sao cũng không được thách thức sự thành khẩn của người bạn mới của chúng ta. Anh ta sẽ tự kể hết với chúng ta khi nào anh ta muốn, các bạn của tôi ạ.
Thêm mấy ngày nữa trôi qua, người lạ vẫn không nói một lời nào. Anh ta vẫn làm việc luôn tay ở trong vườn, nhưng cách xa những người khác. Những giờ nghỉ, anh ta không lên Lâu đài đá hoa cương và tự bằng lòng với các thứ rau củ sống, mặc dù được mọi người gọi vào bàn ăn. Anh ta không vào ngủ đêm trong căn phòng được dành riêng cho anh ta, mà lại ngủ dưới cây trên cao nguyên, còn những hôm trời mưa thì lại ẩn náu giữa các vách đá; tóm lại, anh ta sống y như hồi ở đảo Tabor, rừng là chốn nương thân duy nhất của anh ta. Mọi ý định của những người di dân làm thay đổi những thói quen của người lạ đều uổng công vô ích - họ phải sẵn sàng chịu đựng. Và đây, cuối cùng tiếng nói của lương tâm trong anh ta đã vang lên, những lời thú nhận khủng khiếp bất giác đã bật ra từ môi anh ta, dường như dưới tác động của một sức mạnh không gì cưỡng nổi.
Mồng 9 tháng mười một, gần tám giờ tối, khi những người di dân ngồi dưới giàn cây leo xanh trong bóng hoàng hôn, bất ngờ người lạ xuất hiện trước mặt họ. Đôi mắt anh ta ánh lên mới lạ kỳ làm sao, còn trên gương mặt thì lại thấy hiện lên một vẻ hung tợn.
Cyrus Smith và các bạn đều kinh ngạc thấy người lạ hồi hộp đến thế: hai hàm răng anh ta đánh cầm cập như thể bị rét run. Anh ta làm sao vậy? Có thể là anh ta căm thù những con người? Hay là anh ta đã chán sống trong gia đình của những người lao động trung thực? Hay là trong anh ta những bản năng man rợ lại trỗi dậy? Những người di dân đã nghĩ như vậy khi nghe những lời nói thiếu mạch lạc của anh ta:
- Các ông đưa tôi đến đây để làm gì? Các ông lấy quyền gì mà chia lìa tôi với hòn đảo nhỏ của tôi?... Giữa chúng ta có cái gì chung không?... Và các ông có biết tôi là ai; tôi đã làm điều gì không? Vì sao tôi đã phải sống những ngày lay lắt trong cảnh cô đơn?... Thế nếu tôi là người bị trục xuất?... Nếu tôi bị buộc tội chết trên hòn đảo nơi ấy thì sao?... Các ông có biết quá khứ của tôi không? Biết đâu, tôi đã ăn cướp giết người, biết đâu tôi bị ruồng bỏ và mang tì vết đáng nguyền rủa… Nếu như chỗ của tôi chỉ là ở giữa những con thú dữ… xa lánh con người thì sao?... Các ông hãy trả lời đi… các ông có biết tất cả những điều đó không?
Nhưng người di dân đã nghe, không cắt ngang những lời thú tội nửa vời của người lạ hình như đã được tuôn ra ngoài ý muốn của anh ta. Cyrus Smith muốn an ủi người lạ và đã bước lại gần anh ta, nhưng anh ta đã hẩy đi.
- Ông hãy tránh ra! - Anh ta thét lên. - Ông hãy nói một điều thôi… Tôi có được tự do không?
- Phải, anh được tự do, - kỹ sư trả lời.
- Vậy thì vĩnh biệt các ông! - Anh ta kêu lên và chạy bổ đi như một người mất trí.
Nab, Pencroff, Harbert đuổi theo anh ta vào rừng, nhưng không kịp, đã quay trở lại.
- Cứ để cho anh ta hành động theo ý muốn, - Pencroff thốt lên.
- Sẽ trở lại, - kỹ sư khẳng định… - Đấy là sự bùng nổ cuối cùng của một tính cách man rợ không kìm hãm nổi. Nó gây nên bởi sự cắn rứt lương tâm, nhưng bây giờ anh ta sẽ không còn phải chịu đựng nỗi cô đơn nữa…
Trong khi ấy, công việc sản xuất của những người di dân vẫn được tiến hành đúng thời vụ. Những gì đem từ đảo Tabor về đều được đưa vào trại chăn nuôi hoặc đem trồng.
Ngày 15 tháng mười một, những người di dân đã thu hoạch vụ lúa mì thứ ba. Với vụ này họ đã bắt đầu chẳng những cung cấp lúa mì cho bản thân, mà còn cho cả gia súc nữa.
Và thế là, sau khi thu hoạch xong, họ đã bắt tay vào xây dựng một cối xay gió thông thường nhất trên cao nguyên Tầm nhìn. Các dụng cụ có đủ, nên công việc không có gì phức tạp, bởi vì các bộ phận của cối xay cũng thật là đơn giản. Và, ngày mồng 1 tháng mười hai, chiếc cối xay gió đã được hoàn thành. Hôm ấy, đúng lúc gió đông thổi, những người di dân đã xay ngay hai - ba buaso hạt lúa mì. Ngày hôm sau, họ dùng men bia nhào bột và làm ra mẻ bánh mì đầu tiên. Ai nấy ăn bữa trưa đều thấy rất ngon miệng và thỏa mãn…
Nhưng, vẫn không thấy có dấu hiệu gì về sự sống của người lạ cả.
Ngày 3 tháng mười hai, Harbert đi ra bờ hồ phía nam câu cá. Chú không mang vũ khí theo: chẳng có gì đáng sợ cả, vì thú dữ ở vùng này của đảo không thấy xuất hiện.
Trong khi ấy Pencroff cùng với Nab đang làm gì đó ở trại gia cầm, còn Cyrus Smith và nhà báo thì điều chế xút, bởi vì xà phòng của họ đã hết.
Bỗng có những tiếng kêu vang lên:
- Cứu tôi với, cứu tôi với!
Cyrus Smith và nhà báo ở xa quá, không nghe thấy những tiếng kêu. Còn Pencroff cùng với Nab từ trại gia cầm đã chạy bổ ngay ra phía hồ.
Nhưng người lạ đã đang chạy phía trước họ, không ai ngờ đến sự có mặt của anh ta.
Một con báo to đang rón rén đến gần Harbert. Chú bé bị bất ngờ, nép vào cây, còn con vật thì quì xuống đất và chuẩn bị vồ… Đúng lúc ấy, người lạ rút dao ra, lao tới con thú dữ. Con thú quay lại tấn công đối thủ mới.
Cuộc vật lộn diễn ra trong nháy mắt. Người lạ có sức khỏe phi thường và nhanh nhẹn. Một tay anh ta chẹn họng con thú, như xiết gọng kìm, còn tay kia thọc lưỡi dao vào tim nó, bất chấp bị móng con thú cào vào mình.
Con báo ngã vật xuống. Người lạ lấy chân đạp nó ra và, hình như định bỏ chạy, nhưng ngay lúc ấy, những người di dân đã xuất hiện trên bãi “chiến trường”, và Harbert đã lao tới phía anh ta, kêu to:
- Hãy đứng lại, đừng chạy!
Cyrus Smith bước đến chỗ người lạ, thấy anh ta chau mày lại. Máu chảy đầm đìa trên vai anh ta, ướt đẫm chiếc áo bị rách, nhưng hình như anh ta không để ý đến điều đó.
- Anh bạn của tôi, - Cyrus Smith nói, - từ nay chúng tôi mang ơn anh. Suýt nữa anh đã hy sinh cuộc đời của mình để cứu sống đứa con trai của chúng tôi!
- Cuộc đời của mình! - người lạ lẩm nhẩm. - Lẽ nào cuộc đời của tôi đáng giá một cái gì đó sao? Đối với tôi nó để làm gì?
- Anh bị thương ư?
- Chuyện vặt.
- Cho phép tôi được bắt tay anh!
Harbert chạy lại chỗ ân nhân của mình để cảm ơn, nhưng người lạ khoanh chéo hai tay, ngực phập phồng dữ dội, cái nhìn trở nên mơ màng - dường như anh ta đã định chạy đi, nhưng lại cố hết sức kìm chế mình và nói bằng một giọng gay gắt:
- Các ông là ai và các ông cần gì ở tôi?
Rõ ràng là anh ta muốn biết lai lịch của những người di dân. Có thể, sau khi nghe những điều bất hạnh của họ, anh ta cũng sẽ kể về mình chăng?
Cyrus Smith thông báo tóm tắt về tất cả những gì đã xảy ra với họ từ sau khi chạy khỏi Richmond, họ đã thoát nạn như thế nào và xuất hiện trên hòn đảo này ra sao.
Người lạ đã nghe hết sức chăm chú.
Sau đấy, kỹ sư bắt đầu nói về những người bạn của mình - Gédéon Spilett, Harbert, Pencroff, Nab - và nói thêm rằng, niềm vui lớn lao nhất đối với họ kể từ ngày sống trên đảo Lincoln đến nay là ngày “Bonadventur” bơi trở về và họ có người bạn mới xuất hiện.
Sau khi nghe những lời ấy, người lạ đỏ mặt lên và cúi đầu xuống: vẻ khiêm tốn và lúng túng.
- Còn bây giờ, khi anh đã biết chúng tôi rồi, - Cyrus Smith thốt lên, - chúng ta hãy bắt tay nhau!
- Không, không thể như thế được, - người lạ trả lời, giọng khàn khàn, - bởi vì các ông là những người lương thiện, còn tôi…