Bí Mật Đảo Lincoln

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Hai

❊ ❊ ❊

CHƯƠNG HAI

Một cảnh nội chiến ở Mỹ. - Kỹ sư Cyrus Smith Gédéon Spilett. - Người da đen Nab. - Thủy thủ Pencroff. - Chú bé Harbert. - Kiến nghị bất ngờ. - Cuộc gặp mặt lúc mười giờ tối. - Bay vào bão táp.

Những người bị trận cuồng phong quẳng lên bờ biển xa xăm nào đó không phải là những nhà du hành chuyên nghiệp bằng khí cầu hay những người yêu thích du ngoạn trên không. Họ bị bắt làm tù binh và tinh thần dũng cảm chân chính đã thôi thúc họ chạy trốn trong những hoàn cảnh hết sức éo le.

Năm 1865, vào tháng hai. Trong một cuộc tấn công của tướng Uliss Grant[1] nhằm chiếm đoạt thành phố Richmond, có một số sĩ quan của quân đội liên bang bị sa vào tay địch và bị giam giữ ở đó. Một trong số những tù binh đáng chú ý nhất thuộc ban tham mưu của tướng Grant tên là Cyrus Smith.

Cyrus Smith, người gốc bang Massachusetts, nghề nghiệp kỹ sư, là một nhà bác học giỏi bậc nhất: trong thời gian chiến tranh, chính phủ Hợp chủng quốc giao cho ông điều hành những con đường sắt có ý nghĩa chiến lược quan trọng.

Khẳng khiu, xương xẩu, gầy gò, nhìn bề ngoài ông có thể được coi là người Bắc Mỹ chính thống. Mặc đầu ông chưa quá bốn mươi lăm tuổi, nhưng trong những mớ tóc cắt ngắn của ông đã ánh lên những sợi bạc. Cyrus Smith không để râu quai nón, chỉ để ria mép rậm thôi.

Gương mặt của ông làm cho người ta sửng sốt về một vẻ đẹp nghiêm khắc và một hình trông nghiêng sắc nét - những gương mặt như thế dường như được tạo nên để cho người ta tạc vào những tấm huy chương: đôi mắt sáng ngời nghị lực, đôi môi nghiêm nghị ít khi mỉm cười, - tóm lại, Cyrus Smith là hình ảnh của một nhà bác học mang tâm hồn của một người lính. Ông thuộc số những kỹ sư mà khi bắt đầu con đường công danh của mình đã tự nguyện cầm búa và cuốc chim. Giống như các vị tướng đã bắt đầu binh nghiệp từ những người lính trơn. Bởi vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thấy ông không những đầu óc cực kỳ sáng suốt và sắc sảo mà đôi tay cũng rất tháo vát, khéo léo. Hệ cơ bắt phát triển chứng tỏ ông rất khỏe mạnh. Đó là một con người hành động, đồng thời cũng là một nhà tư tưởng: ông hành động một cách tự giác, không bao giờ gò ép mình, là người năng động, tràn đầy nghị lực sống, đặc biệt kiên trì và không bao giờ sợ hãi những sự thất bại có thể xảy ra. Ở ông, những trí thức lớn đã được kết hợp với nếp tư duy thực tiễn và tài xoay xở - như những người lính thường nói - ông đã rèn được cho mình tính tự chủ tuyệt vời, trong bất kỳ tình huống nào cũng không bao giờ ông mất bình tĩnh. Tóm lại, ở ông đã phát triển cao độ ba đặc điểm vốn có của một con người mạnh mẽ: thể lực và tri lực, chí hướng và ý chí mạnh mẽ. Ông đã chọn lời của Guillaume d’Orange nói hồi thế kỷ 17 làm phương châm sống của mình:

“Khi bắt tay vào việc gì đó, tôi không cần hy vọng; khi kiên trì hành động tôi không cần thành công”.

Đồng thời, Cyrus Smith còn là tượng trưng của lòng dũng cảm. Ông đã tham dự tất cả các trận chiến đấu của cuộc nội chiến. Ông đã bắt đầu cuộc đời của người lính dưới quyền chỉ huy của Uliss Grant trong đội quân tình nguyện của bang Illinois, ông đã chiến đấu ở Paducah, Belmont, Pittsburg - Landing, trong trận bao vây Corinth, ở cảng Gibson, ở bên bờ Sông Đen, ở Chattanoga, ở Potamak - và ở đâu ông cũng đều chiến đấu chí cốt, như một người lính, hoàn toàn xứng đáng với tướng Grant, người mà khi trả lời câu hỏi về sự tổn thất đã nói: “Tôi không thống kê số quân lính của mình bị thiệt mạng”. Cyrus Smith đã hàng trăm lần có thể nằm trong số những người mà vị thống soái nghiêm khắc không thông kê, nhưng dẫu dù ông đã không tiếc thân mình trong những trận chiến đấu ấy thì ông vẫn còn gặp may cho đến ngày bị thương ở Richmond và bị bắt làm tù binh.

Cùng với Cyrus Smith bị sa vào tay quân đội phía nam hôm ấy còn có một người nổi tiếng nữa, đó không phải ai khác, mà chính là Gédéon Spilett, đặc phái viên của báo “New York Herald” (Người đưa tin Nữu Ước) được biệt phái vào quân đội của phía bắc để theo dõi những diễn biến của chiến tranh.

Gédéon Spilett thuộc loại những phóng viên khác thường, nhất là những người Anh và người Mỹ, theo gương Stenley và những người tương tự như ông, không chịu khuất phục trước một cái gì, chỉ cốt sao khai thác được những tin tức chính xác về một sự kiện nóng hổi và nhanh chóng báo về tòa soạn của mình. Ở Hợp chủng quốc, những tờ báo lớn như “New York Herald” đã trở thành một lực lượng thực sự, bởi vậy, đối với các đại điện của họ, những “đặc phái viên” phải coi trọng. Gédéon Spilett giữ một trong số những vị trí hàng đầu của các “đặc phái viên” ấy.

Là một con người rất đáng kính, có nghị lực, năng động và kiên quyết, một nhà báo từng đi khắp thế giới, một người lính và một họa sĩ, một trí tuệ hùng mạnh, có khả năng am hiểu mọi vấn đề, bản tính tháo vát, xông xáo, Spilett không sợ vất vả, mệt nhọc, nguy hiểm khi anh ta muốn “biết” một điều gì đó, - trước hết là cho bản thân mình, sau đó, cho tờ báo của mình. Đó là một nhân vật ham hiểu biết thực sự, một người săn tin tức không biết mệt mỏi - săn tất cả những tin tức chưa loan báo, không ai biết, không thể có và khó tin; là một trong những nhà quan sát dũng cảm có thể viết bài dưới tiếng đạn rít, sáng tác dưới tầm đại bác và coi bất kỳ sự mạo hiểm nào cũng là cuộc phiêu lưu hấp dẫn.

Ông ta cũng đã có mặt trong tất cả những cuộc chiến đấu, bao giờ cũng đứng trên tuyến đầu, một tay cầm súng lục, một tay cầm sổ ghi chép, và dưới làn mưa đại bác có chứa bi, chiếc bút chì trong tay ông cũng không hề run. Khác với những phóng viên hùng hồn ngay cả những khi chả có gì đáng nói cả, ông không chiếm đường dây điện báo khẩn, những mỗi tin, bài của ông đều ngắn gọn, chính xác, rõ ràng, bao giờ cũng rọi ánh sáng vào một sự kiện quan trọng nào đó. Tiện thể xin nói thêm: ông ta không hề kém khôi hài đâu. Sau trận chiến đấu bên bờ Sông Đen, vì muốn tìm cách giữ chỗ ở trung tâm điện tín để chuyển về tờ báo của mình kết quả trận chiến đấu, chính ông đã dùng hai giờ liền để điện đi những chương đầu của kinh thánh. Cái mẹo ấy ngốn mất của “New York Herald” hai ngàn đô la, nhưng tờ báo lại nhận được tin tức trước nhất.

Gédéon Spilett vóc người cao và chưa già lắm - mới độ bốn mươi tuổi, không hơn. Hai bên tóc mai màu hung hung. Đôi mắt linh lợi, tinh anh nhìn bình tĩnh và tự tin. Những con mắt như vậy thường thấy ở những người quen thâu tóm được ngay mọi tình tiết của một bức tranh rộng lớn. Thân hình ông đã rắn chắc, lại được tôi luyện trong những chuyến du lịch ở các vĩ độ khác nhau, chẳng khác gì người ta tôi một thỏi thép nung đỏ trong nước lạnh.

Đã mười năm nay Gédéon Spilett là phóng viên thường trú của “New York Herald” và góp phần làm phong phú tờ báo bằng những bài, tin và những hình vẽ của mình. Ông sử dụng tốt như nhau ngòi bút của một nhà văn và cây bút chì của một họa sĩ. Khi bị bắt làm tù binh ông đã miêu tả diễn biến của trận đánh và phác họa. Những dòng ghi chép của ông trong cuốn sổ tay đã bị chấm dứt đột ngột bằng những lời như sau: “Kẻ thù đang nhằm bắn vào tôi và…”. Xạ thủ đã bắn trượt. Gédéon Spilett, vẫn như mọi khi, thoát khỏi trận chiến đấu ác liệt mà không mảy may bị sây sát.

Cyrus Smith và Gédéon Spilett chỉ biết nhau qua lời người ta nói. Cả hai đều được phái đến Richmond. Viên kỹ sư mau chóng được chữa khỏi vết thương và trong thời gian bình phục ông đã làm quen với nhà báo. Họ cảm thấy quý nhau và kết bạn. Chẳng mấy chốc mục đích mà hai người luôn luôn đeo đuổi đã gắn bó họ lại với nhau. Cả hai người đều chỉ mong muốn một điều: chạy trốn, trở về với quân đội của tướng Grant, và tiếp tục chiến đấu cho sự thống nhất liên bang.

Đôi bạn đã quyết định tranh thủ mọi dịp thuận lợi để chạy trốn. Mặc dù ở Richmond họ được sống tự do, song thành phố được bảo vệ nghiêm ngặt, nên việc chạy trốn do đó không thể thực hiện được.

Giữa lúc ấy thì người đầy tớ rất mực trung thành của Smith đã khôn khéo luồn lách tìm được đến chỗ của ông ta. Con người dũng cảm đã được nhìn thấy ánh sáng tự do ở trang trại của cha mẹ viên kỹ sư ấy là một người da đen, con của những người nô lệ và bản thân anh ta cũng là nô lệ. Nhưng Cyrus Smith là người chống chế độ nô lệ, nên đã cho người da đen ấy được tự do. Người nô lệ, sau khi trở thành người tự do, đã không muốn từ giã ông chủ của mình. Anh yêu chủ nồng nàn và sẵn sàng chết vì chủ. Người da đen ấy đã ba mươi mốt tuổi, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tháo vát và sáng dạ, nhu mì và bình tĩnh, đôi lúc rất ngây thơ, luôn luôn tươi cười, hiền lành và hay giúp đỡ mọi người. Anh tên là Nabuchodonosor, nhưng lại không thích cái tên hoa mỹ ấy và ưa được gọi bằng cái tên thân quen từ bé là Nab.

Sau khi hay tin ông chủ bị bắt làm tù binh, Nab đã không do dự rời ngay Massachusetts, tìm đến Richmond và, bằng đủ mọi mưu kế, hai mươi lần liều mạng mới đột nhập được vào thành phố bị bao vây. Không lời nào có thể diễn đạt nỗi niềm sung sướng của Cyrus Smith khi ông trông thấy người hầu của mình, và niềm hạnh phúc của Nab khi anh liên lạc được với ông chủ yêu quí.

Thế là Nab đã lọt được vào Richmond, nhưng thoát ra khỏi nơi đây thì lại khó hơn nhiều, vì số tù binh của quân đội liên bang bị giám sát rất ngặt nghèo. Muốn chạy trốn, mặc dù hy vọng trót lọt rất mỏng manh, thì phải đợi dịp hiếm hoi, nhưng những dịp như thế mãi vẫn chưa đến, mà tạo ra được dịp đâu phải dễ dàng.

Trong khi ấy, tướng Grant tiếp tục tiến hành những hành động quân sự có tính chất quyết định. Trong trận kịch chiến với quân phía nam ở Petersburg ông đã giành được thắng lợi. Nhưng liên quân của ông và của Butler vẫn chưa thể đạt được điều gì trong cuộc bao vây Richmond và chưa có gì báo hiệu sắp giải thoát được tù binh cả. Cuộc sống đơn điệu của người tù chẳng có gì để cho phóng viên viết được, vì vậy, ông đã không đủ sức chịu đựng nữa. Ý nghĩ chạy trốn khỏi Richmond, trốn bằng bất kỳ giá nào, cứ ám ảnh ông hoài. Đã mấy lần ông định thực hiện điều ấy mà không được: có nhiều trở ngại không thể khắc phục nổi.

Cuộc bao vây thành phố vẫn tiếp diễn, và nếu những người tù binh khao khát chạy trốn khỏi đó để trở lại quân đội của tướng Grant, thì lại có những người bị bao vây rất muốn rời khỏi Richmond để về với quân đội của phái phân lập; trong số những người lính ấy có cả Forster - một người rất mực trung thành với quân đội phương nam. Thật ra, nếu những tù binh của quân đội liên bang không thể thoát khỏi thành phố thì cả những người theo phái phân lập cũng không thể làm được điều đó, bởi vì quân đội phương bắc đã bao vây thành phố từ các phía. Thị trưởng Richmond đã từ lâu mất liên lạc với tướng Lee, mà điều cực kỳ quan trọng là làm sao thông báo được cho ông ta biết tình hình trong thành phố và yêu cầu nhanh chóng điều quân đến cứu viện những người bị bao vây. Thế là Jonathan Forster nảy ra ý định ngồi lên nôi của một khí cầu để bay khỏi Richmond, vượt qua tuyến quân đội bao vây để tìm đến bản doanh của quân đội phân lập.

Viên thị trưởng cho phép thực hiện ý đồ ấy. Một quả khinh khí cầu đã được chuẩn bị và giao cho Jonathan Forster sử dụng để hoàn thành một cuộc hành trình trên không với năm người cùng đi. Các nhà du hành bằng khí cầu được trang bị vũ khí phòng khi đỗ xuống mặt đấy đụng độ với quân địch sẽ phải chiến đấu để tự vệ. Họ còn được dự trữ lương thực phòng khi phải bay quá lâu trong không trung.

Chuyến bay được ấn định vào ngày 18 tháng ba, lúc ban đêm, khi gió tây bắc bắt đầu thổi. Các nhà du hành dự tính sau vài giờ sẽ bay đến văn phòng bộ tham mưu của tướng Lee.

Nhưng gió tây nam hóa ra lại khác so với dự kiến. Ngày 18 tháng ba, ngay từ sáng đã thấy rõ một cơn bão đang đến. Và chẳng bao lâu một trận cuồng phong đã nổi lên, khiến chuyến bay của Forster phải hoãn lại, bởi vì thả một khinh khí cầu với năm nhà du hành trong lúc đang có thiên tai thế này rất nguy hiểm.

Quả khí cầu bơm đầy hơi được để tại quảng trường chính của Richmond, sẵn sàng bay lên ngay khi bão yên, và cả thành phố đều nóng lòng chờ đợi sự lắng yên ấy, vậy mà thời tiết vẫn không thấy khá hơn.

Ngày mười tám và mười chín tháng ba, bão nổi lên không lúc nào ngớt. Khó khăn lắm người ta mới giữ cho quả khí cầu được neo bằng những sợi dây cáp ấy khỏi bị những cơn bão giật đè xuống sát mặt đất.

Đã qua đêm mười chín rạng ngày hai mươi, nhưng sáng ra, bão lại càng mạnh hơn. Không thể nào bay được.

Ngày hôm ấy, có một người lạ nào đấy đi trên phố đã đến gặp kỹ sư Cyrus. Đó là một thủy thủ chừng ba mươi lăm hoặc bốn mươi, tên là Pencroff, cao lớn, rắn chắc và sạm nắng, đôi mắt linh lợi, gương mặt hiền hậu. Anh ta là người gốc quê Bắc Mỹ, đã từng chu du khắp các biển, chịu đựng đủ mọi cảnh cùng cực, từng trải nhiều cuộc phiêu lưu lạ thường mà một người ở trên cạn nào khác nằm mơ cũng không thấy. Khỏi cần nói, đó là một người tháo vát, một người gan dạ, không sợ bất cứ điều gì. Đầu năm 1865, Pencroff từ New Jersey có việc đến Richmond cùng chú bé mười lăm tuổi Harbert Brown, con trai người thuyền trưởng của anh ta: chú bé mồ côi cha. Pencroff yêu chú bé ấy như con đẻ. Trước khi thành phố bị bao vây, anh đã không kịp thoát ra khỏi đó, và thật là đau khổ, anh đã bị giam hãm ở Richmond. Bây giờ anh cũng có một nguyện vọng: chạy trốn trong bất kỳ trường hợp nào. Pencroff đã từng nghe nói về kỹ sư Cyrus Smith; anh biết rằng con người kiên quyết ấy đang khao khát được tự do. Và đây, đến ngày bão thứ ba, anh đã mạnh dạn đến gặp Smith và hỏi không cần rào trước đón sau gì hết:

- Thưa ngài Smith, ngài không ngán cái thành phố Richmond quỉ quái này sao?

Viên kỹ sư nhìn chằm chằm người lạ mặt vừa bắt chuyện với ông, còn Pencroff thì khẽ hỏi thêm:

- Thưa ngài Smith, ngài có muốn chạy trốn không?

- Bao giờ? - Viên kỹ sư lên tiếng ngay, và có thể nói chắc chắn rằng câu trả lời ấy đã bật ra từ lưỡi ông một cách vô tình, bởi vì, ông thậm chí cũng chưa kịp quan sát người lạ mặt vừa nói với ông lời đề nghị ấy.

Tuy nhiên, sau khi nhìn kỹ vào gương mặt cởi mở của người thủy thủ, ông không hề nghi ngờ rằng mình đang gặp một con người trung thực.

- Ông là ai? - Ông hỏi nhát gừng.

Pencroff nói tóm tắt về mình.

- Tuyệt diệu! - Smith nói. - thế ông dự định chạy trốn bằng cách nào?

- Thế này nhé, quả khí cầu để đây vô tích sự, dường như cái đồ vô công rồi nghề ấy cố ý chờ đợi chúng ta đấy!

Pencroff không cần đi vào những chi tiết. Viên kỹ sư hiểu ý anh ngay. Ông ta khoác tay người thủy thủ dẫn luôn về nhà mình.

Pencroff đã kể lại cho Smith nghe kế hoạch của mình. Mọi việc rất đơn giản. Tất nhiên như vậy là mạo hiểm, nhưng biết làm sao được! Bão tố rõ ràng là đang hoành hành, gầm thét hết mức, nhưng một kỹ sư giỏi giang và dũng cảm như Cyrus Smith sẽ biết điều khiển thành thạo một con tàu khí cầu. Nếu như anh ta, Pencroff, biết điều khiển quả khí cầu này thì tất nhiên anh ta đã không do dự cho Harbert cùng bay đi rồi. Trong đời của thủy thủ của mình Pencroff đâu phải chưa lần nào gặp bão! Bão như thế này đâu có làm anh ngạc nhiên!

Cyrus Smith im lặng nghe, nhưng đôi mắt ông sáng lên. Tình huống thuận lợi là quả khí cầu này đây. Không lẽ lại bỏ qua. Kế hoạch rất mạo hiểm, nhưng chính vì vậy nó mới hoàn toàn có thể thực hiện được. Mặc dù có bảo vệ, nhưng về ban đêm vẫn có thể lẻn đến quả khí cầu, chui vào nôi, sau đó cắt đứt các sợi dây cáp neo! Dĩ nhiên, có thể mất mạng như chơi, nhưng cũng có thể là mọi việc sẽ trót lọt, nếu không có trận bão này. Mà đã không có trận bão này thì quả khí cầu đã bay đi từ lâu rồi, chứ đâu còn cơ hội thuận lợi như thế này nữa?

- Tôi không phải chỉ có một mình! - Kỹ sư vắn tắt kết thúc bằng lời những điều suy nghĩ của mình.

- Ngài muốn mang theo bao nhiêu người? - Người thủy thủ hỏi.

- Hai - anh bạn Spilett của tôi và người đầy tớ Nab.

- Vậy là ngài có ba người. - Pencroff nhận xét, - còn tôi và Harbert nữa. Cộng tất cả là năm người. Nhưng khí cầu được dự trù cho sáu người bay.

- Tuyệt lắm. Chúng tôi sẽ bay! - Cyrus Smith thốt lên.

Ông ta nói “chúng tôi” có nghĩa là hứa hẹn thay cho cả nhà báo. Thật vậy, Gédéon Spilett là một người gan dạ; khi được biết về kế hoạch dự định, anh ta hưởng ứng liền. Anh chỉ ngạc nhiên là tự bản thân anh đã không nghĩ ra được cái ý đơn giản như thế. Còn nói về Nab thì anh ta sẽ đi theo chủ đến khắp mọi nơi mà chủ muốn.

- Có thể là trước khi trời tối, - Pencroff nói - cả năm người chúng ta cùng la cà quanh quả khí cầu, làm bộ như tò mò đứng xem.

- Trước lúc trời tối, - Cyrus Smith khẳng định, - chúng ta sẽ gặp nhau vào lúc mười giờ. Cho dù đến lúc chúng ta bay bão vẫn chưa tan!

Pencroff tạm biệt kỹ sư và trở về phòng mình, ở đó chú thiếu niên Harbert Brown đang đợi anh. Chú bé dũng cảm đã biết những ý đồ của người thủy thủ và bình tĩnh chờ đợi kết quả câu chuyện của anh với viên kỹ sư.

Bão táp vẫn chưa ngớt, vì vậy cả Jonathan Forster lẫn những người bạn đường của ông ta đều đã không thể đến được cái nôi khí cầu mỏng manh. Thời tiết suốt ngày thật là khủng khiếp. Viên kỹ sư chỉ sợ một điều là: vỏ khinh khí cầu bị gió ép sát mặt đấy sẽ vỡ tung ra thành ngàn mảnh, Smith đã hàng giờ bách bộ trên quảng trường hầu như không một bóng người, vừa đi vừa quan sát quả khí cầu. Pencroff cũng làm như thế, hai tay đút túi quần, anh đi đi lại lại trên quảng trường, thỉnh thoảng ngáp vặt, làm như anh ta quá bộ đến đây vì chẳng biết làm gì và không biết làm sao để giết thời gian. Kỳ thực Pencroff cũng nơm nớp lo vỏ khí cầu sẽ vỡ tung hoặc giả những sợi dây cáp bị đứt và quả khí cầu sẽ bay vút lên trời mất.

Trời đã bắt đầu tối. Màn đêm buông xuống mịt mùng. Làn sương dày đặc là là trên mặt đất như những đám mây. Mưa rơi xen lẫn tuyết. Trời trở lạnh ngay. Richmond như có màn đêm ẩm ướt nào đấy trùm lên. Dường như cơn bão điên cuồng đã tạo nên cuộc ngưng chiến giữa những người bao vây và những người bị bao vây. Ngay cả trên quảng trường, nơi quả khí cầu bị gió quất tơi bời, cũng không một bóng người; người ta cho rằng không cần thiết phải bảo vệ nó trong lúc thời tiết hung dữ như thế này.

Như vậy là mọi việc đều thuận lợi cho việc chạy trốn của các tù binh nhưng còn cuộc du hành khủng khiếp thì sao đây? Làm sao có thể phó thác số phận cho những cơn thiên tai dữ dội được?

- Thời tiết chẳng can chi! - Pencroff lẩm bẩm, rồi nắm tay đập vào mũ cho nó sụp xuống chắc hơn.

- Không sao hết! Bằng các nào đấy ta sẽ liệu được tuốt thôi.

Lúc chín giờ rưỡi, Cyrus Smith và những người cùng đi từ các ngả lẻn đến quảng trường; trời tối đen như mực, vì gió đã thổi tắt hết mọi ngọn đèn thắp bằng hơi đốt. Cả đến hình dáng quả khí cầu to tướng bị gió thổi tạt sát đất cũng không nhìn thấy đâu. Ngoài các bao tải trọng vật được buộc vào lưới bảo hiểm ra, nôi khí cầu còn được giữa bằng một sợi cáp chắc chắn luồn qua một cái vòng sắt chôn xuống mặt đường, hai đầu dây cáp được buộc vào chiếc nôi đan.

Năm người tù binh đã gặp nhau ở sát bên nôi khí cầu ấy. Không ai trông thấy họ cả - trời tối mịt đến nỗi chính họ cũng chẳng nhìn thấy nhau.

Cyrus Smith, Gédéon Spilett, Nab và Harbert, chẳng nói chẳng rằng, trèo lên nôi khí cầu, còn Pencroff trong khi đó thì lần lượt tháo từng bao tải trọng vật ra theo sự hướng dẫn của viên kỹ sư. Chỉ sau mấy giây đồng hồ người thủy thủ ấy đã nhập chung vào với những người bạn của mình.

Bây giờ quả khí cầu chỉ còn một sợi dây cáp giữ nữa thôi, và Cyrus Smith chỉ còn việc ra lệnh cho nó bay lên.

Bỗng lúc ấy có một con chó nhảy vào trong nôi khí cầu. Đấy là con Top, con chó cưng của viên kỹ sư. Nó đã giằng đứt xích và chạy theo chủ. Sợ con chó sẽ làm tăng thêm trọng tải vô ích, Cyrus Smith đã định đuổi nó xuống.

- Không sao cả, ta mang cả con chó theo! - Pencroff nói và quẳng bớt hai bao cát ở trong nôi ra.

Sau đó anh ta tháo dây cáp và quả khí cầu vụt bay chếch lên trời, đụng vào hai cột ống khói.

Trận bão đã hoành hành với mức độ dữ dội nhất của nó. Ban đêm, chẳng thể nào nghĩ đến chuyện hạ xuống đã đành, nhưng lúc ban ngày thì lại không nhìn thấy gì hết, vì màn sương mù bao phủ dày đặc. Mãi sang ngày thứ năm, qua một luồng ánh sáng rọi xuyên những lớp mây đen bên dưới khí cầu đang bị gió xô đẩy với tốc độ kinh khủng, những người chạy trốn mới nhìn thấy biển.

Như bạn đọc đã biết, trong số năm người ngày 20 tháng ba ngồi lên khí cầu để trốn đi thì bốn người ngày 24 tháng ba đã bị bão quẳng lên một vùng bờ biển hoang vắng, cách Richmond[2] sáu ngàn dặm, còn người bị mất tích mà trước hết những người sống sót lo tìm cứu thì không phải ai khác, đó chính là Cyrus Smith - người đã trở thành thủ lĩnh của họ một cách hoàn toàn tự nhiên.

❀ ❀ ❀

[1] Uliss Grant (1822 - 1885) – tướng Mỹ, trong cuộc nội chiến ở Mỹ năm 1861 – 1865 là tổng tư lệnh của quân đội phía Bắc, tổng thống thứ 18 của Mỹ (1869 – 1877).

[2] Ngày 5 tháng tư, tướng Grant đã chiếm được Richmond, cuộc nổi loạn của phái phân lập đã bị dẹp. Tướng Lee đã rút lui về phía tây, và sự nghiệp thống nhất nước Mỹ đã toàn thắng. (Ghi chú của tác giả).

t bản: 1988 Số trang: 383 Giá tiền: -- Đồng Khổ: 13 x 19 cm Đánh máy: Yến Chi, Thùy Trâm, Đỗ Quyên, Minh Nhật, Phương, Vân Anh Kiểm tra: Thảo Đoàn Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 19/03/2011 Making Ebook Project #110– www.Bookaholic
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.