Đại Tần Đế Quốc 2: Quốc Mệnh Túng Hoành

Lượt đọc: 182 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết Thứ Sáu
Lăng Viên Họ Trương Trong Sương Thu Mờ Ảo

❊ ❊ ❊

Gió thu chợt nổi, thung lũng sông Thấu Thủy ngập một màu vàng úa, quạnh quẽ tiêu sơ.

Từ khi nước Ngụy dời đô về Đại Lương, cái thung lũng săn bắn ở vùng ngoại ô An Hợp này liền hết năm này qua năm khác lạnh lẽo. Vương công quý tộc cùng hào phú cự thương, đều theo vương thất nam hạ về Đại Lương, sự phồn hoa phú quý của An Hợp thế mà tiêu tan như mộng ảo. Nước Tần đoạt lại vùng cao địa Hà Tây, chiếm cứ cửa ải Ly Thạch ở Hà Đông, An Hợp không còn cửa ải phía bắc, cũng mất đi thiên hiểm đại hà; nước Triệu chiếm cứ vùng núi Thượng Đẳng, mặt đông bắc của An Hợp cũng hoàn toàn mở toang. Chợt nghe, tòa đô thành đệ nhất thiên hạ ngày xưa ấy, thế mà lại thành một cô bảo chốn biên tái khói lửa bốn bề! Nhân dân giảm sút lớn, thương khách dừng chân, những sơn trang săn bắn rải rác như sao buổi trong thung lũng Thấu Thủy, cũng trở thành những đống phế tích nhện giăng bụi phủ cáo thỏ ra vào. Mỗi khi trăng sáng treo cao, tiếng hổ gầm vượn hú trong thung lũng lại theo làn gió thung lũng hiu hắt truyền đi xa, cho dù là thợ săn thế gia, cũng không dám bước chân vào thung lũng này vào ban đêm.

Chính trong một đêm trăng như thế, trong rừng thông sâu thẳm của thung lũng lại đang sáng một ngọn đèn. Trên con đường nhỏ trong rừng, một bóng dáng mảnh khảnh đang bước về phía ánh đèn. Càng đi càng gần, một ngôi mộ lớn trong rừng thông cùng một ngôi nhà tranh bên cạnh ngôi mộ đã có thể nhìn thấy rõ ràng.

— Ái chà! Trương huynh mau tới! — Bóng dáng mảnh khảnh kinh kêu nhảy dựng lên.

Một bóng người cao lớn xách kiếm xông ra khỏi nhà tranh:

— Phi Vân, đừng sợ!

— Rắn! Ái chà, to quá! Chạy mất rồi chạy mất rồi! — Bóng dáng mảnh khảnh kinh hô thở dốc.

Bóng người cao lớn ngửa mặt cười lớn:

— Rắn gió thu, rồng quấn một đường, tha cho nó đi.

— Ái chà! Ta lại cứ giẫm phải, vừa cứng vừa trơn! Phỉ phỉ phỉ, một mùi tanh tưởi.

— Em đấy, sau này ban đêm đừng tới nữa, đói không chết được Trương Nghi ta đâu.

— Ái chà, chỉ biết nói nhảm! Ngoài rắn ra ta chẳng sợ gì cả. Mau vào đi, bánh vẫn còn nóng đấy vừa nói vừa kéo Trương Nghi đi vào nhà tranh. Đây là một gian nhà tranh lăng viên vô cùng thô sơ, cửa bằng nan tre đan, phía sau treo một tấm rèm vải thô khổ rộng màu mộc làm màn chắn gió. Trong phòng rộng chừng một trượng vuông, trên chiếc chiếu lốt bồ đoàn ở góc phòng tránh gió có một chiếc chăn bông, chính là giường nằm rồi. Ngoài ra, hai chiếc rương sách đầy ắp, một phiến đá xanh gác trên hai gốc cây cổ thụ làm bàn sách, một thanh kiếm Ngô Câu treo trên tường, chính là toàn bộ đồ đạc trong gian nhà tranh này. Phi Vân đặt chiếc giỏ xách lên bàn đá xanh, vén tấm vải phủ, thong thả lấy từ trong giỏ ra một bói vải đựng cơm mở ra, hóa ra là một chồng bánh nướng bốc nghi ngút khói, lại lấy ra một bói cơm nữa mở ra, thì ra là một miếng thịt kho tàu đỏ bóng.

— Cha mẹ ơi, thơm quá! Thịt gì thế? — Trương Nghi treo Ngô Câu lên, hưng phấn xoa xoa hai tay.

— Đoán xem. — Phi Vân lại lấy ra một bói tép tỏi nhỏ bóc vỏ trắng phau: — Ái chà! Không biết rồi chứ gì. — Trương Nghi không thèm lại gần miếng thịt kho tàu, chỉ đứng hít hà vươn mũi ngít một cái thật mạnh, chợt vỗ tay: — Thịt thỏ! Không trật đi đâu được.

— Ái chà, ăn đồ rừng thành tinh rồi, đoán một phát ăn ngay. — Phi Vân cười tinh nghịch: — Mau ăn đi, tranh thủ lúc nóng.

Trương Nghi nuốt nước miếng cười thanh thản:

— Không phải ăn thành tinh đâu, mà là đói thành tinh rồi. — Vừa nói vừa tiện đà quỳ một chân, một tay chộp lấy thịt thỏ kho, một tay chộp lấy bánh nướng nóng hổi chấm mấy tép tỏi, hổ lang nuốt chửng ăn ngấu nghiến.

— Trương huynh, có người muốn thuê nhà cũ của chúng ta làm thương quán, anh nói có kỳ lạ hay không? — Phi Vân vừa quét nhà vừa nói.

— Thế nào thế nào? — Trương Nghi quệt miệng cười: — Kinh doanh cái quái gì mà lại mò đến tận chốn thâm sơn cùng cốc thế này? Quả thực là một chuyện lạ. — Lại có thêm một chuyện nữa, một người trẻ tuổi mang theo một chú tiểu đồng, cũng dọn vào nhà cũ của chúng ta rồi. Ái chà, anh đừng vội, nghe em nói đây. — Phi Vân nhặt chiếc ấm sành trên giá gỗ góc phòng rót cho Trương Nghi đầy một bát nước trà lạnh, cười nói: — Hôm ấy em đi vào trong hẻm núi hái rau dại, lúc về nghe Trương đại gia nói: Một vị công tử đi thăm họ hàng xa bị lạc đường, lại bị phát sốt, xin ngủ nhờ một đêm. Trương đại gia thấy động lòng trắc ẩn, liền cho ngài ấy ở lại. Em không yên tâm, đặc biệt đi xem thử, vị công tử đó quả thực là đang phát sốt. Em thấy ngài ấy tướng mạo tuấn tú, người cũng hòa nhãn, không giống kẻ ác, cho nên cũng không nói gì. Ai ngờ đã ba ngày rồi, cơn sốt của ngài ấy vẫn chưa thấy lui. Chú tiểu đồng ngoài việc sắc thuốc cho ngài ấy mỗi ngày ra, còn ra ngoài đi săn. Tiểu đồng nói săn được thú vật để lâu ăn không ngon, muốn chúng ta ngày nào cũng được ăn. Mấy ngày nay ngày nào cũng có thịt. Anh xem chuyện này thế nào? — Trương Nghi trầm ngâm hỏi:

— Thương nhân muốn thuê nhà cũ cũng đã đến rồi ư?

— Ái chà, vẫn chưa đâu. — Phi Vân cười nói: — Em không đồng ý. Hắn ta cũng nói chủ nhà của bọn họ vẫn chưa định đoạt, mấy hôm nữa lại đến xem, chủ nhà mà chốt rồi thì sẽ nói giá với em, còn nói bảo đảm em vừa lòng cơ.

Trương Nghi ừng ực uống cạn một bát nước trà lạnh, nửa ngày không nói câu nào. Hai chuyện này đến thật kỳ quặc, nhưng trong chốc lát cũng không nói rõ điểm nghi vấn nằm ở đâu? Nếu là mười mấy năm trước, ngoài thành An Hợp kia thương nhân nườm nượp, người thuê nhà dân, đêm ngủ chốn ngoại ô vốn dĩ là chuyện vô cùng bình thường. Nhưng mà nay, cái An Hợp này đã biến thành thành cô quạnh chốn hoang dã, thế mà đột nhiên lại có người đến kinh doanh, có người đến trọ, quả thực là hiếm thấy! Thế nhưng, chuyện thiên hạ vốn dĩ không có gì là bất biến, nếu có thương khách bỗng nổi hứng kỳ lạ, muốn đến đây hái thuốc săn thú thì cũng chưa biết chừng; còn như có người bệnh dọc đường xin trọ, cũng không phải là chuyện hoang đường vô lý, chính Trương Nghi chẳng phải cũng từng nhiều lần trọ ở nhà nông chốn sơn dã hay sao? Nghĩ như vậy, hình như lại không đáng kinh ngạc sinh nghi. Cho dù có giải thích thế nào đi nữa, đám mây mù nghi hoặc trong lòng Trương Nghi vẫn cứ xua đi không hết, đến bản thân Trương Nghi cũng cảm thấy khó tin. Cuối cùng, Trương Nghi hạ quyết tâm:

— Cứ để họ tự nhiên, chỉ là phải cẩn trọng hơn chút, âm thầm để ý quan sát.

— Ái chà, em cũng có suy nghĩ giống vậy. Anh yên tâm, không ai có thể thoát khỏi đôi mắt của em đâu.

Trương Nghi cười:

— Trong lòng nắm chắc là được. Đi thôi, anh tiễn em xuống núi. — Vừa nói vừa tháo thanh Ngô Câu xuống, tiện tay kéo cửa nan tre, cùng Phi Vân ra khỏi nhà tranh. Phi Vân đỏ bừng mặt cười nói:

— Không cần tiễn đâu, em không sợ đâu ái chà.

Trương Nghi cười:

— Em không sợ, nhưng anh lại muốn ra ngoài đi dạo đấy chứ. — Phi Vân vui vẻ ôm lấy cánh tay Trương Nghi:

— Cần phải đi dạo rồi. Ái chà, kiếm Ngô Câu của anh luyện thế nào rồi? Đã biết dùng chưa?

Trương Nghi đầy hứng khởi nói:

— Cây kiếm Ngô Câu này của nước Việt, quả thực không dễ luyện chút nào, nếu không nhờ anh còn xem như thông hiểu kiếm khí, thì thật chẳng có cách nào với nó cả.

Phi Vân bĩu môi cười:

— Đó là đương nhiên, Trương huynh đệ nhất thiên hạ ái chà!

Trương Nghi ngửa mặt cười to:

— Cái đồ tiểu tử nhà em! Lại hùa theo anh mà nức nở hả. — Phi Vân cũng cười khanh khách đến ngả nghiêng. Vừa nói vừa đã đến cửa khẩu, ánh đèn của ngôi nhà cũ dưới chân núi đã lấp lánh nhìn từ xa. Trương Nghi đứng trên đỉnh núi, nhìn trân trối Phi Vân khuất dần vào trong bóng tối của ngôi nhà cũ, bấy giờ mới quay người, vốn dĩ định quay về nhà tranh, lại không kìm lòng được mà cất bước đi dọc theo thung lũng xuống dưới. Bầu trời trong xanh, trăng sáng rực rỡ. Sóng nước Thấu Thủy vỗ vào đống đá hỗn độn hai bên bờ, tiếng hổ gầm sói tru theo gió núi thoắt ẩn thoắt hiện truyền đến, đều khiến cho đêm thu chốn sơn cốc này giữa chốn u tĩnh lại tăng thêm mấy phần tiêu điều.

Trương Nghi quá đỗi quen thuộc với thung lũng Thấu Thủy này rồi, ký ức thời thơ ấu, nỗi khốn đúc của gia tộc, sự long đong lận đận của chính mình, đều cắm rễ sâu thẳm trong thung lũng này. Thế nhưng, thung lũng này để lại cho anh dấu ấn sâu sắc nhất, vẫn là cái chết đột ngột của người mẹ.

Thuở ấy, Trương Nghi trốn chạy khỏi Vân Mộng Trạch nước Sở trong đêm, cùng Phi Vân một đường đi về phía bắc, vào đến ngoài đất Hà thì đã là mùa đông. Lúc trốn khỏi Vân Mộng Trạch, đôi chân bị đánh trọng thương của Trương Nghi vốn dĩ đã chưa lành hẳn. Mấy tháng trời đi bộ lặn lội, vết thương lúc lành lúc phát, đành phải chống một chiếc gậy gỗ đi khập khiễng bước đi vô cùng khó khăn. Nếu không có sự kiên cường chống đỡ của Phi Vân, Trương Nghi thật không biết liệu mình có ngã gục đột ngột ở chốn núi hoang rừng thẳm nào không?

Lúc đi ngang qua vùng ngoại ô Lạc Dương, vết thương ở chân Trương Nghi tái phát, ngã vật ra bên đường. Một lão nhân đang cày bừa trên đồng ruộng coi họ là lưu dân do nạn đói, tốt bụng giữ họ lại ở tạm trong một căn nhà ruộng bỏ hoang. Trong căn nhà ruộng bốn bề lùa gió ấy, tự Trương Nghi hái mấy vị thuốc nam, bảo Phi Vân cầm thanh kiếm Ngô Câu mà nước Việt tặng cho mình, đến thành Lạc Dương bán lấy tiền bốc thuốc. Phi Vân đi rồi, cũng bốc thuốc rồi, nhưng cũng mang cả thanh kiếm Ngô Câu nước Việt ấy trở về. Phi Vân nói với anh là đã gặp được một chủ cửa hàng tốt bụng, không lấy tiền.

Đêm khuya thanh vắng, Trương Nghi đau vết thương không thể chợp mắt, nhìn thấy Phi Vân mặc nguyên quần áo cuộn tròn ngủ thiếp đi bên cạnh, chiếc khăn trùm đầu đã rơi ra từ lúc nào, cái đầu tròn vo dưới ánh trăng lại xanhh ngắt một màu! Đưa tay sờ thử, đến một sợi tóc cũng không còn!

Chợt chốc, nước mắt trào dâng đầy khóe mắt Trương Nghi. Một đầu tóc đen mượt, đối với một thiếu nữ tuổi đang thì xuân sắc, có nghĩa là vẻ đẹp quyến rũ, có nghĩa là đại trinh đại hiếu đại tiết, lại càng có nghĩa là sự tưởng niệm lâu bền đối với cội nguồn sự sống. "Thân thể tóc da, thụ chi phụ mẫu, mảy may không được tổn hủy!" Nam nhân danh sĩ còn như vậy, huống chi là một nữ nhân? Thế nhưng, để trị thương cho anh, Phi Vân thế mà lại đem bán sạch mái tóc xanh...

Ngay vào khoảnh khắc đó, Trương Nghi gạt đi giọt nước mắt, trong lòng thầm thề một lời thề.

Lúc trở lại thung lũng quen thuộc này, chính là ngày đông tuyết bay trắng trời. Nhìn thấy cảnh tượng tiêu sơ hoang vu trước cửa nhà cũ, lòng Trương Nghi bỗng thắt lại! Mẫu thân là người tề gia nghiêm cẩn, dẫu cho sự giàu có không còn, nhưng tiểu khang trang viên xưa nay vẫn luôn ngăn nắp đâu vào đấy. Thế nhưng hiện giờ, hai hàng cây lớn trước cửa đều biến thành những gốc cây trơ trụi, con đường xe chạy lát phiến đá xanh cũng tàn tạ lởm chởm, ngôi nhà cổng gạch xanh cao rộng bề thế ấy thế mà lại biến thành gian nhà tranh thấp lè tè cũ nát! Thuở ấy, Trương Nghi hầu như không dám gõ cửa, anh không biết, thứ đang đón chờ anh sẽ là gì? Anh nhớ rất rõ, lúc Phi Vân gõ mở cánh cửa nhà, lão quản gia Trương đại gia nhìn thấy anh liền lao vào ôm lấy khóc òa lên! Hai chân Trương Nghi chốc lát mềm nhũn, ngã khụy xuống giữa nền tuyết trắng...

Lúc anh loạng choạng lao vào linh đường của mẫu thân, anh phát ra một tiếng tru thê thảm như loài sói, lao đầu vào bàn thờ rồi ngất lịm đi! Sau này, Trương đại gia kể lại: Năm đó Ngụy Triệu giao chiến, tàn quân nước Ngụy cướp phá thung lũng Thấu Thủy, chặt cây nấu củi còn dỡ cả nhà cửa cổng ngách; may mà chủ mẫu quen biết một vị thiên phu trưởng, mới tránh được cho ngôi nhà cũ một kiếp nạn lớn hơn; từ đó về sau, chủ mẫu bệnh liệt giường, chưa đầy nửa năm đã qua đời; trước lúc lâm chung, chủ mẫu lấy ra một chiếc hộp gỗ, chỉ nói một câu duy nhất: "Giao cho Nghi nhi, có lẽ, nó vẫn sẽ quay về."

Điều đọng lại nỗi đau nhói suốt đời trong lòng Trương Nghi, chính là dặn dò mấy dòng của mẫu thân: "Nghi nhi, hoàng tuyền như thế, chớ vì mẹ mà bi thương. Nhân thế đa nan, tự cường vi bản, nhược hữu khảm kha, vô đắc khí nuy. Hậu viện thụ hạ thạch quật, tàng đắc hứa đa kim ngọc, nhi đương vu tuyệt cảnh thời khai khải cầu sinh. Mẫu tự."

Đào tung cái hang đá dưới gốc cây lớn ở hậu viện ra, Trương Nghi lấy chiếc hộp sắt nhỏ đã hoen rỉ sét nát kia ra, mở ra xem, ngoài sáu nén vàng ra, thì toàn bộ là trang sức vàng ngọc của mẫu thân... Trương Nghi nhìn đến mức tim rớm máu, muốn khóc lại không thể rơi nước mắt. Mẫu thân đã để lại toàn bộ trang sức thuở trẻ, tay không đi về cõi hoàng tuyền, thế mà lại không có chút ít vật bồi táng yêu thích nào. Đối với Trương Nghi, đây là một nỗi niềm tiếc hận vĩnh viễn không thể chịu đựng nổi. Anh cắn răng đào mở ngôi mộ của mẫu thân, đem trang sức vàng ngọc cùng ba bộ áo lụa mới tinh, nhét vào trong hai chiếc hộp gỗ do chính tay mình đóng lấy, đặt vào gian mộ thất ở phía trên đỉnh quan tài. Từ đêm hôm đó trở đi, Trương Nghi liền dựng một gian nhà tranh ngay cạnh mộ mẫu thân, mặc áo gai, đầu đội khăn tang, chịu tang cho mẫu thân. Hết đông sang hè, trong rừng thông nhỏ ở lăng viên của mẫu thân, Trương Nghi dần dần bình tâm trở lại.

Dù anh chưa từng xuống núi, nhưng đối với đại thế thiên hạ thì vẫn đại thể nắm rõ. Điều này cũng nhờ vào Phi Vân, cô không chỉ phải cùng Trương đại gia chung tay vun vén cái gia đình tẻ nhạt tàn tạ này, mà còn thỉnh thoảng chạy đến An Hợp thăm dò các loại tin tức. Nửa tháng trước, Phi Vân có đi một chuyến Đại Lương, lúc về hân hoan báo cho anh biết, Tô Trương đã tái xuất giang hồ, mưu đồ hợp tung chống Tần, Yên Triệu Hàn đều hân hoan đồng tình rồi!

— Ái chà! Em vừa vặn bắt gặp đoàn xe của Tô Tần tiến vào Đại Lương, khí thế lớn lắm ái chà. Phờ phất cờ xí, đội mã, xe cộ, dài ráo riết trọn ba dặm đường. Tô Tần đứng trên chiếc xe chiến cào, ồ! Áo choàng đỏ rực, mão ngọc trắng cao, một chút cũng không cười. Chỉ là tóc ông ấy đã điểm hoa râm cả rồi, khiến người ta trong lòng cảm thấy không nỡ. — Phi Vân nói đến mức mày múa mi bay, cuối cùng lại là lầm bầm thở dài một tiếng.

— Em nhìn rõ kỹ thế cơ à?

— Ái chà! Em trèo lên cái cây lớn cạnh quan đạo, ai cũng không nhìn thấy em đâu. — Trương Nghi không khỏi động tâm phừng phừng! Tô Tần tái xuất không phải là chuyện khiến người ta kinh ngạc, điều đó sớm muộn gì cũng xảy ra. Điều khiến anh động tâm, chính là chủ trương hoàn toàn mới mẻ mà Tô Tần đưa ra — sáu nước hợp tung, kết minh chống Tần! Tô Tần quan tâm đến nước Tần từ rất sớm, khác xa hoàn toàn với sự đạm mạc của chính anh đối với nước Tần, lần đầu tiên xuất sơn Tô Tần đã nhắm trúng nước Tần, cho dù không được nước Tần tiếp nhận, hà cớ gì phải lập tức coi nước Tần như kẻ thù căm hận? Không! Đây không phải là phong cách mưu sự của Tô Tần, cũng không phải là tinh thần truyền thống của các bậc danh sĩ xưa nay, trong đó nhất định ẩn chứa nguyên nhân. Khả năng lớn nhất, chính là Tô Tần đã có cái nhìn hoàn toàn mới mẻ đối với đại thế thiên hạ! Tô Tần suy nghĩ sâu xa, giỏi việc đổi mới, đúng như lời thầy giáo từng nói: "Vô trung sinh hữu, ám dạ cử hỏa, Tô Tần dã."

Hiện nay giữa lúc Sơn Đông đang đại loạn, Tô Tần chủ xướng sáu nước hợp tung, quả thực là như búa rìu chặt đứt quét sạch một phen tình thế hỗn loạn, khiến sáu nước Sơn Đông vén mây mù thấy ánh mặt trời, một cước làm cho cục diện thiên hạ trở nên minh bạch rõ ràng! Đây há chẳng phải là giơ đuốc trong đêm tối, soi rọi khắp thiên hạ hay sao? Nhìn từ góc độ này mà nói, việc dùng ân oán cá nhân để bôi tro trát trấu lên chuyện hợp tung chống Tần, liền trở nên vô cùng buồn cười, ít nhất thì Trương Nghi cũng phì cười khinh bỉ.

Đã là như vậy, thì lối đi nào cho Trương Nghi đây?

Nửa tháng nay, anh chưa từng ngừng suy nghĩ một khắc nào. Tô Tần đã quét sạch cục diện lớn, thiên hạ tất yếu sẽ hình thành cục diện sáu nước Sơn Đông đối địch với nước Tần. Ngay từ khi nghe thấy bốn chữ "hợp tung chống Tần" ấy, anh đã nhạy bén nhận thức được rằng Tô Tần tất sẽ thành công! Thiên hạ đã loạn đến mức không còn đầu mối, các nước đều muốn cục diện trở nên minh bạch rõ ràng, đều không muốn bị nhấn chìm bởi mớ hỗn độn. Vào lúc này đây, quân thần sáu nước Sơn Đông có thể từ chối cái liên minh hợp tung mang công hiệu to lớn "cứu vong tức loạn" đó được hay không?

Nhưng cứ như vậy, Trương Nghi lập tức không còn sự lựa chọn nào nữa! Thiên hạ chiến quốc có bảy, Tô Tần một mình chiếm sáu, Trương Nghi còn có thể làm gì đây?

Có những lúc, một Trương Nghi vốn có đất trời rộng lớn, thế mà trong chớp mắt lại chỉ còn lại một con đường duy nhất, hơn nữa lại chính là con đường mà bản thân anh cảm thấy xa lạ nhất! Điểm đặt chân của chính anh ngay từ đầu đã nằm ở sáu nước Sơn Đông, vốn không đánh giá cao nước Tần. Lần xuất sơn đầu tiên, bản thân anh suýt chút nữa đã lập được công lớn, nếu không phải vì nhẹ dạ bàn chuyện binh đao, phán đoán sai lầm trận chiến Phòng Lăng, thì sớm đã là thừa tướng nước Tề rồi. So sánh mà nói, thất bại lần đầu của Tô Tần, nằm ở chỗ "sách bất ứng thời" (sách lược không hợp thời thế); còn thất bại của chính anh, thì lại nằm ở chỗ "khinh ngôn hoại sách" (nói bừa làm hỏng sách lược). Nói cách khác, Tô Tần bại ở bản thân mưu sách, còn Trương Nghi bại ở ngoài mưu sách. Xét riêng lần đầu tiên, Trương Nghi tự giác bản thân mình còn cao hơn Tô Tần một bậc. Còn lần này thì sao? Tô Tần ra tay trước tiên, thượng sách làm chấn động thiên hạ, chỗ tất yếu thành công của hắn, chính là ở chỗ mưu sách đánh trúng vào tệ nạn thời cuộc! Trong tình thế này, chính anh mà muốn mưu sự ở sáu nước Sơn Đông, chẳng khác nào đi nhặt lại nước bọt người ta nhổ ra. Thử nghĩ xem, há chẳng lẽ ngươi Trương Nghi còn có thể đưa ra một bộ phương lược nào khác cao minh hơn đối với sáu nước Sơn Đông ư? Đưa ra không nổi, thì đành phải lủi thủi đi sau lưng Tô Tần mà quay cuồng. Đây là điều mà Trương Nghi không tài nào chịu đựng nổi, cũng là điều mà bất cứ bậc danh sĩ nào cũng khinh bỉ không thèm làm.

Nhìn vầng trăng trên trời, Trương Nghi mỉm cười. Lẽ nào lại bị người sư huynh này bức bách đến đường cùng không lối thoát hay sao? Tô huynh ơi, ngươi cũng ác độc thật đấy, thế mà lại gom sạch sáu nước Sơn Đông vào một lưới, khiến cho Trương Nghi ta đây bàng hoàng không biết nương tựa vào đâu, há chẳng phải buồn cười lắm sao?

— Trăng núi làm chứng: — Trương Nghi nghiêm cẩn vái dài hướng về vầng trăng trên trời: — Trương Nghi ta nhất định sẽ sánh vai cùng sư huynh Tô Tần tung hoành thiên hạ, tự mở ra một con đường lớn! — Nhiều ngày nay, trọng tâm suy ngẫm phỏng đoán của Trương Nghi, chính là làm thế nào để đối phó với sáu nước hợp tung của Tô Tần? Anh đã đưa ra một phỏng đoán: Nước Tần với tư cách là đối tượng mà sáu nước hợp tung nhắm vào, tuyệt đối không thể đứng ngoài cuộc thờ ơ; nước Tần muốn hành động, thì phải phá giải thế hợp tung; vậy thì, phá giải bằng cách nào? Ai sẽ là người phá giải? liền trở thành hai vấn đề tất yếu. Vấn đề thứ nhất, anh đã suy ngẫm thấu triệt, và đã có đối sách ứng phó. Trương Nghi kiên định cho rằng: Ngoài bộ mưu hoạch này của anh ra, thế hợp tung của Tô Tần hoàn toàn không có sách lược nào có thể phá giải được! Vậy thì, nước Tần có nhân tài như thế hay không? Dù anh khá xa lạ với nước Tần, nhưng đại thế thì vẫn hiểu rõ. Sau khi Thương Yến qua đời, nước Tần hình như vẫn chưa có nhân tài lớn nào đủ sức xoay chuyển cục diện tung hoành. Tư Mã Thác tuy khiến anh ngã một cú đau điếng, nhưng Tư Mã Thác dẫu sao cũng là đại tướng gia nhà binh, nước Tần sẽ không để một vị danh tướng hiếm có đi phân thân lo việc ngoại giao. Còn Trưu Lật Tật thì sao? Trị quốc an dân thì được, còn về bàn mưu tính kế bang giao thì giỏi lắm cũng chỉ là bậc trung tài mà thôi, há lại là đối thủ của Tô Tần?

Đưa mắt nhìn khắp thiên hạ, duy chỉ có Trương Nghi mới có thể địch lại Tô Tần!

Thế nhưng, nước Tần có nghĩ ra được điểm này hay không? Khó lắm. Nước Tần tuy cường đại, nhưng dẫu sao cũng đóng kín lâu ngày, đối với danh sĩ thiên hạ vẫn mù mờ một cục, làm sao có thể biết được anh Trương Nghi chứ? Vậy thì, chỉ còn lại một con đường duy nhất — chủ động vào Tần, du thuyết nước Tần, dâng thượng sách mà so tài cao thấp với Tô huynh trên bàn cờ thiên hạ! Thế nhưng, có thể làm như vậy được chăng? Trong tình thế bình thường, danh sĩ chủ động đi du thuyết là chuyện không có gì phải bàn cãi. Thế nhưng sau khi Tô Tần phát động hợp tung, thiên hạ lúc đó chính là hai trận doanh rạch ròi lằn ranh rõ rệt, vào lúc này đây, nếu nước Tần không có tâm tư thiết tha chiêu hiền đãi sĩ, thì vị quân vương nước Tần này cũng chỉ là kẻ tầm thường tột độ mà thôi; đi nói thượng sách cao minh với một vị vua tầm thường, đó đích thị là đàn gãi tai trâu rồi; Huệ vương nước Ngụy, Sở Uy vương còn như thế, vị tân quân nước Tần từng từ chối Tô Tần này thì sẽ ra sao đây? Nói mà không được nạp dụng, chi bằng không nói? Thế nhưng, giả như quân thần nước Tần nghĩ đến mình, thì ngươi Trương Nghi lại nên đối phó thế nào đây?

Nghĩ đến đây, Trương Nghi không khỏi ngửa mặt cười lớn, cảm thấy bản thân mình cứ lo trước lo sau rề rà đàn bà thật là buồn cười. Loại chuyện này, đến thần tiên cũng khó mà đoán trước, việc gì phải nhọc sức phỏng đoán? Tâm ý đã định, Trương Nghi liền sải bước đi lên bờ sông, đi về phía lăng viên rừng thông, vừa vặn bước vào con đường nhỏ trong rừng, anh kinh ngạc dụi dụi mắt.

Lúc đi rõ ràng đã thổi tắt đèn rồi, sao nhà tranh lại sáng đèn lên thế này?

Trương Nghi nấp sau thân cây, tập trung tinh thần quan sát lắng nghe một lát, đã có thể khẳng định trong rừng cây không có kẻ nào ẩn nấp. Thị lực thính lực của anh vô cùng xuất sắc, từ chút động tĩnh nhỏ đã có thể nghe ra trong nhà tranh nhiều lắm là có hai người. Thế nên anh sải bước đi ra, ưỡn ngực cầm kiếm, chặn ngay ở chính giữa con đường nhỏ trước nhà tranh cất cao giọng hỏi:

— Phương nào cao tánh, nửa đêm canh ba đến đây làm gì?

Có tiếng "kót két" vang lên, cửa nan tre mở ra, một bóng người vạm vỡ bước ra khỏi nhà tranh chắp tay hành lễ:

— Mạt tướng bái kiến tiên sinh.

— Mạt tướng? Rốt cuộc là người phương nào? Nói thẳng ra đi.

— Mạt tướng là Kỵ úy nước Triệu, phụng mật lệnh đến đây, xin tiên sinh vào nhà nói chuyện.

— Phản khách vi chủ rồi hả? Cứ nói ở đây đi, đỡ tốn dầu đèn.

Kỵ úy cười:

— Cũng được, trăng sáng thế này mà. — Liếc ngoảnh lại gọi: — Mặc Y, ra đây, thổi tắt đèn đi.

Đèn lồng gió trong nhà vụt tắt, từ bên trong bước ra một vị võ sĩ mặc trang phục gọn gàng, tay cầm trường kiếm, vóc người gầy gò nhỏ thó. Trương Nghi biết, vệ sĩ của quân chủ nước Triệu thường được gọi là "Hắc Y", kẻ này được gọi là "Mặc Y", dù thế nào đi nữa thì cũng là một tên đầu sỏ vệ sĩ. Nhìn dáng đi của hắn ta là có thể nhận ra, tên Mặc Y này tuyệt đối là một kiếm sĩ hạng nhất! Trương Nghi cũng mặc kệ, tự mình đi đến ngồi xuống một tảng đá lớn bên con đường nhỏ:

— Nói đi.

Kỵ úy lại chắp tay:

— Tiên sinh, hai người chúng tôi phụng mệnh của Thái tử, kính mời tiên sinh ngay trong đêm đi Hàm Đan.

— Có thư giản của Thái tử không?

— Quân pháp nước Triệu: Mật lệnh không có thư giản. Đây là tinh thiết lệnh bài của Thái tử, xin tiên sinh kiểm nghiệm.

— Không cần đâu. Thái tử triệu ta có việc gì?

— Thái tử chỉ nói: Phải bảo đảm tiên sinh vạn vô một thất. Tình hình cụ thể mạt tướng không rõ.

Trương Nghi thản nhiên cười:

— Đã như vậy, xin hai vị về bẩm báo lại với Thái tử: Trương Nghi đang để tang mẫu thân, không thể rời đi.

Kỵ úy liền cứng đờ ở đó, hình như không biết phải làm sao cho phải. Lúc này, tên Mặc Y gầy gò kia lên tiếng:

— Thái tử có lệnh, bằng mọi giá phải mời cho bằng được tiên sinh, tiên sinh phải biết kính trọng mới phải chứ.

— Nói như vậy, nếu như không đi, chính là không biết kính trọng rồi ư?

Kỵ úy chắp tay nói:

— Chúng tôi phụng mệnh làm việc, xin tiên sinh bằng mọi giá hãy thành toàn, chớ có ép buộc nhau.

— Ép duyên kẻ khó, lại còn muốn người ta không được ép cái khó của mình. Người Triệu làm việc, có thể gọi là cái lạ của thiên hạ! — Trương Nghi ngửa mặt cười to.

Mặc Y lạnh băng lên tiếng:

— Tiên sinh đã nhất quyết không đi, thì đắc tội vậy.

— Đắc tội thế nào đây? — Bản tính Trương Nghi vốn kiêu ngạo, trong lòng đã nổi giận, nhưng nét mặt vẫn giữ nụ cười.

— Thắng được thanh kiếm trong tay ta, tụi ta liền đi. Bằng không, đành phải mời đi theo kiểu cưỡng ép thôi.

— Kiếm trong tay ngươi? Sợ là kiếm trong tay hai người các ngươi thì có.

Mặc Y vừa định mở miệng, Kỵ úy đã cướp lời nói trước:

— Đó là đương nhiên, việc công chứ không phải tư đấu, làm sao có thể đơn đấu với kiếm sĩ được?

— Được! Lẽ ra phải thế. — Hào khí Trương Nghi bừng bừng trỗi dậy, sực đứng phắt dậy: — Xin mời.

— Mặc Y, để ta trước. — Kỵ úy sải bước bước ra, chỉ nghe "Cạch! Tách!" hai tiếng thiết âm vang lên, một thanh đao dài bản dày sáng loáng đã bật nắp chuôi, được xách trong tay. Trương Nghi vốn xuất thân từ gia thế võ sĩ nước Ngụy lâu đời, đối với binh khí Tam Tấn vốn dĩ vô cùng quen thuộc, vừa nhìn liền biết đây là đao dài người Hồ đã được cải chế của nước Triệu. Loại đao này được rèn đúc bằng tinh thiết trung nguyên, sống dày lưỡi mỏng, thân đao thon dài mà hơi uốn cong, chém giết dễ lấy lực, đâm chém không mất đi sự linh hoạt nhẹ nhàng, lại còn dài hơn đao nguyên bản của người Hồ chừng một thốn. Nước Triệu trong những cuộc đọ sức với kỵ binh Hung Nô liên tục chiếm ưu thế, có mối quan hệ rất lớn với loại chiến đao sắc bén uy mãnh này. Dẫu là vậy, Trương Nghi vẫn không hề mảy may sợ hãi. Anh tin rằng thanh kiếm Ngô Câu nước Việt trong tay mình tuyệt đối không hề thua kém chiến đao cải chế của nước Triệu.

Dưới ánh trăng, một luồng ánh sáng xanh hình cung thon dài đi kèm với tiếng kim loại rung ong ong lướt qua, thanh Ngô Câu của Trương Nghi đã tuốt vỏ! Thanh Ngô Câu này tuy cũng hình cung, nhưng là kiếm chứ không phải đao. Kiếm là song nhận, phần dày nằm ở sống xương trung tâm. Đao là đan nhận, phần dày nằm ở sống đao. Cùng là hình cung, chiến đao kỵ sĩ dài hơn Ngô Câu, độ cong tự nhiên nhỏ hơn một chút; Ngô Câu hơi ngắn, độ cong của nó gần như tiệm cận với vầng trăng khuyết đầu tháng, hơn nữa lại còn là song nhận. So sánh hai bên, chiến đao kỵ sĩ được chế tạo chuyên cho kỵ binh chiến trường, thuận tay dễ dùng, cho dù chưa qua huấn luyện nghiêm ngặt, cũng có thể cậy vào sức vóc mà tung ra uy phong. Ngô Câu thì hoàn toàn khác hẳn, nó vốn dĩ là một loại binh nhận vô cùng thần bí của kiếm sĩ nước Ngô nước Việt, mới cầm lên tay vô cùng gượng gạo, người bình thường căn bản không tài nào chém đâm chém giết nổi, độ khó sử dụng cao hơn chiến đao kỵ sĩ rất nhiều. Từ khi tiếp nhận thanh kiếm Ngô Câu nước Việt, Trương Nghi vẫn luôn tò mò suy ngẫm trong lúc nhàn rỗi, cũng do anh vốn có thiên bẩm về kiếm thuật, thế mà lại để anh vô sư tự thông, tự mình mày mò ra được một bộ cách sử dụng Ngô Câu. Phi Vân cũng thích kiếm pháp, thấy anh luyện qua mấy lần, ngạc nhiên đến mức liên tục trầm trồ khen ngợi. Giờ phút này, Trương Nghi cũng biết sự bạo ngược uy mãnh của kỵ sĩ nước Triệu, tự nhiên sẽ không dám lơ đễnh xem nhẹ, Ngô Câu tuốt vỏ, lại là kiếm phải vỏ trái thủ thế đứng yên không động đậy, chuẩn bị ra đòn sau mà chế ngự đối phương.

Kỵ úy lại ôm kiếm hành lễ:

— Thái tử kính trọng tiên sinh, ta chỉ đâm hư chiêu với tiên sinh, kiếm chạm vào người coi như thắng.

Trương Nghi cười lạnh:

— Ta chỉ biết đâm thật, không biết đâm hư chiêu.

Tên Mặc Y gầy gò bên cạnh thấy phiền phức không chịu nổi:

— Đạo của kiếm sĩ, sao lại có chuyện hư chiêu? Tướng quân thật là dài dòng văn tự.

Kỵ úy cười khổ một tiếng:

— Tiên sinh đã chấp nhất như thế, mạt tướng đành phải tuân lệnh. Giết —!

Tiếng thét vừa dứt, chiến đao kỵ sĩ đã mang theo tiếng gió rít gào chém xiên xuống! Đây là công phu cơ bản trong chiến đấu kỵ mã của kỵ sĩ, vô cùng uy mãnh, đối phương mà bị chém trúng, thì cả người sẽ bị chém xiên thành hai mảnh! Kỵ binh đối đầu bộ binh, đứng trên cao nhìn xuống, cú chém xiên này chính là đòn sát thủ có uy lực cực lớn và được sử dụng nhiều nhất. Trương Nghi vóc dáng cao lớn, đối phương cũng không ở trên lưng ngựa, cho nên không hề cảm nhận được uy lực chiến đao lơ lửng giữa trời, nhưng nghe tiếng gió đao sắc bén này, liền biết uy lực của chiến đao thế nào. Không kịp suy nghĩ, cánh tay Trương Nghi lướt đi, Ngô Câu liền vẽ ra một luồng ánh sáng lạnh, như cá chép vượt sóng nghênh đón lao lên. Chỉ nghe "Leng keng!" một tiếng vang sắc bén, chiến đao của Kỵ úy đã gãy làm đôi! Mũi đao bay vút lên ngọn cây, lại rào rào chém đứt cành cây, thế mà lại "Phập!" một tiếng cắm phập xuống mặt đất!

— Ái chà —! — Kỵ úy kinh kêu một tiếng, nhảy vót tránh ra: — Ngươi có thần binh lợi khí ư?

Trương Nghi ngửa mặt cười to:

— Lần đầu tiên dùng, không biết thanh kiếm Ngô Câu nước Việt này lại sắc bén đến thế, đa tạ đã cùng luyện tập nhé.

Tên Mặc Y gầy gò cười lạnh một tiếng:

— Chiến đao của tướng quân chỉ là hàng đại trà trong quân đội, làm sao địch nổi Ngô Câu nước Việt? Hôm nay, cũng để cho tiên sinh được mở rộng tầm mắt chứng kiến tinh binh nước Triệu một phen! — Dứt lời bờ vai khẽ run lên, chiếc áo choàng màu đen liền bay vút lên như con dơi, thế mà lại vắt hờ hững lên cành cây thông phía sau lưng. Chỉ bằng một động tác này, liền thấy được sự phi phàm khác biệt của vệ sĩ nước Triệu. Áo choàng vừa rời khỏi người, ánh sao chợt lóe lên, trong tay Mặc Y đã xuất hiện một thanh đoản kiếm! Thời Chiến Quốc, trường kiếm đã trở thành binh khí thường gặp, đoản kiếm liền phần lớn trở thành binh khí lợi hại trong tay các kiếm sĩ truyền thống, người thường hiếm khi nhìn thấy nữa. Đoản kiếm của kiếm sĩ truyền thống, cũng giống như Ngô Câu nước Việt, mười phần thì có đến tám chín phần là tinh phẩm của các thợ đúc kiếm nổi tiếng thời kỳ Xuân Thu. Ánh sáng màu xanh tím lóe lên, Trương Nghi liền biết đoản kiếm trong tay Mặc Y tuyệt đối không phải là phàm phẩm, liền mỉm cười:

— Thần binh giao đấu, lưỡng bại câu thương, há chẳng phải uổng phí của trời hay sao?

— Coi thường kiếm sĩ nước Triệu thế ư? — Mặc Y cười lạnh nói: — Điều khiển danh kiếm, tự có kiếm đạo, sao có thể giống mấy tên đần độn chém giết lẫn nhau được? — Ý trong lời nói, rõ ràng đang giễu cợt kiếm thuật của Trương Nghi và Kỵ úy. Trương Nghi thầm biết kẻ này là kiếm sĩ hạng nhất, bản thân mình tuy cũng hơi thông hiểu kiếm khí kiếm pháp nhưng rốt cuộc không phải là chuyên tâm nghiên cứu, không tài nào kháng cự lại với loại kiếm sĩ này được. Nhưng nghe hắn ta nói không "chém giết lẫn nhau" với mình, ngược lại cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn đôi chút, binh khí không chạm vào nhau, thì chẳng qua là hắn trực tiếp đâm bị thương mình, rồi sau đó lại "mời" đi mà thôi. Trương Nghi tự tin Mặc Y không làm được điều đó, ngươi không chém thì ta chém, đại tiết trước mắt, hà cớ gì phải mưu cầu mấy quy tắc lặt vặt nhỏ nhặt? Vung múa Ngô Câu bảo vệ chặt chẽ bản thân, chỉ cần kiếm khí của hắn ta không đâm tới được người ta, thì có thể làm gì được ta nào?

— Đã như vậy, ngươi bắt đầu đi. — Trương Nghi thản nhiên mỉm cười.

— Tiên sinh, nhìn cho kỹ đây. — Dứt lời, bóng đen vút nhảy dựng lên, một luồng ánh sáng màu xanh tím liền đâm thẳng vào đỉnh đầu Trương Nghi! Ngô Câu của Trương Nghi đã vung ra, liền tiện đà hất ngược lên vòng một vòng lớn. Nào ngờ lúc anh hất ngược lên, Mặc Y đã vượt qua đỉnh đầu anh, ngay lúc anh còn chưa kịp quay người lại, bả vai phải đã bị đâm trúng! Một trận đau nhức tê dại chớp nhoáng mãnh liệt ập tới, Ngô Câu tay phải của Trương Nghi tuột khỏi tay bay vút ra ngoài! Bóng đen chân khẽ chấm đất, lập tức lùi bay ngược đi như chớp, thế mà lại tóm được lấy Ngô Câu ngay giữa không trung, đứng vững vàng trên mặt đất:

— Tiên sinh còn gì để nói nữa không?

Trương Nghi cắn răng gồng mình chống đỡ, mới không đến mức ngồi bệt xuống, rướn sức cười nói:

— Ngươi, kiếm thuật vô song. Ta, quyết không đi.

— Tiên sinh không biết kính trọng, tại hạ đành phải đắc tội vậy. — Mặc Y cười lạnh một tiếng, liền bước tới.

Đột nhiên, một tiếng hổ gầm dài trầm đục, lướt qua rừng núi như gió lốc!

Tên Mặc Y gầy gò ngẩn người ra một chút. Kỵ úy cười nói:

— Thung lũng Thấu Thủy đêm nào cũng thế, bình thường lắm mà... — Vừa nói thì sắc mặt bỗng chốc biến đổi: — Ngươi ngươi ngươi, là người? Hay là quỷ?! — Trương Nghi nhìn sang, thấy trên con đường nhỏ trong rừng ở cửa khẩu dưới ánh trăng, lững thững một bóng trắng thon dài, tóc xõa tung, tay lại chống một cây gậy trúc, một trận cười thanh lãnh vang lên:

— Cưỡng người làm khó, đây là đạo kinh doanh nhà nào thế hả?

Kỵ úy hồn hoàn hồn lại, lạnh lùng nói:

— Ngươi nếu là thương gia, mau chóng cút đi, đừng có xen vào chuyện bao đồng!

Mặc Y gầy gò:

— Đã xem rồi, chỉ sợ không cho phép hắn đi được đâu.

Bao trắng lại một trận cười lớn:

— Ta nói là muốn đi lúc nào hả? Du hiệp thời Chiến Quốc, lẽ nào lại có chuyện không quản chuyện bất bình ư?

— Du hiệp? — Mặc Y chắp tay hành lễ: — Dám hỏi các hạ cao danh đại tính?

— Cao danh đại tính? — Y phục trắng đột nhiên lạnh lùng:

— Mặc Y Hàm Đan, mau chóng rời đi, trả lại sự yên bình cho tiên sinh.

— Ngươi tuyệt đối không phải là du hiệp chính đạo! Tướng quân hộ tống tiên sinh, để ta xử lý hắn.

Mặc Y gầy gò rõ ràng đã bị chọc giận.

— Khoan đã. — Áo trắng cười nói: — Tiên sinh vốn không thừa nhận hai vị, không cần các người hộ tống đâu, xin tiên sinh cứ đứng xem cuộc vui là được. — Nói xong cúi đầu sâu sắc vái chào Trương Nghi:

— Tiên sinh, đây là một gói thuốc trị thương, xin mời ra đống đá bên kia tự bôi lấy.

Trong khoảng khắc này, Trương Nghi vô cùng bối rối. Kẻ này nếu là du hiệp, thì đích thực là kỳ lạ nhất thiên hạ! Phải biết rằng du hiệp thời Chiến Quốc thường được người đương thời gọi là "đái kiếm chi khách" (khách mang kiếm), "tất thiên tử sĩ" (kẻ quyết tử), những việc mưu cầu toàn là những việc lớn làm chấn động thiên hạ, rất ít khi lai vãng chốn thị thành sơn dã, cho dù có ẩn cư, cũng là chuyện vô cùng bình thường không hỏi đến chuyện lặt vặt dân gian. Du hiệp nổi tiếng thiên hạ như Công Tôn Cữu đời Xuân Thu, Chuyên Chư, Bắc Quách Tao, Tất Dương, Yển Tức v.v., thời Chiến Quốc như Yêu Ly, Nhiếp Chính, Mạnh Thắng, Từ Nhược v.v., đều là những danh sĩ hành đại nghĩa, trừ đại ác ở tầng lớp thượng tầng các nước, hầu như không có một du hiệp phong trần nào lại đi quan tâm đến ân oán thứ dân. Kẻ này tự xưng là du hiệp, Trương Nghi tự nhiên khó lòng tin nổi, nhưng nếu không phải là du hiệp, thì hà cớ gì lại có hành tung bản lĩnh nhường này? Quả thực khiến người ta khó lòng phỏng đoán, chi bằng cứ xem tiếp tính sau, ít nhất vào lúc này, hắn không cấu thành mối nguy hại đối với Trương Nghi. Thế nên Trương Nghi cũng không nói nhiều thêm, liền bước đến tảng đá bên đường nhỏ ngồi xuống bôi thuốc.

Áo trắng thấy Trương Nghi bước đi, quay người cười nói:

— Cùng lên đi thôi.

Kỵ úy và Mặc Y vốn dĩ lo lắng Trương Nghi bị du hiệp cướp đi, lúc này thấy người này không có đồng hoả, Trương Nghi cũng thản nhiên tự tại, tự nhiên liền muốn dốc toàn lực giải quyết vị du hiệp này trước. Mặc Y trầm giọng nói:

— Tướng quân yểm trợ, để ta.

Kỵ úy gật gật đầu:

— Cẩn thận vẫn hơn, kẻ này vô cùng kỳ quặc.

Mặc Y cười lạnh một tiếng, tự mình bước đến cách áo trắng tầm trượng hơn:

— Du hiệp xin mời.

Áo trắng thấy Mặc Y sừng sững không động đậy, cười nói:

— Nhường trước hả? Được!

Một chữ "Được" vừa thốt ra, gậy trúc "bốp" một tiếng tuột khỏi tay, chỉ thấy ánh sáng lạnh lẽo cuộn lấy tiếng kim loại rung "ong ong", một thanh đao cong hình thù kỳ dị siêu dài đã lơ lửng trùm lên đỉnh đầu Mặc Y! Mặc Y đại kinh thất sắc, một bước lướt dài dán sát mặt đất, vừa khéo né tránh được, ánh sáng lạnh lẽo lại như hình với bóng đâm tới từ sau lưng, vô cùng sắc bén. Trong lúc hoảng loạn, Mặc Y lăn một vòng sang bên, mới thoát ra ngoài vùng kiếm phong, vầng trán thế mà đã lạnh ngát mồ hôi đầm đìa. Thấy áo trắng không truy kích, Mặc Y giận hằm hằm hỏi:

— Các hạ sử dụng binh khí gì thế? Mong được chỉ giáo.

— Binh khí này thiên hạ không một ai nhận ra, chỉ để cho ngươi mở mang tầm mắt một phen mà thôi.

Dứt lời, áo trắng tiện tay lướt một cái, một luồng hàn quang sắc lạnh thế mà lại lướt ra từ thân cây to bằng một vòng tay ôm bên cạnh, không hề phát ra một tiếng động nào, cây thông cũng hoàn toàn không suy suyển chút nào. Áo trắng cười thanh thản:

— Mời hai vị thưởng lãm nhé.

Mặc Y và Kỵ úy nghi hoặc bước tới trước cây, mượn ánh trăng núi sáng rực, nhìn rõ mồn một phần thân cây có một đường kẽ cực nhỏ!

— Ý ngươi là, vừa rồi đã chém đứt ngang lưng cây lớn này á? — Kỵ úy kinh ngạc vỗ vỗ thân cây.

— Tướng quân lực lớn, đẩy một cái là biết ngay, cần gì phải nói nhiều? — Áo trắng rõ ràng khinh thường không thèm tranh luận với hắn ta.

Kỵ úy đứng tấn vững vàng, hai tay ấn chặt lấy thân cây, dùng sức đẩy mạnh một cái, phần thân cây phía trên đường kẽ thế mà lại đột nhiên trượt hẳn ra ngoài, thân cây răng rắc ép ngược vào trong, giống như kẻ bước nhanh chân bị trượt ngã ngửa ngửa ra sau vậy. Kỵ úy, Mặc Y vội vã tung người tránh ra, đợi cây lớn ngã xuống, tiến lên kiểm tra, phần thân cây ba thước để lại thế mà phẳng lì như gương, vẫn rỉ ra một lớp nhựa thông mịn màng bóng loáng!

Mặc Y không nói hai lời, kéo Kỵ úy quay người bỏ đi.

Áo trắng lại chắp tay cười nói:

— Xin chuyển lời giúp Triệu Ung, dám vô lễ cưỡng ép tiên sinh, Mặc Môn Mạnh Thắng sẽ không đứng nhìn bàng quan đâu.

Mặc Y chợt quay phắt người lại:

— Ngươi? Là Mặc gia đại sư Mạnh Thắng ư?

— Đã biết đại danh của sư phụ ta, thì khắc biết thiên đạo sẽ không mai một.

Mặc Y hình như vẫn muốn hỏi gì đó, nhưng cuối cùng lại nhịn không nói, kéo Kỵ úy quay người bước đi.

Áo trắng bước về phía Trương Nghi:

— Dám hỏi kiếm thương của tiên sinh thế nào rồi?

Trương Nghi cười nói:

— Hắn ta không tính đâm hiểm ác, không đáng ngại đâu, đa tạ thuốc tốt của nghĩa sĩ nhé.

Áo trắng thở dài một hơi thật dài:

— Thung lũng Thấu Thủy bề ngoài thì hoang vắng, nhưng thực chất là chốn hiểm địa, tiên sinh để tang đã qua ba năm, nên đổi chỗ khác mà ở thôi.

— Cái này thì lạ nha. — Trương Nghi bông đùa nói: — Nghĩa sĩ sao lại biết ta để tang tròn ba năm? Lẽ nào cũng là phận sự của du hiệp ư?

Áo trắng cười nói:

— Nhìn con đường nhỏ lăng viên nhẵn nhụi sạch sẽ này, nhìn ngôi nhà tranh có màu cỏ đã ngả đen này, còn có lối mòn do dẫm đạp trong rừng núi, chỉ sợ là còn vượt qua ba năm ấy chứ.

Trương Nghi đứng phắt dậy từ hòn đá tảng:

— Có nhãn lực đấy, chỉ là ta vẫn chưa muốn đi nơi khác.

Áo trắng cười nói:

— Ta chỉ nhắc nhở vậy thôi, đây là chuyện của tiên sinh, tự mình nên quyết định lấy, tại hạ xin cáo từ.

— Khoan đã. — Ánh mắt Trương Nghi lóe lên: — Thấy nghĩa sĩ tuổi trẻ phi phàm, cớ sao lại phải mạo danh du hiệp?

Áo trắng giật mình khựng lại:

— Tiên sinh sao lại biết ta không phải du hiệp?

Trương Nghi nói:

— Du hiệp thời Chiến Quốc, đều ẩn cư ở đô thành mưu tính việc lớn, không động thì thôi, động là một bước thành danh, có đâu lại chạy đến vùng núi hoang vu, làm thần đêm đi lang thang mãi thế này?

Áo trắng kinh ngạc:

— Sao lại nói là làm mãi? Tại hạ chẳng qua là đêm hôm đi ngang qua mà thôi.

Trương Nghi cười lớn:

— Nghĩa sĩ lỡ miệng rồi đấy, nếu là khách qua đường vội vã, hà cớ gì mà đến cả lối mòn do dẫm đạp khắp bốn bề rừng núi cũng nắm rõ tường tận đến thế? Nếu không phải là mấy ngày trời, thì đi không hết thung lũng Thấu Thủy đâu.

Áo trắng trầm mặc một lát, nghiêm cẩn chắp tay:

— Tiên sinh nói không sai, tại hạ vốn không phải du hiệp, chỉ là thấy tình thế cấp bách, nên tùy cơ ứng biến mạo danh mà thôi.

— Mạo danh thì cũng thôi đi, hà cớ gì lại phải chuốc thù chuốc oán với Mặc gia?

Trên mặt áo trắng lướt qua một nụ cười ranh mãnh lại tinh nghịch:

— Tiên sinh truy cùng diệt tận thế này, đành phải nói thật với ngài vậy: Tại hạ vốn là dược thương nước Tống, mưu đồ săn hạc cốt trong thung lũng Thấu Thủy, đã lảng vảng ở đây nhiều ngày rồi. Đêm nay vào núi kiểm tra tung tích hổ, vô tình gặp phải có kẻ dùng sức mạnh đối phó với tiên sinh, cho nên mới ra tay, chỗ đường đột kính mong tiên sinh lượng thứ.

— Đã là dược thương, sao lại biết bọn họ là võ sĩ do Thái tử nước Triệu phái đến?

Áo trắng cười:

— Tiên sinh quả nhiên chu đáo lanh lợi, thế nhưng lần này lại đoán sai rồi. Đó là do tại hạ nghe được trên cây lớn, còn như danh tính Thái tử nước Triệu, thiên hạ ai mà không biết, huống chi là hạng thương lữ bôn ba khắp nơi như bọn ta? Hơn nữa, tại hạ cũng không muốn phơi bày thân phận thương nhân, đành phải nhường lại nghĩa cử cho Mặc gia vậy. Bằng không, sau này làm sao đến Hàm Đan kinh doanh nữa?

Đến đây, Trương Nghi hoàn toàn gỡ bỏ mối nghi ngờ, chắp tay nói:

— Bản tính Trương Nghi, lòng không nghi kỵ nữa, nghĩa sĩ lượng thứ cho nhé.

Phi Vân lẩm bẩm nói:

— Người này thật khó nhằn quá đi mất, làm việc tốt rồi, cứ như người ta thiếu nợ hắn không bằng, tra hỏi mãi không thôi.

Trương Nghi ngửa mặt cười to:

— Nghĩa sĩ thật đáng yêu làm sao! Đi thôi, vào nhà tranh... à, ngặt nỗi lại không có rượu.

— Tiên sinh thú vị thật đấy, muốn nói chuyện uống rượu say sưa, nhưng lại không có rượu!

— Hiền đệ đừng bận tâm, không có rượu nhưng có trà, trà lạnh thì thế nào?

— Trà của đại ca tiên sinh, nhất định là rất ngon rồi!

— Đại ca tiên sinh? — Trương Nghi không khỏi lại cười lớn: — Đại ca thì là đại ca, tiên sinh thì là tiên sinh, chọn cái nào?

— Đại ca! — Áo trắng cười vỗ tay.

— Hiền đệ tốt! — Trương Nghi vỗ vỗ bả vai áo trắng, khái nhiên thở dài:

— Gió trong trăng sáng, bèo nước gặp nhau, cũng là một chuyện đẹp đẽ mà, thực sự rất muốn uống một trận cho thỏa thích đây.

— Đại ca chờ một lát. — Tiếng nói của áo trắng vừa dứt điểm, bóng dáng đã biến mất trong lược cây rừng, chỉ chớp mắt thế mà lại tung bay chạy về, giơ một chiếc túi da lớn cười nói:

— Rượu Triệu thượng hạng! Thế nào?

— Hay! Uống say dưới trăng, sảng khoái sảng khoái!

— Không hỏi cho rõ ngọn nguồn ư?

— Để hôm sau hãy hỏi, đi, vào nhà tranh thôi.

— Đại ca sai rồi. Gió thung lũng hiu hắt, trăng núi sáng rực, cứ ở đây là tuyệt nhất! Lại còn đỡ được dầu đèn của anh nữa chứ. Em đi lấy bát sành đây.

Nói xong bước đi nhẹ nhàng thanh thoát, chớp mắt đã từ nhà tranh nhỏ của Trương Nghi lấy ra hai chiếc bát sành lớn đặt lên tảng đá lớn, tháo sợi dây túi da, liền ừng ực dốc ngược xuống, một mùi thơm rượu nồng đượm lập tức lan tỏa tràn ngập khắp nơi.

— Quả thực là rượu ngon! — Trương Nghi hít hít chiếc mũi, hương rượu lâu ngày không ngửi thấy khiến anh say đắm:

— Nào, hiền đệ, cạn trước bát này đã!

— Ấy ấy ấy, khoan đã, thế nào cũng phải có vài câu đưa đẩy chứ, cứ uống suông thế này á? — Áo trắng vội vã lẩm bẩm, thế mà lại có chút đỏ mặt.

Trương Nghi cười lớn một trận:

— Hiền đệ đáng yêu, đại ca thích! Vì ông trời ban cho ta một hiền đệ tốt, cạn!

— Ông trời ban cho ta một đại ca tốt... cạn! — Áo trắng chợt cọ cọ bát sành với Trương Nghi, ngửa cổ uống cạn sạch. Cẩn thận ngửi hương rượu, Trương Nghi lại tự mình cảm thán:

— Rượu ơi là rượu, vắng bóng ba năm, mày cùng hiền đệ ta đồng hành đến, ý trời mà! — Dứt lời bỗng giơ cao bát sành, thế mà lại uống cạn một hơi như cá kình hút nước sông, vứt bát sành xuống, thở dài một hơi thật dài.

— Đại ca ba năm giới rượu, nên uống ba bát để phá giới chứ, làm lại chén nữa đi! — Áo trắng nói rồi lại ừng ực rót đầy một bát.

Trương Nghi tự thấy sảng khoái, uống liền ba bát, bấy giờ mới sực tỉnh cười nói:

— Ơ, sao em lại không uống thế?

— Tiểu đệ vốn không giỏi uống rượu, ngày thường chỉ uống chút ít để trừ hàn mà thôi. Đêm nay khác chứ, đại ca ba bát, tiểu đệ bồi một bát, thế nào?

— Được. — Trương Nghi cười nói: — Không giỏi uống thì không cần miễn cưỡng, ta có một vị sư huynh cũng không giỏi uống rượu, mà vẫn cứ là anh hùng thiên hạ.

— Sư huynh của đại ca là anh hùng thiên hạ, vậy đại ca cũng là anh hùng thiên hạ rồi.

— Chưa chắc đâu. Tô Tần có thể thành công, Trương Nghi chưa chắc đã thành công.

— Ái chà! Sư huynh của đại ca là Tô Tần ư? Đó quả là một vị anh hùng đấy nhé, hiện nay đi khắp sáu nước Sơn Đông, Tô Tần hầu như ai ai cũng biết tiếng. Đại ca đi tìm Tô Tần, há chẳng phải cũng vô cùng phong quang rực rỡ hay sao?

Trương Nghi ngửa cổ uống cạn một bát, ánh mắt sáng như đuốc chằm chằm nhìn áo trắng, vẻ mặt nghiêm cẩn:

— Nói câu này trước khi uống rượu, thì ngươi và ta không còn là huynh đệ nữa. Đại trượng phu sinh ở đời phải tự lập, sao lại đi mưu cầu sự che chở của kẻ khác?

— Bốp! — Áo trắng tự tát vào mặt mình một cái, vái chào cười nói:

— Chí tiết của đại ca cao cả vợi vợi, tiểu đệ vốn là kẻ buôn bán nói lời vô tâm, đại ca lượng thứ cho nhé.

Trương Nghi cũng cười:

— Hiền đệ cũng là thương lữ nghĩa sĩ, vốn là do ta câu nệ quá mức, không nói nữa, cạn!

Lại uống cạn một bát lớn. Áo trắng cũng bồi uống một bát, lại rót đầy bát rượu cho Trương Nghi, nhẹ nhàng thở dài một tiếng:

— Đại ca định chôn vùi tuổi già chốn sơn lâm ư?

Trương Nghi trầm mặc hồi lâu, ngửa mặt thở dài một tiếng:

— Thiên hạ rộng lớn, duy chỉ có một nơi ta chưa từng đặt chân tới, nhưng hiện tại lại cứ muốn đến đó.

— Nước Sở xa xôi, có phải nơi đó không?

— Không, là nước Tần.

— A... — Áo trắng khẽ kinh kêu một tiếng, lại vội vã dùng tay áo rộng che mặt.

— Hiền đệ sợ nước Tần ư?

— Có một chút, đại phụ năm xưa buôn bán ở nước Tần, đã bị Tần Hiến công giết chết.

Trương Nghi thở dài nói:

— Thời nào thức nấy, mỗi thời mỗi khác. Nước Tần từ sau cuộc biến pháp của Hiếu công và Thương Yến, đã là một đại quốc pháp độ sâm nghiêm rồi. Dù cho ta chưa từng đến nước Tần, cũng từng khinh bỉ nước Tần, nhưng hiện tại, ta đã có một cái nhìn khác về nước Tần rồi. Chỉ là không biết nước Tần có tâm tư chiêu hiền đãi sĩ hay không? Phải biết rằng Tô Tần, Sỉ Thủ đều không được trọng dụng mà rời khỏi nước Tần, sau khi Thương Yến qua đời, người Tần hình như đã đánh mất đi tấm lòng rộng lượng của Tần Hiếu công, lại đang bài xích sĩ tử nước Sơn Đông rồi.

Áo trắng nghe đến mức mắt không chớp lấy một cái, thở phào cười nói:

— Đại ca chớ lo, một xe hạc cốt của tiểu đệ đang chuẩn bị vận chuyển đến Hàm Dương. Đại ca chi bằng cứ đi Hàm Dương với tiểu đệ xem thế nào, hợp thì ở lại, không hợp thì đi thôi chứ gì.

Trương Nghi cười lớn:

— Hay! Cứ quyết định thế đi.

— Đại ca sảng khoái! Vậy ba ngày sau khởi hành thế nào?

— Cũng được. Cứ ba ngày sau đi.

Lúc này vầng trăng sáng mờ dần, đằng sau núi đã hiện lên sắc trắng bụng cá, trong rừng thông đã sà xuống một lớp sương mù trắng xóa mờ mịt. Hai người uống cạn bát rượu Triệu cuối cùng, áo trắng liền biến mất trong lớp sương mù mờ mịt của thung lũng. Trương Nghi nhìn bóng dáng trắng thon dài ấy khuất dần, tự thấy lồng ngực nóng rực lên, không khỏi ngửa mặt cất tiếng dài hú lên một tiếng, tay trái rút Ngô Câu ra dùng sức chém mạnh một cái, một đoạn cây khô liền răng rắc nứt toác ra! Sương mù tan đi, mặt trời đỏ rực trèo lên đỉnh núi thì Phi Vân mang cơm đến rồi.

Trương Nghi đem chuyện đêm qua đại khái kể lại một lượt, Phi Vân ngạc nhiên trợn trừng mắt tặc lưỡi:

— Ái chà, tối qua căn nhà cũ vị công tử đó ở vẫn mãi không có động tĩnh gì, em lén đi ngang qua cửa sổ hai chuyến, nghe ngóng thấy trong nhà căn bản không có ai cả. Anh nói xem, vị công tử này có phải là vị công tử đó không?

Trương Nghi trầm ngâm nói:

— Có khả năng đấy. Nhưng dù thân phận người này thế nào, thì tuyệt đối không phải kẻ tà ác. Đừng vạch trần, mượn sức lực của hắn, chúng ta đến nước Tần trước đã tính sau.

Phi Vân gật gật đầu:

— Vậy được, em mau chóng quay về thu xếp dọn dẹp một chút. Ái chà, Trương đại gia phải làm sao bây giờ?

— Tiền bạc trong tráp còn bao nhiêu? Mời lão nhân gia ra An Hợp mua một căn nhà an hưởng tuổi già đi.

— Chỉ còn hai trăm tiền, ba nén vàng thôi.

Trương Nghi vung tay áo lớn:

— Cho lão nhân gia hết đi.

— Thế còn ngôi nhà cũ?

— Đốt đi. — Trương Nghi cắn răng thốt ra hai chữ.

— Không đốt! — Phi Vân đỏ bừng mặt thét lên một tiếng: — Để em xử lý, không cần anh quản. — Nói xong liền vùng vằng bước đi thẳng.

Suy nghĩ một lát, cuối cùng Trương Nghi vẫn không gọi với theo Phi Vân, cứ mặc kệ cô ấy muốn làm gì thì làm. Anh biết rằng, Phi Vân từ một đứa trẻ mồ côi năm sáu tuổi được mẫu thân đón về nuôi, vẫn luôn cùng mẫu thân đồng cam cộng khổ chia ngọt sẻ bùi tại ngôi nhà cũ này. Thất bại quay về quê cũ, lại là Phi Vân cùng Trương đại gia vất vả gồng gánh chống đỡ, mới bảo vệ được anh chịu tang lăng mộ mà làm lại từ đầu. Sự lưu luyến của Phi Vân và Trương đại gia đối với ngôi nhà cũ họ Trương, mãnh liệt hơn nhiều so với một kẻ coi bốn biển là nhà như anh... Thôi đành vậy thôi, cứ để bọn họ tự xử lý đi, hà cớ gì cứ nhất thiết phải bày ra cái vẻ ta đây là danh sĩ phá thuyền dìm nồi thế chứ?

Lòng đã định, Trương Nghi liền bắt đầu thu xếp đồ đạc tùy thân của mình. Quần áo thì không cần anh phải bận tâm, chính anh cũng không rõ đồ của mình có bao nhiêu chiếc. Thứ cần tự tay anh làm, là hai giàn thẻ tre, cùng với một đống trác luận ghi chép mà tự anh đã biên soạn và sao chép hoàn thiện trong suốt ba năm qua. Những bản ghi chép đó là kết tinh tâm huyết của bản thân, cũng là ghi chép về sự phản tỉnh đau đớn tận tâm can của anh, càng là một phần sinh mệnh của anh. Anh đem những thẻ tre bắt buộc phải mang theo nhét vào một chiếc rương gỗ lớn, còn những bản ghi chép đó, thì đặc biệt dùng chiếc hộp sắt mà mẫu thân để lại cho mình để đựng, hơn nữa còn buộc chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu ấy vào sợi dây đeo sát người ở cổ.

Đột nhiên, trong lòng Trương Nghi động một cái, lại đem hai chiếc rương khiêng đến một cái hang đá nhỏ bên cạnh mộ mẫu thân, lại dùng cỏ tranh đậy kín đáo đâu vào đấy, từng việc từng việc làm xong, trời cũng vừa tối sụp xuống.

Lạ thật, sao mãi mà Phi Vân vẫn chưa lên núi mang cơm tới? Xảy ra chuyện gì rồi ư?

Ý nghĩ vừa lóe lên, Trương Nghi tháo kiếm Ngô Câu xuống, liền sải bước ra khỏi nhà tranh. Sắp đến cửa khẩu phía nam, chợt nghe thấy trong thung lũng một tiếng sấm trầm đìa vang lên! Lắng tai nghe kỹ, Trương Nghi lập tức phân biệt được đây là tiếng đội kỵ binh phi nước đại, hơn nữa còn đang đến càng lúc càng gần.

Trương Nghi cực kỳ cảnh giác, nhìn xung quanh một lượt, liền nhanh nhẹn trèo lên một cành lá xum xuê của một cây cổ thụ to lớn. Chỉ trong chớp mắt, tiếng móng ngựa dừng bặt, một loạt tiếng bước chân rõ ràng nặng nề tiến vào cửa khẩu phía bắc.

Đúng lúc trăng non mới mọc, lờ mờ có thể nhìn thấy một đội giáp sĩ tiến vào rừng thông, tản ra thành hình rẻ quạt, vây kín ngôi nhà tranh lại. Một tên quân lại cầm kiếm lớn giọng hạ lệnh:

— Canh gác chặt cửa khẩu, không cho bất kỳ kẻ nào bước vào. Tướng quân Kinh Yến, châm đuốc lên, đi theo ta vào gặp tiên sinh.

Nói xong liền nhìn thấy một ngọn đuốc được thắp lên, hai bóng người bước vào nhà tranh. Chỉ chốc lát sau, hai bóng người lại bước ra ngoài, quân lại nói:

— Tiên sinh rõ ràng đã đi rồi, bọn ta cũng đành phải về bẩm báo lại thôi.

Tên Kinh Yến đang cầm đuốc đáp lời:

— Không phải là người nước Triệu đã mời tiên sinh đi rồi chứ? Thế này thì ta ăn nói thế nào với Vũ Tín quân đây?

Quân lại cười rất lớn:

— Câu nói cổ quả không sai chút nào: Người Yên hay đa nghi người Triệu! Hiện nay hai nước đã kết minh rồi, ta mà giở trò quỷ, Thái tử sẽ ăn nói thế nào với Vũ Tín quân đây?

Đuốc Kinh Yến thở dài một tiếng:

— Hầy! Cũng là số trời, Trương Nghi không có mệnh phú quý, lòng tốt của Vũ Tín quân cũng vô ích thôi.

Quân lại cười nói:

— Tướng quân nếu không yên tâm, có thể dẫn mười kỵ binh ở lại, tiếp tục thăm dò tìm kiếm.

Kinh Yến nói:

— Nhưng sự an nguy của Vũ Tín quân là trên hết, ta làm sao yên tâm cho được?

— Đã vậy, cũng không cần nhọc lòng nữa, có một bức thư đặt ở đây, tiên sinh nhìn thấy sẽ rõ. Rút lui!

Đám binh sĩ thu quân lại thành một đội, lại đi ra cửa khẩu phía bắc, chốc lát đã nghe tiếng móng ngựa ầm ầm vang dội đi xa dần.

Trương Nghi thấy đội kỵ binh đã đi xa, liền trèo xuống khỏi cây lớn, bước vào nhà tranh châm đèn lồng gió lên, phát hiện trên bàn sách bằng đá xanh chình ình một chiếc hộp đồng dẹt mỏng! Xem ra, đây chính là bức thư mà bọn họ vừa nhắc tới rồi.

Trương Nghi cầm chiếc hộp đồng lên ngắm nghía, ấn nhẹ vào nút đồng ở chính giữa, chiếc hộp đồng liền phát ra một tiếng "cạch" nhỏ rồi tự động bật mở ra.

Trong hộp lót nhám lót gấm đỏ, một chiếc túi da cừu dán kín bằng sáp đỏ nằm ở chính giữa. Mũi kiếm Ngô Câu khẽ gẩy nhẹ một cái, chiếc túi da cừu liền rách toạc một đường miệng, một trang giấy da cừu "vù" một tiếng rơi phốc xuống, Trương Nghi cầm lên xem, nét chữ vô cùng quen thuộc lập tức đập thẳng vào mắt:

Trương huynh thân kính:

Hợp tung có hy vọng, thế cục đã thành. Ta đã hướng Trưu Lật Tật tiến cử huynh vào Tần, mong huynh tiến cùng thời thế, phá cục hợp tung của ta. Huynh làm đối thủ, Tô Tần ta càng phải thêm phần kính cẩn nỗ lực, sáng tạo mưu lược lớn một lần nữa. Phá được ta tức là giúp ta, ý là như thế. Thời thế quỷ dị, An ấp không an, mong huynh mau chóng vào Tần, chấn hưng hùng phong.

Tô Tần tại Đại Lương mùa thu.

"Được!" Chỉ liếc qua một cái, Trương Nghi đã máu huyết sôi trào. Tô Tần đã vẫy tay gọi hắn trên chiến trường, Trương Nghi sao có thể lề mề chậm chạp? Khí độ lồng ngực Tô Tần lớn lao nhường ấy, Trương Nghi tự khắc phải dốc toàn lực thi triển, khiến sóng lớn đãi cát thiên hạ! Xem ra, việc vào Tần đã là chuyện không thể chậm trễ. Tô Tần đã hướng Thượng đại phu của nước Tần tiến cử mình, thì có nghĩa là nước Tần đã biết đến mình... Khoan đã! Một ý nghĩ chợt nảy sinh: Nước Tần đã biết đến mình, sao lại không có động tĩnh gì? Phải chăng quân thần nước Tần trì độn? Hay là có ẩn tình khác? Đã nói không rõ ràng, tốt nhất vẫn là không nên mạo hiểm, phải trầm tĩnh lại, làm đại sự không thể chỉ trong ba năm ngày. Sau một hồi đong đếm cân nhắc, Trương Nghi đã bình tĩnh trở lại: Vào Tần là cái chắc, chỉ là không thể lỗ mãng, đây là con đường cuối cùng, không đi thì thôi, đã đi thì phải thành công bằng được, làm sao có thể vì chút sảng khoái nhất thời trong lúc mịt mờ khó hiểu mà tham gia chứ? Tô Tần nói "thời thế quỷ dị, An ấp không an", rốt là có ý gì? Đúng rồi, Tô Tần chắc chắn đã phát hiện ra "có kẻ" mang ý đồ xấu với mình, nên mới nhắc nhở mình sớm rời khỏi nơi đây! "Kẻ" này là ai? Nhìn bề ngoài lúc này, có vẻ như là nước Hàn à nhầm nước Triệu. Thế nhưng, liệu có chắc chắn không có nước Tần không? Xưa nay, chuyện vua chúa cầu hiền mà nịnh thần sát hại hiền tài nhiều vô số kể, nếu quả thực Trưu Lật Tật là tiểu nhân, lo lắng mình vào Tần đe dọa đến quyền lực của lão, khó đảm bảo lão không "kiểm soát" mình trong bóng tối, trước khi tình thế hoàn toàn rõ ràng, thì không thể loại trừ khả năng này. Suy ngẫm một hồi, Trương Nghi cảm thấy mình hành động theo kế hoạch ban đầu vẫn là thỏa đáng hơn — cứ thân trắng vào Tần, nhìn rõ rồi tính sau.

Một trận tiếng bước chân vội vã, Phi Vân mang cơm đến. Lòng Trương Nghi hưng phấn lẫn lộn, lại quả thực đang đói, bèn ăn ngấu nghiến, cho đến khi ăn xong, lại thấy Phi Vân cứ lau nước mắt, không khỏi kinh ngạc: "Phi Vân, sao thế? Nói mau!"

Phi Vân mang theo tiếng khóc nói: "Trương lão gia không chịu lấy tiền, cũng không chịu rời khỏi nhà cũ... Em thấy, lão nhân gia có ý muốn chết rồi..."

Trương Nghi không nói hai lời, kéo Phi Vân liền đi. Lão nhân là quản gia "ba triều" của nhà họ Trương, từ khi rời khỏi An ấp, người trong ngoài nhà họ Trương đều gọi lão nhân là "Trương lão cha". Hơn bốn mươi năm qua, mưa gió tang thương của gia tộc họ Trương chính là sự hưng suy vinh nhục của lão nhân, lòng trung thành và công lao của lão nhân đối với gia tộc họ Trương hầu như không ai có thể sánh bằng. Giờ đây, lão nhân gia đã tuyệt vọng rồi sao?

Khu lăng mộ cách nhà cũ chỉ một đoạn đường núi lên xuống. Trương Nghi bước đi vội vã, chốc lát đã đến trước cửa nhà cũ. Ba năm không xuống núi, hắn phát hiện ra trang trại họ Trương đã có chút sinh khí hơn so với ban đầu, trước cửa đã được trồng lại một khu rừng nhỏ, chiếc cửa vòm bằng cỏ tranh cũng đã biến thành nhà cửa bằng gạch xanh. Hắn không kịp nhìn kỹ, đẩy cửa bước vào sân liền lớn tiếng nói: "Lão gia, con đã về."

Thấy không có ai đáp lại, Phi Vân nhẹ nhàng đẩy cánh cửa lớn nhà chính ra, đột nhiên, Phi Vân lại khóc thét lên: "Lão gia, sao khổ thế này chứ —!"

Trương Nghi vội vã vào nhà, chẳng ngờ lại bị cảnh tượng trước mắt làm cho chết lặng — Trương lão gia quỳ trước bài vị của mẹ Trương Nghi, máu tươi chảy đầm đìa, phần bụng đã bị mổ phanh, hai tay vậy mà vẫn nắm chặt thanh đoản kiếm cắm trong bụng!

"Lão gia..." Trương Nghi chợt nghẹn ngào, ngã sụp xuống đất, ôm lấy Trương lão gia.

Lão nhân khó nhọc mở mắt ra: "Công tử... chớ quên, đất mẹ..." rồi mềm oặt ngã vào ngực Trương Nghi.

"Lão gia, hãy yên lòng ra đi..." Trương Nghi nước mắt như mưa, nhẹ nhàng vuốt mắt lão nhân lại: "Phi Vân, mặc cho lão gia bộ y phục đẹp nhất, an táng ở lăng viên..."

Trời sắp rạng sáng, sương giá mịt mờ, một cỗ xe tang chậm chạp chạy lên con đường núi dẫn đến lăng viên họ Trương. Lúc mặt trời vừa mọc, một ngôi mộ mới đắp lên bên cạnh đại mộ của mẹ Trương Nghi.

"Trương huynh da, chủ tớ chôn chung, xưa nay chưa từng nghe thấy, huynh không sợ thiên hạ cười chê sao?"

"Trung tiết không phân cao sang hèn kém, đại nghĩa ở trong lòng ta. Thiên hạ cười chê ư? Chó má!" Trương Nghi phẫn nộ mắng một câu.

Phi Vân không kìm được bật cười, trên gương mặt tươi cười lại vương hai giọt nước mắt trong veo.

"Đại ca! Khiến tiểu đệ tìm khổ quá." Theo tiếng nói, vị thương nhân áo trắng tuấn tú phiêu nhiên đi tới, đi đến gần lại cảm thấy bầu không khí không đúng, quan sát qua loa một chút liền hiểu ngay, lập tức đi tới trước ngôi mộ mới cúi mình nghiêm cẩn: "Lão gia ơi, nhiều ngày được ngài chiếu cố, không ngờ ngài lại đột ngột ra đi... Lão gia đi cho thấu, vãn bối năm nào cũng đến sông Thúc Thủy, nhất định sẽ quét dọn mộ phần cúng bái cho lão nhân gia." Nói xong vậy mà vái dài xuống đất, nghiêm cẩn lạy ba cái.

Trương Nghi không khỏi thổn thức: "Hiền đệ à, thôi đi."

Phi Vân bước qua, lau nước mắt đỡ vị thư sinh áo trắng đứng dậy.

"Đại ca," vị thư sinh áo trắng nói: "Thung lũng sông Thúc Thủy này đã thành chốn thị phi, chi bằng chúng ta hôm nay đi luôn thì thế nào?"

Trương Nghi trầm mặc chốc lát, nhìn Phi Vân, Phi Vân nói: "Cho em hai canh giờ, tùy ý Trương huynh vậy."

Trương Nghi gật đầu nói: "Được, buổi trưa chúng ta sẽ đi."

Vị thư sinh áo trắng cười nói: "Đại ca vẫn chưa biết tên họ của tiểu đệ, thật là hổ thẹn. Ta tên là Ứng Hoa, hậu duệ họ Ứng nước Tề à nhầm nước Tống. Sau này cứ gọi ta là Hoa đệ đi. Tiểu muội, muội cũng nên gọi ta là đại ca chứ."

Phi Vân cười nói: "Da, họ Ứng nước Tống, đó chính là đại thương gia trong thiên hạ rồi, hèn chi mà cứ thần thần bí bí."

Ứng Hoa cười khanh khách nói: "Chẳng qua là lén lút đánh hổ thôi mà? Tiểu muội vậy mà lại lo lắng cho ta cơ đấy."

"Hai người các ngươi thật là, kim tiêm đối mâu măng." Trương Nghi cười nói: "Đừng cãi cọ nữa, chia tay chuẩn bị đi thôi. Hoa đệ, ta nghe theo sự phân phó của ngươi là được."

"Đại ca minh xét." Ứng Hoa cười nói: "Hành tung dọc đường, đều nghe theo ta, đảm bảo huynh không sao."

Ngày mùa thu lặn về tây, lúc rạng chiều ánh hoàng hôn nhuộm đỏ cả rừng thông trên núi, một đội xe thương nhân đã chạy ra khỏi thung lũng sông Thúc Thủy. Lên đến quan đạo, đoàn xe liền rầm rập chạy nhanh, dọc theo bờ bắc Đại Hà thẳng hướng tây mà đi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.