Lão Hồ năm nay bốn mươi tám, cầm tinh con hổ, hồi nhỏ có cái nhọt trên đầu, để lại cái sẹo to. Đời lão làm nhiều việc, đi gánh thuê, chăn bò chăn lợn, thổi kẹo, buôn trà lá, đi nhiều nơi, cuối cùng làm chân đánh trống cho gánh hát. Đánh trống đã chục năm, nay cũng gần ngũ tuần, lão cũng không muốn đổi nghề nữa. Ông bầu Bao hơn lão Hồ sáu tuổi, mặt lưỡi cày, suốt ngày trầm ngâm, ít nói, nhưng hễ nói thì cứ như là ăn phải thuốc súng. Trong gánh hát từ lớn cho đến bé, ai cũng bị ông mắng một vài lần. Nhưng ông bầu không nói gì lão Hồ, vì lão già rồi. Nói lão già là có ý, lão theo gánh hát chục năm nay; thứ hai, hồi ấy ở Trung Quốc, người gần năm mươi đã lên lão. Lão Hồ đánh trống, suốt ngày nghe hát, nhưng lão không thích gì lời trong các vở hát. Vì là người Sơn Tây, giống như lão Thôi thổi cơm ở Dương Tuyền vậy, không thích nghe hát bổ cứ i i a a. Lão khác với lão Thôi ở chỗ, lão Thôi không thích hát bổ từ đầu đến cuối, còn lão đánh trống, không thích điệu hát, nhưng lại thích những câu nói trong vở hát. Mà lão cũng không thích tất cả các câu nói trong vở hát, chỉ thích mỗi một câu, câu nói của một võ tướng râu dài. Hễ gặp chuyện gì gấp gáp, căng thẳng lão tướng cứ khoan thai lắc đầu, xua tay: “Khoan khoan... hãy khoan!”.
Gánh hát rời Dương Tuyền đến Du Thứ, rời Du Thứ đến Thái Nguyên. Thái Nguyên rộng lớn, phải hát ở đấy hai mươi lăm hôm. Rời Thái Nguyên đi Ngũ Đài. Ở Ngũ Đài gặp cô đào Xuân Yến của một gánh hát khác. Ông bầu Bao trước đây đã gặp Xuân Yến, cô đào này mâu thuẫn với ông bầu cũ nên muốn nhập vào gánh hát của bầu Bao. Gánh hát của bầu Bao không có đào kép nào giỏi, chỉ là gánh hát loàng xoàng, bây giờ có Xuân Yến, lần đầu tiên bầu Bao nở nụ cười tươi rói. Có thêm nữ tài danh Xuân Yến, gánh hát không còn là gánh hát cũ, mọi thành viên trong gánh hát như lớn hơn. Hôm qua rạp chỉ kín bốn phần, hôm sau rạp không còn chỗ trống. Những vở trước đây không hát nổi, nay hát được tất. Nhưng tay trống lão Hồ không thấy Xuân Yến hát có gì li kì đặc sắc, chỉ thấy giọng cô ta cao vút, thanh hơn những giọng hát khác. Nhưng lão Lí gõ phách lại nói, chính cái giọng ấy rất quý đối với hát bồ, giống như sợi dây thép, có những chỗ giọng của người khác không lên cao nổi, cô ta hát lên nổi; người khác lên chỉ một loáng như quẹt que diêm, nhưng cô ấy ngân dài đến tàn điếu thuốc. Vì có thêm Xuân Yến, gánh hát không rời nổi Ngũ Đài để đi nơi khác, hát liền một tháng ở đấy. Hình như cứ hát ở đây quanh năm vẫn kiếm ăn được. Hát những vở như Hồng lâu mộng, Tây sương kí, những tích Giọt lệ phấn son, Nước mắt của nàng Quý Phi, hát Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài hay tích Bạch xà nương... Có điều lão Hồ không thích là, không còn hát những tích cũ có vai võ tướng râu dài, có vai võ tướng mới có câu “khoan khoan... hãy khoan!”. Có cô đào Xuân Yến, tất cả trở thành những tích hát của đàn bà.
Xuân đi hè đến, cuối cùng thì gánh hát cũng rời Ngũ Đài sang Phồn Trĩ. Lão Hồ ở Ngũ Đài này cũng chán lắm rồi. Ở Phồn Trĩ lúc hát vở Nhớ trần gian xảy ra một chuyện. Hằng Nga trên sân khấu nhớ trần gian, nàng từ trên trời xuống trần gian, ở giữa có cảnh Vương mẫu nương nương sai lính xuống bắt nàng về. Thế lực của Vương mẫu nương nương rất lớn, binh lính múa may một lúc, cũng là để Hằng Nga tạm xả hơi. Lúc này lão Hồ mót đái lắm, nhờ lão Lí gõ phách ngồi bên kiêm luôn đánh trống, lão chạy ra sau sân khấu để đi. Huyện Phồn Trĩ nghèo, không có rạp hát, sân khấu dựng ngay bãi đất trống, chung quanh quây vải để bán vé. Lão Hồ vén vải ra ngoài, trên đầu là vầng trăng tròn. Trên người lão toàn là mồ hôi, gặp gió, lão rùng mình. Người run rẩy, bước thấp bước cao đến một gốc cây, tè một bãi. Xong việc, định quay vào thì có tiếng động ở phía sau gốc cây. Lão Hồ bình tĩnh nhìn, dưới ánh trăng là một đống xiêm y xanh xanh đỏ đỏ. Nhìn kĩ lại, hình như là Xuân Yến trong vai Hằng Nga. Mười năm trước, lão Hồ còn đi bán trà, đã có một đời vợ. Vợ chết, mười năm nay không gần đàn bà. Lúc này chỉ một sai lầm trong ý nghĩ, người nóng lên, không còn tự chủ nổi, lão bước tới. Tới nơi, vì cây hoè che khuất nên không trông thấy gì, chỉ nghe tiếng nước xè xè. Nàng Xuân Yến đột ngột ôm quần đứng bật dậy, mặt đối mặt với lão Hồ, làm lão giật mình. Nếu như chuyện chỉ đến đây, ai đi đường nấy, mọi người về với vở hát, coi như không có chuyện gì. Nhưng Xuân Yến vào gánh hát mới hai tháng, chưa một lần nói chuyện với lão Hồ. Cũng vừa lúc ấy lão Đỗ tay phèng la cũng ra đi tè, trông thấy Xuân Yến và lão Hồ đứng đối mặt nhau, cho là đã có chuyện gì rồi, lão ta kêu lên. Lúc này Xuân Yến ngượng, vội cho lão Hồ một cái tát, khóc lóc chạy vào nơi có ánh đèn.
Tối hôm ấy vẫn diễn xong vở Nhớ trần gian. Nhưng tan buổi hát, toàn thể diễn viên trong gánh hát, bất kể đào hay kép, tất thảy đều biết chuyện lão Hồ nhìn trộm Xuân Yến đi đái. Nửa đêm ăn xong mì, mọi người đi ngủ ở hậu đài, bầu Bao gọi lão Hồ ra trước sân khấu. Bầu Bao không nói gì, chỉ sa sầm nét mặt với lão Hồ. Mặt lão Hồ lúc tím tái, lúc nhợt nhạt, chìa môi giải thích với ông bầu:
- Không trông thấy gì!
Bầu Bao không nói gì.
Lão Hồ:
- Nếu không, tôi xin đi.
Ông bầu nhe răng, hở cả lợi:
- Dào ôi, một bãi nước đái, đáng gì.
Quá nửa đêm, mọi người ngủ say, lão Hồ lén thu xếp đồ đạc, nhân có ánh trăng, bỏ gánh hát mà đi. Đi chừng một dặm, lão quay đầu nhìn lại, vẫn thấy cái đèn sáng đơn độc treo trên sân khấu chợt lão khóc.
Lão Hồ bỏ gánh hát, từ Phồn Trĩ về Ngũ Đài, lại làm nghề cũ, đi gánh thuê. Lão gánh than, gánh củi, gánh rau, gánh gạo thuê từ chân đèo lên đỉnh đèo, Ai thuê gì gánh nấy. Nhưng người gần năm mươi không thể bằng tráng niên. Cánh trai tráng gánh đi mất bốn tiếng đồng hồ, lão Hồ phải tám tiếng. Cánh trai tráng gánh lên đỉnh đèo còn đùa vui, nhưng lão Hồ lên đến nơi chỉ ngồi thở. Nhưng gánh một tháng rồi cũng quen. Có điều lão ít nói. Mà cũng chẳng biết nói gì.
Hôm ấy, lão gánh gạo, gặp một người chữa bệnh chai chân đang ngồi bên vệ đường. Người này treo một mảnh vải trắng bên vách đá, trên mảnh vải vẽ một bàn chân thật to; trên mặt đất cũng trải một mảnh vải, trên mảnh vải là vô số mảnh chai chân cắt ra, tất cả đều khô đen, trông như những hạt đỗ. Lão Hồ không gặp thầy lang chữa chai chân không cảm thấy gì, nhưng hễ gặp là thấy đau. Cởi giày ra thấy da chân dày cộp, đầy những chai, kết quả của hai tháng gánh thuê. Lão Hồ dựng đòn gánh vào vách đá, ngồi trước thầy lang, duỗi đôi chân to tướng ra. Thầy lang cứ cậy ra một nốt chai, lão Hồ lại nhăn nhó. Cuối cùng, lấy ra được ba mươi hai cái nốt chai chân. Mỗi cái như vậy mười đồng, ba mươi hai cái vị chi ba trăm hai mươi đồng. Lúc trả tiền, lão Hồ phát hiện anh này tay có sáu ngón. Anh này nhận tiền rồi ngước lên, khuôn mặt thật thanh tú. Nghe anh ta nói, lão Hồ vui hẳn lên, thì ra cùng quê Sơn Đông. Hai tháng nay lão Hồ không nói, lúc này lão cười, hỏi:
- Chú em người vùng nào ở Sơn Đông?
Anh kia nhận ra tiếng lão Hồ, cũng cười:
- Người phủ Thái An.
- Tôi người Hà Trạch. Chú em sao lại đến tận đây?
Người chữa chai chân:
- Người Sơn Tây đi nhiều, chân nhiều chai.
Lão Hồ cười khà khà, lại hỏi:
- Sau đây chú em đi đâu?
Anh kia:
- Muốn đi Nội Mông, người ở vùng ấy chăn dắt gia súc nhiều, có thể chân cũng bị chai.
Lúc này lão Hồ chợt nhớ ra một việc. Hồi đầu năm theo gánh hát đến Dương Tuyền, lão Thôi người Hà Nam thổi cơm đấy có nhờ nhắn tin cho một người ở Nội Mông. Hồi ở Dương Tuyền hai người cùng ngủ ở chái bếp, suốt đêm nói với nhau không hết chuyện. Bản thân lão đi đi dừng dừng, bây giờ lão ra khỏi gánh hát, lưu lạc sang Ngũ Đài. Lão liền nhờ anh chàng lang băm chữa chai chân nhắn tin giúp, nhờ anh ta đến Nội Mông, nhắn cho Bạch Hài, con bạn của bạn. Nói xong, lão vẫn chưa yên tâm, phải nói thêm:
- Nếu là người khác, tôi không dám phiền, nhưng là cùng quê.
Lão thấy anh này đang suy nghĩ, chừng như không sẵn sàng, lão liền lấy ra một đồng bạc trắng, là tiền công của gánh hát lão vẫn giữ trong người, lão đặt đồng bạc lên mảnh vải:
- Lần đầu gặp nhau, lẽ ra không nên phiền chú em.
Lão lại nói một câu trong vở hát:
- Bạn nhờ nặng như Thái Sơn.
Cũng là để chỉ quê của anh này ở Thái An. Người chữa chai chân có vẻ ngượng, nhìn đồng bạc để trên mặt đất, mặt đỏ lựng, nói:
- Một lời nói là đủ rồi, cần gì tiền với nong.
Nói vậy thôi chứ anh không trả lại đồng bạc, vì thấy tiền là thèm rồi. Lão Hồ biết anh này là người bụng dạ chật hẹp, nhưng càng là con người như thế, lão càng yên tâm. Lão dặn thêm: người ấy tên là Nghiêm Bạch Hài, làm nghề thiến gia súc, nói giọng Tấn Nam, đuôi mắt trái có cái nốt ruồi. Nếu gặp thì bảo anh ấy về quê ngay.
Lúc này người chữa chai chân ngước lên:
- Vậy nhà anh ấy có chuyện gì mà phải gọi về?
Lúc này lão Hồ cũng ngớ ra. Lão vỗ trán suy nghĩ, lão Thôi nấu cơm ở Dương Tuyền nói với lão mấy tháng nay rồi, bây giờ không sao nhớ nổi. Cuối cùng, lão vả vào miệng mình:
- Cứ bảo là nhà có việc, phải về ngay.
Lại nói thêm:
- Dù thế nào cũng phải về ngay.
Nhưng chợt nghĩ ra điều gì, lão hỏi:
- Chuyện trò nửa ngày rồi mà không biết tên chú em là gì. Chú em tên gì nhỉ?
Người chữa bệnh chai chân:
- Em là La, cứ gọi là Tiểu La.