Những kẻ có vai có vế dần dà cũng bỏ rơi tôi luôn và tôi đã có thể tự cứu lấy thân mình, nhưng những dấu ấn trong đầu thì chẳng làm sao xóa đi được. Chẳng có gì mà nói. Họ bảo tôi: “Đi đi, anh là đồ vô tích sự!...”
Tôi bảo: “Tôi sang châu Phi đây! Càng xa càng tốt với tôi!”
Thế rồi tôi được tuyển lên làm công trên một con tầu biển của hãng Hải tặc hợp nhất [59*]. Tầu này chạy đến miền Xích đạo, chở bông sợi, các sĩ quan và công chức.
Con tầu đã khá cũ, người ta đã gỡ cả tấm biển đồng trên boong trên mà trước kia còn đọc được ở đó năm sinh của nó. Cái tuổi cao của con tầu vừa gây cho hành khách nỗi lo âu lại vừa làm đề tài cho lắm câu chuyện bông phèng.
Người ta nhận tôi lên tầu, cốt để tôi thử làm quen với cuộc sống ở các thuộc địa. Trên tầu cũng có lắm người tốt bụng, muốn cho tôi có thể có cơ hội thành công. Còn tôi thì chỉ thèm muốn được bay nhảy, nhưng lại phải luôn luôn tỏ ra mình là đứa có ích khi mình không phải là kẻ giầu có, hơn nữa tôi cũng chưa học xong, mà việc học lại không kéo dài được. Tôi cũng chẳng có bao nhiêu tiền để sang tận Mỹ, đành tự nhủ mình: “Thôi ta sang châu Phi!”. Và thế là tôi trôi nổi sang miền Xích đạo, nơi mà người ta đảm bảo cho tôi có ngay được công ăn việc làm, miễn là tôi sống có chừng mực và hạnh kiểm tốt.
Những dự báo ấy làm cho tôi trở nên mơ mộng. Bản thân tôi chẳng có gì nhiều, nhưng có thể nói chắc là đứng đắn tử tế, thái độ khiêm tốn, biết cung kính khiêm nhường và luôn lo trễ giờ, lại càng e dè không bao giờ có ý vượt qua mặt người khác, tóm lại là con người tế nhị...
Khi người ta đã sống sót thoát ra được khỏi cái lò sát sinh quốc tế đang điên loạn, thì dẫu thế nào đấy cũng đủ là một chứng chỉ về mặt khéo xử và kín đáo. Nhưng ta hãy trở lại cuộc viễn du này đã. Khi còn trong vùng biển châu Âu thì chưa có dấu hiệu nào báo trước là không lành. Các hành khách chẳng có việc gì làm, túm tụm với nhau thành từng nhóm nói cười nheo nhéo dưới bóng râm ở khoảng giữa những khoang tầu, trong các buồng vệ sinh, trong phòng hút thuốc. Toàn những chuyện bét nhè, tào lao suốt từ sáng đến tối. Họ thay nhau nôn ọe, ngủ gà ngủ gật và gào thét và hình như họ chẳng lúc nào mà không tiếc rẻ cái châu Âu.
Con tàu của chúng tôi mang tên: Đô đốc Bragueton. Nó chỉ còn chịu đựng được cái vùng nước ấm này nhờ có nước sơn. Hết lớp này đến lớp khác sơn phết lên nhau tạo thành một cái vỏ thứ hai của tầu Đô đốc Bragueton y như một củ hành tây. Chúng tôi lênh đênh trôi về phía châu Phi, cái châu Phi thật, châu Phi lớn; nơi có những khu rừng không ai dò thấu được, đầy những ma thiêng nước độc, những nơi quạnh quẽ chưa ai đặt chân đến, những đại bạo chúa da đen đằm mình dưới ngã ba những con sông chảy không biết đến tận đâu. Chỉ cần một hộp lưỡi dao cạo “Pilett”[60*] là tôi có thể đổi được của họ những cặp ngà voi dài thế này này, lại cả những con chim màu sắc lòe loẹt, những đứa nô lệ còn nhỏ tuổi. Thật là đầy hứa hẹn. Cuộc sống mà! Hoàn toàn không giống với cái châu Phi đã bị lột vỏ của các hãng quảng cáo, các tượng đài, các đường sắt và kẹo nu-ga. Không đâu! Chúng tôi sẽ đến thăm tận cốt lõi của châu Phi đích thực! Chúng tôi, những hành khách say bí tỉ của tầu Đô đốc Bragueton!
Nhưng, ngay sau khi qua được bờ biển Bồ Đào Nha thì mọi sự bắt đầu xấu đi. Có buổi sáng, mở mắt ra là chúng tôi đã không còn chịu được cái oi nồng nôn nao cả người. Cứ như bị nhốt trong một lò hấp nóng hừng hực, bứt rứt vô cùng. Nước trong cốc, dưới biển, không khí, chăn mền, cả đến mồ hôi trên người, tất cả, đều nóng hầm hập. Từ đấy, đêm cũng như ngày, không còn cái gì là mát mẻ dưới tay, dưới đít, trong họng, trừ mấy cục đá trong ly uýt-ki ở quầy rượu. Thế là một nỗi tuyệt vọng đè nặng lên những hành khách trên con tầu Đô đốc Bragueton bị cầm chân không còn rời ra khỏi cái quán rượu, như những kẻ bị yểm bùa, bị bắt vít vào những chiếc quạt máy, bị hàn gắn vào những cục đá nhỏ, hết bài bạc, hối tiếc lại dọa dẫm nhau với những nhịp điệu rời rạc.
Nhưng cái đó cũng chẳng kéo dài. Trong sự ổn định vô vọng của cái nóng, toàn bộ những con người được chứa trên tầu bón cục lại thành một khối bét nhè say khướt. Họ di động trên các boong tầu mềm oặt y như những con cá mực lượn lờ trong bồn nước nhạt nhẽo vô vị. Chính từ lúc đó mà ta càng dễ thấy bộc lộ cái bản chất của người da trắng khi đã được kích động, buông thả một cách thật là bừa bãi phóng túng, cái bản chất đích thực của họ, hoàn toàn như trong chiến tranh. Cái lò hấp nhiệt đới ấy làm cho bản năng họ nẩy nở y như loài cóc nhái, rắn độc sinh sôi vào tháng tám ở những kẽ nứt bên sườn các nhà tù. Trong cái băng giá châu Âu, trong những cảnh âm u kín đáo của phương Bắc, ngoài những cuộc chém giết, người ta chỉ hoài nghi sự tàn bạo nhung nhúc ra của những người anh em này, nhưng khi đã được căn bệnh sốt rét chết tiệt của vùng Xích đạo chọc ghẹo thì lập tức những cái thối nát của họ tràn ngập ra khắp mặt bằng. Thế là họ điên loạn lên bứt hết cúc, phanh hết áo quần, cái dơ dáy bậy bạ toàn thắng và trùm phủ lên toàn thể. Đó là sự thú nhận sinh vật học. Ngay sau khi lao động và băng giá không còn gò bó ta nữa, gọng kìm đã nới lỏng chốc lát, là ta có thể nhận ra ngay ở người da trắng, như ta nhận ra ở một bến bờ vào lúc trời quang và thủy triều vừa rút, cả một sự thật được phơi bầy: những cái ao tù thối khắm, lều bều những xác súc vật, cua cáy, cứt đái.
Cứ thế, qua khỏi Bồ Đào Nha, tất cả mọi người điên cuồng buông thả bản năng của họ ra, được hơi men nâng đỡ, và cũng còn do cái cảm giác khoái trá kín đáo được ngao du một chuyến miễn phí tuyệt đối, nhất là đối với đám quân nhân và đám viên chức. Được ăn uống, ngủ nghê trong bốn tuần lễ liền mà chẳng mất đồng xu nào thì làm gì mà chẳng mê sảng với đồng tiền dành dụm được, phải không nào? Chỉ có mình tôi là thằng phải trả tiền, do đó, ngay sau khi phát hiện ra cái đặc thù ấy, tôi đâm ra hết sức trâng tráo và rõ ràng là không sao chịu nổi.
Nếu như tôi có được một vài kinh nghiệm về các giới thuộc địa này, thì ngay từ lúc xuất phát ở Marseille, tôi, một bạn đường không xứng đáng, có lẽ đã quỳ xuống mà xin được xá lỗi và sự khoan dung của ngài sĩ quan lục quân thuộc địa, mà chỗ nào tôi cũng gặp, một sĩ quan có cấp bậc cao nhất ở đây, và có lẽ để được bảo đảm hơn, tôi cũng hạ mình dưới chân ngài viên chức lâu năm nhất. Như vậy, có lẽ những vị hành khách quái dị này sẽ mở lượng cho tôi được sống cùng với họ mà không hề hấn gì? Nhưng, ngu dốt quá, cái ý định vô ý thức được thở hít cùng với họ suýt nữa đã khiến tôi phải trả giá bằng mạng sống.
Con người ta chẳng biết sự hãi thế nào cho vừa. Nhờ một vài sự khôn khéo, tôi không để mất đi cái còn lại của mình là lòng tự ái. Và mọi chuyện đã diễn ra thế này đây. Một thời gian sau khi vượt qua quần đảo Canaries, tôi được một cậu bồi phòng mách cho biết là họ đồng lòng với nhau coi tôi là một đứa trâng tráo, thậm chí hỗn hào nữa?... Họ còn nghi ngờ tôi là ma cô và đĩ đực... Lại cả tí chút nghiền thuốc phiện trắng... Nhưng độ mới là phần phụ thôi... Rồi họ còn suy diễn ra rằng tôi phải chạy khỏi nước Pháp hẳn là để trốn tránh những hậu quả của một vài tội phạm gì đó rất nghiêm trọng. Tuy nhiên đấy mới chỉ là những thử thách bước đầu đối với tôi. Qua đó tôi cũng hiểu ra rằng cái tục lệ áp đặt cho con đường biển này là chỉ được tiếp nhận, với sự thận trọng cực kỳ và kèm theo những sự hiếp đáp, những hành khách phải trả tiền, tức là những hành khách không được miễn phí quân sự hoặc được bộ máy quan liêu dàn xếp, vì các thuộc địa Pháp, như người ta biết, chỉ là nơi lui tới của giới quý tộc nằm trong các “niên giám”.
Chung quy, một thường dân không tên tuổi có rất ít lý do có giá trị để có thể phiêu lưu đến những chốn này... Tên gián điệp, kẻ khả nghi, họ tìm ra cả nghìn lý lẽ để khinh khỉnh nhìn tôi một cách méo mó, trong những con mắt hau háu của bọn sĩ quan hay trong đám đàn bà miệng tủm tỉm theo điệu bộ đã được định trước. Dần dà, cả đến những kẻ phục vụ trên tầu, được khuyến khích, cũng xì xào ngay sau lưng tôi những lời nhận xét nặng nề chua chát. Họ đi đến chỗ bảo nhau không còn nghi ngờ gì nữà, rằng chính tôi là kẻ đại lỗ mãng và khó chịu nhất trên con tầu này. Sự hứa hẹn với tôi là thế đó.
Tôi vốn ngồi cùng bàn với bốn tay nhân viên bưu điện ở Gabon, đều mắc bệnh gan và móm mém. Đầu chuyến đi họ còn chuyện trò vui vẻ thân mật, nhưng rồi họ cũng không thèm nói với tồi lấy một lời. Có nghĩa là người ta đã thỏa thuận ngầm với nhau đặt tôi dưới chế độ giám sát chung. Tôi chỉ còn có thể ra khỏi phòng với vô vàn sự đề phòng. Không khí nóng bức đè nặng lên da thịt như những hòn đá tảng. Trần trùng trục, cài chốt cửa lại, không cử động gì nữa, tôi cố hình dung cái mưu đồ của đám hành khách quỷ quái này có thể đang bầy ra với nhau để hãm hại tôi. Tôi chẳng quen biết ai trên tầu, nhưng tất cả bọn họ thì hình như đều biết rõ tôi. Nhận dạng của tôi có lẽ đã thế hiện chính xác và ngay tức khắc trong tâm trí họ, như nhận dạng của một tên tội phạm trứ danh được công bố trên các báo.
Vô tình, tôi phải đóng vai trò cần thiết của một tên “đểu cáng bỉ ổi và kinh tởm”, nỗi ô nhục cho loài người, mà người ta đã thông báo khắp mọi nơi qua nhiều thế kỷ, ai cũng đều nghe nói đến, từ lũ quỷ ác đến các vị thánh thiện, nhưng lại thiên biến vạn hóa, chui lủi, khi dưới đất đen lúc trên trần thế, tóm lại là không sao tóm bắt được. Phải cách ly nó lại, “tên đểu cáng” ấy, vạch mặt chỉ trán nó ra, cầm giữ lấy nó, những tình huống đặc biệt mà người ta gặp phải trên con tầu chật hẹp này.
Một niềm hoan hỉ thật sự lan tỏa trên con tầu Đô đốc Bragueton. “Con quỷ sứ” ấy đã tới số, không còn thoát được nữa. Đó chính là tôi vậy.
Chỉ một sự kiện này cũng đáng cả chuyến đi rồi. Bị hãm giữa những kẻ thù đột khởi này, tôi cố được đâu hay đó, nhận dạng bọn này mà không cho chúng nó thấy. Để thực hiện được việc ấy, tôi ngầm dò xét chúng, nhất là vào buổi sớm mai, qua ô cửa nhỏ phòng tôi. Trước lúc ăn sáng, bọn chúng ra hóng mát, lông lá đầy người, suốt từ bẹn lên đến mi mắt, từ đít xuống tận gan bàn chân, anh chị nào cũng mặc quần áo ngủ, nắng xiên qua rõ mồn một nằm ườn trên các bờ thành tầu, tay cầm ly rượu, những kẻ thù của tôi ra đó để mà ợ, để mà ói mửa, nhất là tay thuyền trưởng hai con mắt long sòng sọc, đỏ ngàu vì lá gan của hắn đã phải làm việc cật lực ngay từ lúc mới rạng đông. Rất đều đặn, mở mắt ra là hắn săn đón tin tức của tôi từ những kẻ láo nháo khác, xem liệu “người ta” đã “quẳng tôi xuống biển” chưa? “Như nhổ một cục đờm ấy mà!”. Để minh họa, hắn nhổ luôn một bãi xuống mặt biển đang sủi bọt sóng. Trò đùa mới hay làm sao!
Con tàu Đô đốc chẳng tiến lên được tí nào, phải nói là nó đang lết trên mặt nước, tròng trành nghiêng ngả hết trái lại sang phải. Không còn là một chuyến đi nữa mà là một thứ bệnh hoạn, các thành viên của cái cộng đồng sớm mai này, xem xét họ từ cái xó của tôi, tôi thấy hình như tất cả bọn họ đều bị bệnh khá thâm căn, kẻ sốt rét, kẻ bệnh rượu, kẻ có lẽ tim la, sự sa sút của họ cách xa mười thước cũng thấy được, đã ít nhiều an ủi tôi đỡ nỗi u phiền riêng tư. Dù sao thì đây cũng là những kẻ chiến bại, những anh hùng rơm như tôi cả!... Họ làm ra bộ bạo gan đó thôi! Chỉ có sự khác biệt duy nhất ấy thôi! Đàn muỗi đã được trao nhiệm vụ hút máu và chưng cất cho đầy huyết quản của họ những thứ chất độc không còn thoát đi đâu được... Đến lúc ấy thì những con xoắn trùng đã bào giữa các tĩnh mạch của họ rồi... Rượu đã ngốn mất những lá gan... Nắng mặt trời đã làm rạn nứt những quả cật... Chấy rận bám chặt lông lá họ và bệnh eczêma loang rộng trên da bụng... Cái ánh sáng bỏng rộp kia lột nốt đi những võng mạc!... Chẳng còn bao lâu nữa thử hỏi họ còn lại cái gì nào? Một mẩu óc ư? Để làm được cái gì cơ? Tôi xin hỏi anh?... Họ sẽ đi về đâu đây? Để tự sát ư? Có lẽ chỉ có chuyện đó mới phục vụ được cho họ cái đó, một mẩu óc ở nơi họ đi đến... Nói gì thì nói, chứ sống già tại những xứ sở không có gì để giải trí cũng chẳng có gì đáng gọi là kỳ cục. Nơi người ta buộc phải soi vào tấm gương mà nước thủy đã bị ố xanh, để thấy rằng mình đã ngày càng xuống giá, ngày càng xấu đi... Người ta sẽ mau chóng rữa nát trên đám cỏ xanh, nhất là khi trời nóng kinh khủng.
Ở phương Bắc, ít ra thì anh còn giữ được thịt thà khỏi ôi thối, người phương Bắc đều có nước da mai mái. Giữa một người Thụy Điển chết với một chàng trai kém ngủ không khác nhau mấy tí. Nhưng một tay thuộc địa thì chỉ sau một ngày đổ bộ là dòi bọ đã nhung nhúc đầy người rồi. Những con dòi cực kỳ cần mẫn ấy chỉ chờ có thế và cũng chỉ buông tha khi họ đã đi đời. Những cái túi dòi bọ!
Chúng tôi còn phải lênh đênh trên biển tám ngày nữa trước khi ghé vào Bragamance, mảnh đất hứa đầu tiên. Tôi có cảm giác như mình đang ở trong một hộp thuốc nổ. Tôi không còn thiết đến ăn uống để khỏi phải ngồi cùng bàn với họ, và cũng không ra các boong tầu giữa ban ngày ban mặt nữa. Tôi chẳng nói một lời. Họ không còn thấy tôi đi dạo. Thật khó mà thu nhỏ mình lại như thế trong khi vẫn phải sống trên con tầu.
Tay bồi phòng, một tay chủ gia đình, muốn nói giấu cho tôi biết rằng những thằng cha sĩ quan thuộc địa vinh hiến kia, tay nâng ly rượu, thề với nhau nếu bắt gặp được tôi thì chúng sẽ cho tôi một cái tát rồi quẳng ngay xuống biển. Tôi hỏi tay ấy, tại sao lại thế, tay ấy bảo không biết gì cả và hỏi lại tôi đã làm gì để đến nông nỗi đó. Chúng tôi chỉ biết ngớ ra với nhau. Chỉ vì tôi dại mồm dại miệng, thế thôi.
Có thể là người ta không để cho tôi đi cùng với những người khó vừa lòng được như thế. Họ cũng quá rỗi rãi, suốt ba chục ngày trời bó cẳng với nhau lại chẳng có bao nhiêu chuyện để mà ham mê. Hơn nữa trong đời thường, ta thử nghĩ mà xem, trong một ngày bình thường thôi, có ít nhất là một trăm kẻ muốn anh chết quách đi, chỉ vì anh vướng chân họ trong cái hàng người chen chúc dưới ga xe điện ngầm, hay là họ đi qua căn hộ của anh họ ganh tị với anh, hay là họ mót đái mà cứ phải xếp hàng chờ đợi anh, rồi còn chuyện các con anh, và bao nhiêu chuyện khác. Không dứt. Chuyện đời là thế. Trên con tầu thì chuyện chen chúc càng dễ thấy ra, và lại càng khó chịu.
Trong cái lò ninh âm ỉ này, lớp bọt váng của những sinh vật bị nung sôi này vón lại với nhau, những linh cảm về một sự cô liêu mênh mông ở thuộc địa sắp chôn vùi họ và cả số phận của họ, khiến họ đã phải rên rỉ như những kẻ sắp chết. Họ níu kéo nhau, họ cắn xé, khốn khổ khốn sở. Vai trò quan trọng của tôi ở trên tầu mỗi ngày lại càng tăng lèn một cách diệu kỳ. Những sự xuất hiện hiếm hoi của tôi ở nhà ăn, lặng lẽ và thoáng qua, lại càng thực sự tạo thêm sự kiện, cứ mỗi lần tôi bước vào nhà ăn là cả một trăm hai chục hành khách ấy giật thót lên và xì xào với nhau...
Các sĩ quan của cái chế độ thuộc địa ấy lèn nhau với những ly rượu khai vị quanh bàn của thuyền trưởng, những tay nhân viên thu thuế của các ty thuốc lá, nhất là các cô giáo Congo, mà tầu Đô đốc Bragueton chở cả lô cả lốc, từ những giả thiết có ác ý đi đến những suy diễn vu khống để đôn tôi lên thành một con quỷ sứ.
Lúc lên tầu ở Marseille, tôi bất quá cũng chỉ là một thằng mơ mộng chẳng có nghĩa lý gì, thế mà bây giờ, do tác động của sự tập trung trêu chọc này của những tên bợm rượu và những con mụ nứng trôn, tôi bỗng dưng được phú cho cái uy thế rung động mọi người mà chính mình thì chẳng nhận ra.
Thuyền trưởng tầu này là một tay buôn lậu đại bợm và xấu xí. Hồi mới lên tầu, gặp nhau, hắn ta còn vui vẻ bắt tay tôi, nhưng bây giờ thì hình như hắn chẳng còn nhận ra tôi nữa, như thể người ta né tránh một kẻ đang bị truy tầm vì một vụ việc bẩn thỉu mà y là thủ phạm... Việc gì mới được chứ? Khi anh mang lòng hận thù người khác mà chẳng phải lo đến một nguy cơ nào cả, thì những chuyện bậy bạ của anh sẽ mau chóng được thuyết phục và duyên cớ tự nó khắc đến thôi.
Theo cái mà tôi tin là nhận ra được trong cái ác ý áp đảo tôi đang phải chống đỡ ấy, thì một trong số những cô giáo trẻ là người kích động cái nhân tố nữ trong những kẻ thủ mưu. Con bé này trở lại Congo đến mục xương đây, tôi hy vọng thế. Con bé ít khi rời ra khỏi bọn sĩ quan thuộc địa đưa nào cũng quấn ngang mình mảnh vải sặc sỡ và tô vẽ thêm lời thề mà chúng đã nói ra miệng là sẽ nghiền nát tôi như con sâu con bọ không hơn không kém trước khi cập bến sắp tới. Chúng hỏi nhau, phải chăng tôi chỉ khúm núm cho phải phép thôi. Tóm lại là chúng khoái trá. Con bé ấy hun nóng thêm lòng hăng say của bọn chúng, vẫy gọi giông tố ụp xuống boong tầu Đô đốc Bragueton, muốn rằng chỉ ngơi nghỉ sau khi chúng nó đã nhặt tôi lên như một con vật chỉ còn hổn hển sau trận đòn vì cái tội hỗn xược tưởng tượng, tóm lại là bị trừng phạt vì dám sống ở trên đời, bị đánh đập dữ dội, ứa máu ra, bầm tím lên, van xin lòng thương xót dưới gót giầy và cú đấm của một trong những gã mà con bé ấy đang rực người lên chiêm ngưỡng những đường gân thớ thịt, chiêm ngưỡng trận lôi đình kỳ diệu. Cái cảnh tàn sát mãnh liệt ấy đã làm cho buồng trứng đang ủ rũ của con bé bỗng tỉnh dậy. Cái đó đáng giá ngang với cú hiếp của một con khỉ đột. Thời gian trôi qua, và thật là nguy hiểm nếu để kéo dài thêm những cuộc đấu bò này. Tôi đã bị coi như con vật trong cuộc đấu. Toàn thể con tầu đòi hỏi thế rồi, và nó đang rung động đến tận các hầm tầu.
Biển khơi vây hãm chúng tôi vào cái vòng bị siết chặt lại. Cả đến các tay thợ máy cũng đã biết chuyện. Và chỉ còn khoảng ba ngày nữa là tầu sẽ ghé vào bến, ba ngày quyết định, nhiều hiệp sĩ đấu bò đã nộp đơn. Và tôi càng né tránh cuộc cãi vã này thì họ lại càng hung hăng hơn, dồn dập hơn đối với tôi. Những tên thầy mo ấy đã sẵn sàng ra tay. Họ kẹp tôi giữa hai căn ca-bin, phía sau một tấm rèm. Tôi thoát ra được, nhưng thật nguy hiểm nếu lại lao vào nhà tiêu. Khi mà mình chỉ còn phải lênh đênh mặt biển có ba ngày nữa thì tôi đã quyết định nhịn tất cả mọi việc trong nhà tiêu. Mấy cái ô cửa sổ nhìn ra biển là đủ rồi. Xung quanh tôi tất cả đều trĩu nặng thù hận và lo âu. Cũng phải nói là không thể ngờ được rằng cái mối lo âu ấy ở trên tầu lại thành mối lo vũ trụ như vậy, phải nói thật là thế. Nó trùm lên cả biển khơi, lên con tầu, và lên cả bầu trời nữa. Những kẻ vững vàng còn có thể trở thành kỳ dị, huống chi những tên đần độn viển vông ấy.
Một cuộc tế thần đây! Tôi sắp phải làm vật hy sinh đây. Sự việc diễn ra vào một buổi chiều sau bữa ăn mà tôi vì đói quá đành liều mò đến. Tôi đã phải chúi mũi vào đĩa cơm, không dám cả đến việc rút cái khăn tay ra thấm mồ hôi nữa. Chẳng còn ai ăn uống âm thầm kín đáo được như tôi lúc ấy. Máy tầu liên tục ì ầm, khe khẽ rung rung dưới đít. Mấy người ngồi cùng bàn có lẽ đã biết được những gì người ta bàn định về tôi, vì thật lạ lùng, hôm nay họ lại nói năng với tôi rất thoải mái, vanh vách những chuyện đấu kiếm, xỉa gươm, và còn hỏi han chuyện trò với tôi nữa... Cũng vào lúc ấy thì cô giáo Congo, cái con bé hôi mồm ấy, đi về phía phòng khách. Tôi đủ thì giờ để nhìn kỹ cái váy đăng ten diêm dúa khi con bé tiến đến bên chiếc đàn piano với dáng vẻ vội vàng bực dọc, để chơi những điệu nhạc có thể nói rằng đã bị cố tình lướt qua những chương cuối. Cảnh huống trở nên bồn chồn, trộm lén hẳn lên.
Tôi vọt ra, định trở về núp trong phòng mình. Sắp đến cửa thì bị một trong những tay đại úy thuộc địa, thằng cha ngực nở nhất và vạm vỡ nhất cả bọn, chặn ngay lại, không thô bạo nhưng có vẻ cương quyết. Hắn ra lệnh cho tôi: “Ta lên trên boong nào”. Chỉ mấy bước chân là chúng tôi lên đến đó. Trong bối cảnh này, hắn ta đội chiếc mũ kêpi vàng óng hơn và cài khuy kín suốt từ cổ xuống tận gấu áo, điều mà tôi chưa hề thấy từ lúc bắt đầu chuyến đi đến giờ. Chúng tôi đang ở trong một thứ nghi lễ đầy kịch tính. Tôi khá bối rối, tim đập thon thót đến tận rốn.
Cái mào đầu, cái hoàn hảo bất thường này khiến tôi đoán trước một cuộc hành quyết từ từ và đau đớn. Con người này gây cho tôi cái ấn tượng là một mẩu chiến tranh ngoan cố, lì lợm, sát nhân, mà người ta ném xuống chặn ngang con đường tôi đang đi.
Đằng sau hắn, ngay lúc đó lừng lững bốn thằng sĩ quan cấp dưới, ngáng cái cửa hành lang, chăm chắm đến tột cùng, hộ tống thần Tai ương.
Thế là chẳng còn cách gì chạy trốn. Cuộc chất vấn này hẳn là đã được chuẩn bị kỹ càng. “Thưa ông, đứng trước mặt ông là đại úy Frémizon trong đạo quân thuộc địa! Nhân danh các bạn đồng ngũ của tôi và các hành khách trên con tầu này, bất bình một cách đúng đắn về cách cư xử quá đáng của ông, tôi hân hạnh yêu cầu ông cho biết lý do!... Có nhiều chuyện ông nói về chúng tôi từ khi ông khởi hành ở Marseille là không chấp nhận được!... Nay đã đến lúc, thưa ông, phải nói rõ ra những lời trách móc của ông!... Ông hãy nói công khai ra những chuyện đáng xấu hổ mà ông thì thầm suốt hai mươi mốt ngày qua! Tóm lại, nói cho chúng tôi biết ông đã nghĩ gì...
Nghe những lời đó, tôi cảm thấy nhẹ nhõm hẳn đi. Tôi đã lo đến một cái chết không tránh được, nhưng cứ như lời hắn ta, tay đại úy, thì ra bọn họ lại tạo cho tôi một cách thoát nỗi hiểm nguy đây. Tôi phải lao ngay vào mà nắm lấy cái thuận lợi trời cho này. Mọi khả năng của sự hèn nhát đều trở thành niềm hy vọng kỳ diệu cho kẻ nào biết tận dụng. Đó là ý kiến của tôi. Chớ có bao giờ tỏ ra khó tính trước cái cung cách để thoát khỏi một vụ mổ ruột moi gan, lại càng không nên bỏ phí thì giờ đi tìm những lý do của một sự ngược đãi mà anh là đối tượng. Thoát ra khỏi đó đã đủ được coi là một nhà hiền triết rồi.
Tôi trả lời hắn ta với tất cả cái giọng tự tin mà tôi có thể có vào lúc ấy:
“Thưa đại úy! sao mà ngài lại có thể phạm vào một sai lầm phi thường đến thế! Ngài! Tôi! Sao lại có thể gán cho tôi tâm địa của một kẻ bội bạc đến như vậy? Thật là bất công quá đỗi! Tôi rất phật ý về điều đó, thưa đại úy! Tại sao thế? Mới hôm qua tôi còn là kẻ bảo vệ tổ quốc thân yêu của chúng ta! Tôi, mà dòng máu đã hòa chung dòng máu của ngài trong bao nhiêu năm qua những trận đánh không sao quên được! Đại úy đang định trút lên tôi nỗi bất công nào đây!”
Rồi tôi quay ra nói với cả bọn:
“Thưa các ngài, các ngài đã trở thành nạn nhân của một sự nói xấu tồi tệ nào đây? Lại đi đến chỗ nghĩ rằng tôi, dù sao cũng là một người anh em của các ngài, rằng tôi lại ngoan cố loan truyền những lời vu cáo ghê tởm về những sĩ quan anh hùng ư! Quá lắm! thật là quá lắm! Mà lại đúng vào lúc những người con quả cảm ấy, những người con anh dũng vô song ấy đang sẵn sàng, với lòng dũng cảm xiết bao, tiếp tục sự nghiệp bảo vệ thiêng liêng các thuộc địa bất diệt của chúng ta! Nơi đầy những vinh quang vĩnh cửu của các chiến sĩ diệu kỳ nhất trong giòng giống chúng ta. Những Mangin! những Faidherbe, những Gallieni ![61*]... Chà! thưa đại úy! Tôi ư? Vậy sao?”
Tôi bỏ lửng đấy. Hy vọng gây được cho mình cái vẻ xúc động. Rõ thật may mắn là tôi đã thực hiện được trong một chốc. Không để kéo dài mà phải tranh thủ ngay lúc cuộc nhạo báng đang hồi hưu chiến này, tôi tiến thẳng đến viên đại úy, chìa tay ra bắt cả hai tay hắn trong cái siết chặt thật cảm động.
Tôi bình tĩnh lại một chút, tay tôi nằm gọn trong tay hắn ta. Trong lúc nắm hai tay hắn, tôi tiếp tục liến thoắng giải thích và đưa ra hàng nghìn lý lẽ để đảm bảo rằng tất cả mọi sự giữa chúng tôi với nhau phải hiểu lại và lần này nhằm về cái phía tốt đẹp. Rằng thì là cái sự khờ khạo tự nhiên và ngốc nghếch của tôi là nguồn gốc duy nhất gây nên sự hiểu lầm quái ác này! Rằng thì là cái cách xử sự của tôi có lẽ đã thể hiện như một sự coi thường không hiểu được đối với các nam nữ hành khách trên tầu, “những người vừa là anh hùng vừa đầy quyến rũ... Cuộc hội ngộ theo ý trời của những nhân cách vĩ đại và những tài năng... Không thể quên những nữ nhạc sĩ điểm tô cho con tầu!...” Vừa tỏ ra chân thành tạ lỗi rộng rãi với mọi người, tôi vừa kết thúc bằng lời khẩn cầu được chấp nhận không trì hoãn và cũng không một hạn chế nào cho tôi được tham gia cái nhóm vui vẻ của những người yêu nước và hữu ái đó... Ngay từ lúc ấy, và mãi mãi về sau, tôi cố giữ một bộ mặt dễ thương... Không buông tay hắn, tất nhiên là thế, tôi lại càng hùng biện hơn.
Chừng nào người lính không bắn giết thì anh ta chỉ là một đứa trẻ con. Tha hồ mà vui đùa thoải mái. Anh ta vốn đã là người không có thói quen nghĩ ngợi, nên thấy người ta nói với mình là lập tức phải đem hết sức ra để cố mà hiểu mà tự giải đáp bằng những nỗ lực ì ạch nặng nề. Tay đại úy không giết tôi mà cũng chẳng phải lúc đang nhậu nhẹt, hắn chẳng làm gì với hai tay, cả hai chân cũng thế, hắn chỉ đang cố suy nghĩ. Như vậy cũng đã là quá lớn với hắn rồi. Xét cho cùng thì tôi đã tóm được gáy hắn.
Trong lúc cuộc thử thách về sự nhún nhường diễn ra như vậy thì tôi cũng dần dần cảm thấy lòng tự trọng đã sẵn sàng lìa bỏ mình, mờ nhạt dần, rồi thì nó buột hẳn ra, buông rơi hoàn toàn, có thể nói chính thức là thế. Nhưng nói thế nào thì nói đây vẫn là một thời điểm thật thú vị. Từ lúc xẩy ra như thế, tôi bỗng thấy mình trở thành tự do và nhẹ nhõm, tất nhiên là về mặt tinh thần. Có lẽ cái sợ là cái người ta luôn luôn cần đến nhất để gỡ cho ra những mớ bòng bong trong cuộc sống. Từ hôm ấy, về phần tôi, tôi chẳng còn mong muốn gì đến những thứ vũ khí hay đức tính nào khác nữa.
Các đồng đội của tay quân nhân không kiên định ấy, rõ ràng là được lệnh đến để mà vấy máu tôi và đùa nghịch những mảnh xương cùng những chiếc răng rơi rụng của tôi, thì lúc này cũng phải nhận lấy chiến thắng bằng sự tóm bắt những lời nói trong không khí. Đám dân sự được thông báo về một cuộc hạ thủ, hăm hở chạy bổ đến, lúc này cũng trơ mặt ra. Tôi cũng chẳng còn biết mình nói những gì nữa, trừ có việc là phải cố mà giữ cho được cái giọng trữ tình lâm ly, trong khi đó vẫn nắm chặt lấy hai tay viên đại úy, mắt đăm chiêu nhằm vào một điểm lý tưởng nào đó trong đám sương mù lả lướt mà con tầu Đô đốc Bragueton đang hướng tới trong tiếng máy phì phò và tiếng chân vịt quạt tóe nước. Cuối cùng, để chấm dứt tấn trò này, tôi buông một bàn tay, chỉ một thôi, của tay đại úy, đánh liều khoát một vòng qua đầu, và dõng dạc kết luận: “Thưa các ngài sĩ quan, giữa những dũng sĩ, chẳng lẽ chúng ta lại không thể hòa hợp được với nhau sao? Nước Pháp muôn năm nào, mẹ kiếp! Nước Pháp muôn năm!” Đấy là thủ thuật của tay đội Brandelore. Trong những trường hợp như thế này thì cậu ta luôn luôn thành công. Đây cũng là trường hợp độc nhất mà nước Pháp đã cứu sống tôi, chứ trước nay thì hầu như chỉ có ngược lại. Tôi để ý quan sát, thoáng thấy các thính giả của mình do dự vài giây, nhưng dẫu sao thì cũng thật khó cho một sĩ quan nào đó, dù có bực bội đến đâu, lại có thể công khai tát một người thường dân đang hô lớn như tôi vừa hô: “Nước Pháp muôn năm!”. Cái giây phút do dự ấy đã cứu vớt tôi.
Tôi dang rộng hai cánh tay vu vơ hú họa về phía cái nhóm sĩ quan đó, mời tất cả mọi người dự cuộc thết đãi của tôi để chúc mừng sức khỏe và chúc mừng sự hòa giải. Các nhà dũng sĩ ấy chỉ ngập ngừng một phút để rồi tiếp đó vùi đầu vào cuộc nhậu suốt hai giờ liền. Chỉ có đám đàn bà trên tầu là trố mắt nhìn chúng tôi, im lặng và có chiều thất vọng dần. Qua những khung cửa sổ của quán rượu, tôi nhận ra cô giáo đánh đàn piano bướng bỉnh lượn đi lượn lại giữa đám nữ hành khách như một con chó rừng vàng đốm. Các mụ này ngờ rằng tôi đã đánh lừa địch thủ để thoát khỏi cuộc phục kích và các mụ hẹn nhau sẽ tóm được tôi trên đường về. Trong lúc đó, đám đàn ông chúng tôi nhậu tràn cung mây dưới cái quạt máy vô tích sự nhưng ầm ĩ, vì từ khi qua khỏi Canaries, nó đã chẳng còn tác dụng trước cái khí hậu gay gắt nơi đây. Tuy vậy, tôi vẫn còn phải làm sao cho mình nói năng thật cao hứng, thao thao, để có thể vừa lòng các ông bạn mới của tôi, loại dễ dãi tầm thường. Lo mình lầm lẫn, tôi phải làm bộ thán phục lòng yêu nước và không ngớt nài nỉ các vị anh hùng ấy lần lượt kể và kể mãi những chuyện anh hùng quả cảm của họ ở thuộc địa. Cũng như những chuyện tiếu lâm, những chuyện anh hùng gan dạ luôn luôn làm vừa lòng đám quân nhân nước nào cũng vậy. Xét cho cùng, muốn đạt được một thứ hòa bình với đám này, quân nhân hay không, dẫu thật sự chỉ là ngưng chiến mong manh nhưng vẫn là quý giá, thì anh phải làm cho họ, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đều có thể được phô bầy, được đầm mình vào những chuyện huênh hoang ngốc nghếch. Làm gì có sự kiêu ngạo thông minh. Đó chỉ là một thứ bản năng. Mà cũng chẳng có người nào lại trước hết là không hợm mình. Vai trò của kẻ quỵ lụy ngưỡng mộ cũng là vai trò hầu như duy nhất được người đời khoan thứ cho nhau với ít nhiều khoan khoái. Với những anh chàng quân nhân này tôi cũng chẳng phải tốn sức gì cho lắm trong việc tưởng tượng. Chỉ cần không ngừng tỏ ra ngạc nhiên thán phục. Thật dễ ợt cái việc hỏi đi hỏi lại những chuyện chiến đấu. Thế là các anh bạn ấy được khoác lên người đủ thứ vinh quang. Tôi tưởng như mình được quay lại những ngày đẹp nhất trong bệnh viện. Cứ mỗi câu chuyện họ kể xong, tôi lại không quên tán thưởng, theo lối đã học được của Brandelore, bằng một câu thật mạnh mẽ: “Chà! Đó quả là một trang vàng trong Sử sách!” Không còn có công thức nào hay hơn được nữa! Cái hội mà tôi vừa được tham gia một cách trộm lén ấy, dần dần thấy tôi hay hay. Họ tuôn ra ông ổng những chuyện tầm phơ về chiến đấu mà trước đây tôi cũng đã từng nghe và từng kể trong những cuộc đua nhau khoác lác với các bạn cùng nằm viện. Có khác chăng chỉ ở cái khung cảnh và những chuyện tào lao của họ liên quan đến những núi rừng Congo chứ không phải xứ Vosges hay xứ Flandres.
Tay quan ba Frémizon, mới trước đó chưa lâu còn gánh lấy công việc tẩy rửa sự hiện diện nhơ nhuốc của tôi khỏi con tầu, thì từ lúc nhận ra cái cách của tôi nghe hắn ta chăm chú hơn ai hết, hắn bắt đầu phát hiện ở tôi hàng nghìn đức tính tử tế. Các huyết quản của hắn như dịu bớt bởi tác động của những lời khen độc đáo của tôi, cái nhìn của hắn sáng ra, đôi con mắt long sòng sọc và đỏ ngầu vì rượu cũng nhấp nháy qua cơn u mê và tự thâm tâm đã nhận dần ra cái giá trị thật của mình, nhờ hiệu quả kỳ diệu của những lời bình thông minh và xác đáng của tôi.
Rõ ràng là tôi đã thành một nhà sáng tạo ra sảng khoái! Thế là họ vỗ đùi vỗ vế nhau! Chỉ còn có tôi là biết làm cho cuộc sống dễ chịu, bất kể cái không khí hâm hấp của sự tàn lụi này! Liệu tôi có quá suy nghĩ về sự tuyệt diệu đó không?
Trong lúc cả lũ chúng tôi lảm nhảm như vậy thì con tầu Đô đốc Bragueton càng giảm tốc độ lại, nó chạy ì ạch như đang kiệt sức; xung quanh không còn một phân tử không khí nào chuyển động, chúng tôi đang nặng nề trườn theo dọc bờ biển như lao dần vào một vũng rỉ đường đặc xịt.
Cả cái bầu trời cũng vậy, cũng đặc xịt lại, chỉ còn như một mảng đen sà xuống mà tôi ngó trộm với lòng khao khát. Quay lại với đêm tối là sự lựa chọn lớn nhất của tôi, dẫu có phải khó nhọc, than van thế nào, trong bất kể tình trạng nào! Frémizon thì vẫn thao thao bất tuyệt. Đất liền tôi thấy đã sáp lại gần rồi, nhưng cái kế hoạch trốn lủi đang gợi cho tôi trăm nghìn mối lo âu... Dần dà câu chuyện của chúng tôi không còn là quân sự nữa mà chuyển sang các thứ chuyện chớt nhả rồi bậy bạ ra trò, cuối cùng thì bung ra hết, không còn biết đầu cua tai nheo thế nào nữa; các vị khách mời của tôi lần lượt khước từ hết và ngủ gật cả với nhau, tiếng ngáy lại càng ru cho họ say giấc. Biến ngay đi bây giờ hay chẳng còn bao giờ nữa. Không thể để trôi đi những thời khắc tạm ngưng cơn tàn bạo, mà những thể chế đồi bại nhất, hung hăng nhất trên đời này bất đắc dĩ phải chịu theo, dẫu trái hẳn bản chất của chúng.
Lúc này chúng tôi đã buông neo, rất gần bờ biển. Mấy ngọn đèn leo lét đung đưa trên bờ.
Có đến cả trăm chiếc thuyền độc mộc ùa ra rất nhanh, chở những người da đen hò rao inh ỏi, bu lấy suốt dọc mạn tầu. Những tay da đen này giành nhau bám lấy các cầu tầu để mời chào phục vụ. Chỉ trong vài giây là tôi đã vác được ra cầu thang chính mấy cái bọc gói ghém quấy quá và lỉnh ngay theo một trong những tay lái thuyền mà cả nét mặt lẫn dáng người lẫn vào bóng đêm không còn nhận ra được. Đến chân cầu thang, mấp mé sóng nước rập rờn, tôi băn khoăn chưa biết mình sẽ đi đến đâu.
- Ta đang ở đâu đây nhỉ? Tôi hỏi.
- Ở Bambola-Fort-Gono! cái bóng ấy trả lời.
Giữa cảnh ồn ào hỗn độn, chúng tôi bắt đầu được bươn chải tự do. Tôi giúp một tay với anh chàng để chèo thuyền cho mau hơn.
Trong lúc trốn chạy, tôi vẫn còn đủ thời gian để một lần nữa nhận rõ những người bạn đường nguy hiểm trên tầu. Dưới ánh đèn mờ trên các boong, ngợp trong cái ngất ngây và đau chướng bao tử, họ đang tiếp tục lên men, ú ớ gầm gừ trong cơn mơ ngủ. No nê, phè phỡn, nằm ườn ra với nhau, lúc này thì tuốt tuột đều giống nhau cả, sĩ quan hay viên chức, kỹ sư hay nhân viên thuế, mụn nhọt, bụng phệ, xanh tái, pha trộn nhau, y hệt nhau. Chó nhà hay chó sói thì trong lúc ngủ cũng như nhau cả thôi.
Chỉ ít lúc sau, tôi tìm được vào đất liền. Đêm tối càng dầy đặc dưới những tán cây, và phía sau đêm tối là tất cả sự đồng lõa của thinh không.