Một khi Robinson đã rời Rancy, tôi thấy rõ cuộc sống khởi động trở lại, ví dụ như số bệnh nhân đến đông hơn thường lệ một ít, rồi lại chẳng có người nào. Thoạt đầu là do xảy ra nạn thất nghiệp, nạn khủng hoảng ở các vùng lân cận, mà cái đó là tai hại nhất. Thế rồi thời tiết đang mùa đông mà lại dịu ấm và khô ráo, trong khi đối với nghề y chúng tôi cần khí hậu ẩm ướt và giá lạnh. Cũng chẳng có dịch bệnh gì cả, thật là một mùa trái khoáy, hỏng hết.
Tôi đã thấy các đồng nghiệp cuốc bộ đi thăm bệnh, nói cho vui thì đó là những cuộc đi dạo, kỳ thật thì họ bực bội bởi lẽ phải dè sẻn không dám dùng đến ô tô. Tôi ra đường chỉ cần khoác cái áo mưa. Không biết có vì thế mà bị một trận cúm dai dẳng? Hay vì tôi có thói quen ăn quá ít? Mọi cái đều có thể đúng. Hay là bệnh sốt rét lại tái phát? Cuối cùng, chỉ vì một cú cảm lạnh nhỏ, đúng vào trước mùa xuân, tôi bắt đầu ho không sao dứt, bị ốm tệ ốm hại. Một tai họa. Buổi sáng hôm đó tội không còn thể nào ngóc dậy nổi. Vừa lúc cô thằng nhỏ Bébert qua cửa. Tôi nhờ gọi chị ta. Chị lên nhà. Tôi nhờ chị đi thu hộ một món tiền nhỏ người ta còn nợ trong khu phố. Món duy nhất, món sau cùng. Lấy được nửa món này thì tôi có liệt giường cũng đủ sống được mười ngày.
Trong mười ngày nằm dài ấy, có thì giờ mà ngẫm nghĩ. Tôi quyết định, ngay sau khi bình phục sẽ rời khỏi Rancy. Vả lại hai khoản nợ đã quá hạn rồi... Giã biệt bốn món đồ gỗ nữa thôi! Tất nhiên không cho ai biết, tôi sẽ rút êm thôi và người ta sẽ chẳng còn bao giờ thấy tôi ở La Garenne-Rancy. Tôi có thể sẽ ra đi không để lại dấu vết và địa chỉ. Khi con vật khốn nạn, thối tha vây hãm anh, sao còn tranh cãi làm gì? Không phải nói gì hết, cút luôn đi là tinh khôn.
Với tấm bằng của mình, tôi muốn hành nghề ở đâu chẳng được, quả là thế... Nhưng ở nơi khác thì chưa chắc sẽ được dễ chịu hay lại xấu hơn... Tất nhiên là khá hơn lúc ban đầu, rồi lại phải có thời gian để người ta tìm hiểu mình, và bắt đầu hồ hởi với mình hoặc tìm cách hại mình. Chừng nào người ta còn phải dò tìm cho ra chỗ nào có thể dễ gây hại cho anh, thì anh còn được yên, nhưng đến khi đã nắm được thóp của anh rồi thì lại trở lại y hệt như cũ, đâu cũng thế thôi. Tóm lại, cái thời gian ngắn ngủi, chưa quen biết nhau ở chỗ mới, là cái thời gian dễ chịu nhất. Sau đó lại tái diễn vẫn một trò độc địa. Đó là bản chất của họ. Tất cả là có chờ đợi quá lâu đến tận lúc người ta biết tỏng những nhược điểm của mình. Phải đập chết những con rệp trước khi chúng tìm được các kẽ hở. Đúng không nào?
Còn đối với các bệnh nhân, các khách hàng, tôi cũng không chút ảo tưởng vào họ... Có lẽ ở một khu phố khác họ cũng chẳng kém tham lam, chẳng kém chậm hiểu, chẳng kém hèn hạ như ở đây đâu. Cùng một thứ vang, cùng một thứ xi-nê, cùng những trò đua nhau ngồi lê đôi mách, cùng cái khoản nhiệt tình với sự ỉa đái, từ lỗ mồm xuống lỗ đít, lấy cái đằng kia mà suy cái đằng này thì cũng vẫn cùng một bầy người nặng nề, thôn dã, loăng quăng phía hết chuyện này đến chuyện khác, luôn luôn huênh hoang ác khẩu, buôn lậu, gặp dịp là sửng cồ lên với nhau.
Nhưng, nếu như người bệnh còn biết giở mình trên giường, thì trong cuộc sống, chúng ta cũng có cái quyền được đảo lộn từ sườn bên này sang sườn bên kia, đó là tất cả những gì ta có thể làm và tất cả những gì ta đã tìm được để làm vật phòng vệ chống lại Định mệnh. Chớ có hy vọng quẳng được nỗi cực nhọc ở đâu đó trên dọc đường. Cái cực nhọc cũng giống như người đàn bà kinh khủng mà mình đã trót lấy làm vợ. Có lẽ thà tìm cách mà yêu thương chút ít còn hơn là suốt đời đánh đập nhau cho mệt xác. Bởi lẽ dĩ nhiên là anh không thể giết vợ, phải không nào?
Dù sao thì tôi cũng vẫn cứ hết sức lặng lẽ rút khỏi căn gác lửng ở Rancy. Đi qua lần cuối cái lều của bà gác cổng, tôi thấy họ ngồi quanh chai vang và đĩa hạt dẻ. Họ không nhìn thấy mà cũng không biết tôi ra đi. Bà ta ngồi gãi, còn ông chồng ngả nghiêng bên bếp lò, đờ người với hơi lửa, có lẽ lão đã uống khá nhiều đến mức mầu tím rượu đã làm cho hai mắt nhắm nghiền.
Đối với những con người ấy, tôi lướt vào chốn xa lạ như vào con đường hầm lớn vô tận. Thế là bớt đi được ba người tìm hiểu; dò xét và mưu hại mình, bây giờ họ không còn biết được mình thế nào rồi. Thế là tốt. Tôi nói ba, vì tính luôn cả con gái họ, con bé Thérèse, bị lên nhọt đầu đanh mưng mủ, do nó ngứa gãi nhiều vì rận rệp. Thật quả là vào nhà các bà gác cổng đến khốn khổ vì rệp cắn, có thể nói y như đi xuyên dần vào một cái bàn chải.
Ngọn lửa ga dài bằng ngón tay ở cổng vào, rọi xuống những người đi trên hè đường và biến luôn họ thành những bóng ma ngơ ngác trong cái khung cổng tối om. Rồi họ tiếp tục thay đổi màu sắc, đó đây, trước mỗi khung cửa sổ hay mỗi cột đèn, cuối cùng thì họ cũng như tôi, tan biến vào bóng đêm, tối đen và mềm nhũn.
Cũng chẳng còn cần nhận biết xem ai đang đi trên đường. Tuy vậy, kể cũng hay hay, trong lúc họ tản bộ thế kia, giá tôi có thể giữ họ lại, chỉ một giây ngắn ngủi, chỉ đủ để mà nói với họ, cũng một lần này thôi, rằng tôi, tôi sắp sửa đi biệt tăm biệt tích, đi khá xa, rằng tôi nguyền rủa họ và sẽ chẳng còn anh nào làm gì được tôi, chẳng còn ai mưu hại được tôi...
Đến đại lộ Tự do, những chiếc xe chở rau run rẩy tiến lên phía Paris. Tôi đi theo họ. Tóm lại thì tôi đã gần hoàn toàn rời khỏi Rancy. Cũng chẳng nóng vội gì. Để sưởi ấm, tôi tạt vào lều của cô thằng Bébert. Chiếc đèn của chị tỏa bóng vào tận cuối hành lang. Tôi nghĩ thầm: “Để kết thúc, mình cũng phải chào “tạm biệt” cô thằng bé”.
Chị đang ngồi trên chiếc ghế như thường ngày, giữa những mùi quen thuộc của căn lều, với cái lò nhỏ sưởi cho tất cả, và khuôn mặt già nua của chị lúc nào cũng muốn khóc kể từ ngày thằng cu Bébert mất, rồi trên tường, ngay trên cái hộp khâu, một tấm ảnh học trò của Bébert, khoác tạp dề, đội bê rê và đeo thánh giá. Đây là một tấm ảnh phóng đại do chị mua cà phê được thưởng. Tôi đánh thức chị.
-Ôi, chào bác sĩ, chị giật mình và tôi còn nhớ rõ chị nói gì. Chị nhận xét luôn: Trông bác sĩ như đang mệt! Ông ngồi xuống đây đã... Tôi cũng không khỏe đâu...
-Tôi đang đi dạo một vòng, tôi trả lời để khỏi lúng túng.
-Khuya khoắt thế này mà đi dạo, nhất là lại đi về phía quảng trường Clichy... Đường ấy vào giờ này là gió rét lắm đấy!
Chị đứng dậy, xiêu bên này xẹo bên kia tìm chanh đường để pha rượu nóng cho cả hai, vừa làm chị vừa nói luôn mọi chuyện, về gia đình Henrsuille, và tất nhiên cả về Bébert. Chẳng làm thế naò ngăn chị đừng nhắc đến Bébert vì càng nhắc chi càng thêm đau buồn, chị cũng biết như thế. Tôi ngồi yên nghe đến tê cóng người lại. Chị cố gợi lại với tôi những cái ngoan ngoãn của Bébert, cứ được một quãng chị lại kể lại từ đầu, tất cả mọi tình huống, từ lúc nuôi thằng bé bằng bình sữa thế nào, thế rồi bật nhớ ra thêm một tính tốt gì của nó chị lại trở lại đầu câu chuyện, cho đến cuối cùng không nhớ ra thêm gì nữa chị sụt sùi, bất lực... Chị rơi vào mệt nhọc. Chị thiếp đi trong tiếng nức nở. Chị đã không còn sức để tìm lại lâu hơn cái ký ức nho nhỏ về thằng cu Bébert. Bébert chị hằng yêu dấu. Cái hư vô đã đến gần và ít nhiều đã phủ lên ngay người chị. Chỉ một chút rượu pha chanh đường và một chút mệt mỏi và thế là xong, chị ngủ khò khò như chiếc máy bay con con ở phía xa xa đang bị các tầng mây cuốn đi. Chị chẳng còn ai trên trái đất này.
Trong lúc chị ngủ gục thế kia, tôi nghĩ mình ra đi và có lẽ chẳng bao giờ còn gặp lại cô thằng Bébert. Bébert thì đã đi hẳn rồi, mà chẳng phải mầu mè gì và thực sự là bà cô nó cũng có thể sẽ đi theo nó, chẳng còn lâu la gì nữa. Tim chị đã yếu, đã già rồi. Nó cố đẩy máu vào các động mạch, nhưng khó đưa vào các tĩnh mạch để trở về tim. Chị sẽ trước hết sang nghĩa trang lớn ngay bên cạnh, nơi những người chết xúm lại thành đám đông sẵn sàng chờ đón. Ở đó chị sẽ chơi với thằng Bébert trước khi nó lại ốm dưới nghĩa trang. Và sau đó thì hết tất cả. Người ta sẽ đến sơn lại căn lều và họ có thể nói rằng họ gỡ được lại cả, giống như những trái bun [122*] run rẩy bên miệng hố làm điệu làm bộ trước khi kết thúc. Những trái bun cũng thế, chúng bắn đi rất mạnh và cũng ồn ã lắm, nhưng rút cục thì chúng cũng chẳng biến đi đâu, mà đều tìm về một chỗ. Chúng ta cũng thế thôi, đất chỉ có mỗi một việc, là làm cho tất cả chúng ta tìm lại được nhau dưới đó. Đối với cô thằng Bébert bây giờ chẳng còn xa xôi gì, chị ta hầu như không còn gì mà hăm hở. Nhưng đang còn sống thì làm sao gặp được nhau. Có quá nhiều màu sắc làm cho mình đãng trí và quá nhiều người chuyển động quanh mình. Chỉ còn tìm lại được nhau trong tĩnh lặng, khi đã quá muộn, như những người chết. Tôi cũng thế, còn phải chuyển động, còn phải đi nơi khác. Tôi đã cố làm, cố biết nhưng chỉ hoài công... Tôi không thế cứ ở mãi đây với chị.
Tấm bằng của tôi phồng lên và nhô ra khỏi miệng túi, còn phồng hơn cả tiền bạc và giấy tờ căn cước của tôi trong đó. Trước cửa đồn cảnh sát, tay nhân viên đứng gác đang chờ đổi phiên nửa đêm; anh ta ra sức khạc nhổ. Chúng tôi chào nhau.
Sau cái đèn nhấp nháy ở góc đại lộ, nơi bán xăng, là trạm thu thuế đem hàng vào thành phố, các nhân viên thuế mặc đồng phục lá cây ngồi trong lồng kính. Mấy chiếc xe điện không chạy nữa. Đây là lúc hợp thời để chuyện trò về cuộc sống với các nhân viên thuế, về cuộc sống ngày càng khó khăn, đắt đỏ. Họ có hai người, một già một trẻ, gầu trắng xóa trên đau cả hai, họ cúi xuống những bản kê danh sách và biểu thuế to thế này. Qua những tấm kính của họ, có thể thấy trên bến sông lớn hình bóng những bức tường thành cũ vươn cao trong đêm tối chờ đón những con tầu từ phương xa, những chiến hạm cao quý, mà ta sẽ không còn bao giờ thấy nữa. Chắc chắn là thế. Ta hãy hy vọng.
Tôi với mấy nhân viên thuế chuyện trò tào lao với nhau một lúc, và còn uống với nhau một tách cà phê hâm nóng trên cái lò nhỏ. Họ hỏi giễu, liệu tôi có hay đi du ngoạn trong lúc khuya khoắt thế này, với một gói nhỏ trong tay. “Đúng thế đấy”, tôi trả lời họ. Chẳng cần giảng giải vô ích những điều không mấy bình thường với các nhân viên thuế. Họ không thể hiểu gì hơn. Nhưng cũng có phần bừng bực vì nhận xét của họ, tôi nẩy ra ý thích làm cho họ ngạc nhiên, nói liến láu về trận đánh năm 1816, trận đánh đã lôi cuốn quân cô-dắc vào trận địa bầy sẵn của Napoléon vĩ đại, ở La Barrière, ngay chỗ chúng ta đang đứng đây.
Tất nhiên là câu chuyện được viện dẫn quá lên. Nhưng chỉ bấy nhiêu lời cũng đã thuyết phục được hai kẻ bần tiện ấy bằng trình độ văn hóa hơn trội và sự uyên bác bốc đồng của tôi. Thế là tôi bình tâm đi tiếp về phía quảng trường Clichy, qua đường phố đó mà đi lên.
Ta có thể nhận ra ở góc phố Các Bà (Rue des Dames) luôn luôn cố hai gái điếm lấp ló đón khách. Họ nắm chắc mấy tiếng đồng hồ cùng kiệt này trước lúc trời về sáng. Nhờ có họ mà cuộc sống tiếp diễn trong bóng tối. Họ làm hiệu liên lạc bằng mấy cái ví tay căng phồng toàn những đơn thuốc, mùi soa dùng vào mọi việc và ảnh con cái ở nhà quê. Khi ta sáp lại gần họ trong bóng tối, thì phải coi chừng bởi vì những người đàn bà này cũng chỉ mới đến đó thôi, chừng nào họ đã lõi nghề rồi, tức là đã sống hẳn hoi ở đó rồi thì chỉ cần trao đổi vài câu là tóm được đủ những gì phải làm đối với họ. Đó là những đầu óc sâu bọ trong những chiếc giầy bốt-tin cài khuy.
Chớ có nói gì với họ, khi vừa đến gần. Họ tệ lắm. Tôi phải tránh xa, và bắt đầu chạy giữa hai đường ray. Đường phố này khá dài.
Ở ngay cuối phố là tượng thống chế Moncey. Ông vẫn đứng đó bảo vệ quảng trường Clichy từ năm 1816 chống lại những kỷ niệm và lãng quên, mà cũng chẳng chống cái gì cả với một vòng hoa cườm không đắt tiền lắm. Tôi chạy bộ đến được gần ông với 112 năm chậm hơn, qua con đường vắng tanh vắng ngắt. Chẳng còn quân Nga, chẳng còn chiến trận, cũng không có quân cô-dắc, chẳng một mống lính tráng, chẳng còn gì hết trên quảng trường ngoài cái mép bệ móc dưới đó vòng hoa cườm. Và ngọn lửa từ chiếc lò than nhỏ gắn ba quả chuông xung quanh bốc khói cay sè. Chẳng lấy gì làm hay.
Vài cái ô tô chạy vội về mọi ngả.
Lại nhớ đến những con đường lớn, nhớ đến một nơi đỡ lạnh hơn những chỗ khác. Đầu tôi choáng váng vì lên cơn sốt. Ngấm rượu của bà cô thằng nhỏ lại chạy trước gió lạnh. Cạnh ga métro Saint-Georges, một bà già đội chiếc mũ len khóc than số phận đứa cháu gái ốm nằm nhà thương, bà nói nó đau màng óc. Nhân cơ hội, bà ngỏ ý xin tiền. Bà đã rơi không đúng chỗ.
Tôi cho bà mấy lời khuyên. Tôi cũng kể lại trường hợp thằng bé Bébert và một đứa bé gái khác mà tôi điều trị và chết ở thành phố từ hồi tôi còn đang theo học, cũng bị đau màng óc. Cơn hấp hối của nó kéo dài đến ba tuần lễ và mẹ nó nằm ngay cạnh giường bên cạnh không sao ngủ được vì đau buồn, thế là mẹ nó cứ phải thủ dâm suốt cái thời gian ba tuần hấp hối của con, không ai ngăn cản được cho đến khi mọi việc kết thúc.
Điều đó chứng tỏ rằng người ta không thể sống, dù chỉ một giây, mà không có lạc thú, và thật khó mà có đau buồn thật sự. Cuộc sống là thế đó.
Tôi và bà cụ đau buồn ấy từ biệt nhau trước cửa nhà hàng Galeries (Latayette). Bà cụ còn phải xuống chợ Halles để giao cà rốt. Bà đi theo con đường của các hàng rau, cũng một con đường như tôi.
Nhưng tới bị lôi cuốn vào rạp chiếu bóng “Tarapout”. Rạp nằm trên đại lộ như một cái bánh ga tô to tướng bằng ánh sáng. Và người từ khắp nơi kéo đến chen nhau bám quanh như dòi. Họ từ trong đêm tối bò ra để trố mắt lên mà nhòm cho thỏa đủ thứ hình ảnh. Cũng vẫn là những người đi chuyến métro sáng sớm. Nhưng ở đây, trước rạp Tarapout họ thỏa mãn, giống như ở New York người ta đứng gãi bụng trước quầy bán vé, xì ra một ít tiền và ngay lập tức cả quyết cùng nhau vui sướng lao nhanh vào những cái lỗ sáng đèn. Cứ như là bị ánh sáng lột bỏ hết áo quần, mặc dầu trên người họ, những động tác của họ, còn đeo đầy những tràng hoa và những ngọn đèn nữa. Đã vào đây thì không ai còn có thể nói đến chuyện riêng tư, cũng như là hoàn toàn trái ngược với đêm tối ở bên ngoài.
Tôi cũng khá ngây ngất, thế là phải tìm ra một tiệm cà phê gần đó. Ngay bàn bên cạnh, tôi nhìn thấy rõ ràng Parapine, thầy cũ của tôi, đang nhâm nhi vại bia vẫn gầu bám đầy mái tóc. Lại gặp nhau. Tay bắt mặt mừng. Ông cho biết ông có nhiều thay đổi trong cuộc sống. Phải mất đến mười phút ông mới kể hết mọi chuyện. Cũng chẳng có gì lạ kỳ. Đối với ông, Giáo sư Jaunisset ở Viện ngày càng xử tệ hơn, ngày càng rầy rà với ông, đến mức ông phải ra đi, phải từ chức và từ bỏ phòng thí nghiệm của ông. Lại còn các bà mẹ những đứa con gái học trò ấy ngày càng kéo đến chờ ở trước cửa Viện để mắng nhiếc ông. Đủ chuyện lôi thôi. Các cuộc điều tra. Những nỗi kinh hoàng.
Vào giây phút chót, nhờ có mẩu rao vặt mập mờ trong một tờ tạp chí y học, ông vớ liền được một cách sinh nhai nhỏ khác. Tất nhiên chẳng có gì ghê gớm, nhưng dẫu sao cũng là một công việc chẳng mấy nhọc nhằn mà lại hợp với sở trường của ông. Đó là việc ứng dụng khéo léo những lý thuyết mới của Giáo sư Baryton kích thích sự phát triển ở những đứa trẻ đần độn bằng điện ảnh. Một bước tiến phi thường về tiềm thức. Cả thành phố chỉ còn bàn tán chuyện đó. Thật là hiện đại.
Parapine dẫn đám khách đặc biệt này đến rạp Tarapout hiện đại. Ông sang đón các em tại nhà điều dưỡng hiện đại của Baryton ở ngoại ô, sau buổi biểu diễn lại dẫn chúng về, đứa nào cũng lú lẫn, no nê những ảo ảnh, sung sướng và nguyên vẹn mà lại còn hiên đại hơn nữa. Tất cả là đấy. Liền sau khi chúng đã yên chỗ trước màn ảnh là không còn phải lo đến chúng nữa. Thật là một công chúng bằng vàng. Tất cả đều thỏa mãn, vẫn chỉ một phim chiếu liền mười lần vẫn làm chúng say mê. Chúng có nhớ gì đâu. Chúng liên tục reo vui vì ngạc nhiên. Gia đình chúng cũng thích. Parapine cũng thế. Tôi cũng thế. Chúng tôi cùng nhau vui nhộn thoải mái và uống hết vại này đến vại khác để chúc mừng sự phục hồi chức năng vật chất này của Parapine trên bình diện của hiện đại. Đã định trước, là đến hai giờ sáng, tức là sau buổi chiếu cuối cùng của rạp Tarapout, mới phải đi đón mấy thằng đần của ông và đưa gấp rút bằng ô tô về nhà Bác sĩ Baryton ở Vigny-sur-Seine. Thật là một công việc.
Do cả hai cùng mừng gặp lại nhau, chúng tôi chỉ nói chuyện vui, chuyện tào lao và trước hết về những chuyến đi của mỗi người, cuối cùng đến chuyện Napoléon, cũng là do trong câu chuyện có nhắc đến tượng đài Moncey trên quảng trường Clichy. Mọi chuyện trở nên vui vẻ vì chỉ nhằm mục đích được chuyện trò tự do thỏa mái với nhau, quên hết sự đời, quên hết mọi cái dính đến đồng ti'ên.
Dần dà, đến cả Napoléon cũng có chuyện mà nói tếu được. Parapine là rất tinh thông về Napoléon trong lịch sử. Ông bảo ngày trước, khi còn học trung học ở Ba Lan, ông mê chuyện đó lắm. Parapine là người được nuôi ăn học tử tế chứ không như tôi đâu.
Do thế, ông mới kể cho tôi nghe, cái hồi rút quân khỏi nước Nga, các tướng lĩnh của Napoléon rất chật vật không làm sao ngăn được ông ta làm một chuyến cuối cùng sang Varsovie để gặp người tình Ba Lan. Napoléon vốn là thế, ngay cả giữa những lúc thất bại và đau đớn ghê gớm nhất. Tóm lại là không nghiêm túc. Thậm chí cả lúc được coi là bậc kỳ tài của nữ hoàng Joséphine! Lửa đã thúc đít, ai nói gì cũng chống lại tất. Hơn nữa, cũng chẳng làm gì nổi, khi người ta đã thích hưởng thụ và vui nhộn, mà đấy cũng là cái thích của tất cả chúng ta. Cái ấy là đáng buồn hơn cả. Người ta chỉ nghĩ đến nó! Trong nôi, trong quán cà phê, trên ngai vàng, vào chuồng xí. Khắp! Khắp cả! Napoléon hay không cũng mặc! Mọc sừng hay không cũng thế! Hưởng lạc đã! Mặc xác bốn mươi vạn kẻ bị gài bẫy vào những ảo giác chuếnh choáng say! Ừ thì ông đại bại, miễn là Poléon [123*] này làm thêm quả nữa đã! Thật khốn nạn! Thôi đi! Đời là thế! Mọi cái kết thúc thế đấy! Chẳng đứng đắn! Tên bạo chúa đã chán ngấy cái vở tuồng y đóng rất đạt trước các khán giả. Y đi ngủ với đàn bà khi tên bạo chúa ấy không còn có thể phóng cái cuồng nhiệt của y vào công chúng. Vậy thì y cứ liệu hồn! Định mệnh sẽ bỏ rơi y nhanh thôi! Không phải vì mạnh tay tàn sát họ mà những người có nhiệt tình đã chê trách y! Không đâu! Cái ấy chẳng là gì! Nhưng làm sao người ta có thể tha thứ cho hắn! Nhưng bỗng nhiên trở thành một kẻ quấy rầy thì không ai tha thứ đâu. Người nghiêm túc không chịu được kẻ dối trá. Các dịch bệnh chỉ ngừng lại khi những con vi trùng đã chán ngấy các độc tố của chúng. Người ta đưa Robespierre lên máy chém chỉ vì y cứ lặp đi lặp lại một điệu, còn với Napoléon thì chỉ bởi không cưỡng lại được sự lạm phát Bắc đẩu bội tinh suốt hơn hai năm trời. Đó là nỗi dằn vặt của kẻ điên rồ đã ban phát những khát khao mạo hiểm trên nửa phần châu Âu vững chắc. Nghê nghiệp kỳ quặc. Chết mất thôi.
Còn điện ảnh, anh chàng làm công mới mẻ nhỏ bé ta hằng mơ ước, ta có thể mua được, có thể kiếm được trong một vài giờ, như kiếm một tên đĩ đực.
Rồi lại còn thêm những tài tử, trong thời buổi bây giờ, người ta vô cùng lo ngại nên phải đề phòng, do đó mà họ được phân tán ra khắp nơi. Ngay trong những ngôi nhà được xếp chỗ cho các tài tử, những cái rùng mình của họ cũng tràn ra khắp và những sự thành khẩn của họ chảy tong tỏng qua các tầng gác. Cửa rả rung cả lên. Đó là dành cho ai rung động nhiều hơn, cả gan hơn, âu yếm hơn và đam mê dữ dội hơn anh bạn hàng xóm. Bây giờ người ta trang trí các nhà tiêu cũng giống như các lò mổ hay nhà tầm tầm nữa, để cho anh vui mắt hơn, khuây khỏa hơn, làm cho anh thoát khỏi Định mệnh.
Sống khô khan, khác gì bị nhốt trong buồng người điên! Cuộc sống là một lớp học mà khó chịu nhất là viên giám thị, hơn nữa lúc nào lão cũng đứng đó rình mò anh, cứ phải bằng mọi giá làm như anh đang bấn bíu vào việc gì đó rất say mê, nếu không lão mà tới thì lão ngốn luôn cái óc của anh. Một ngày mà chỉ bình thường với 24 giờ thôi thì không thể dung được. Hầu như không thể chịu được một thú vui dài mà chỉ được có một ngày, một cú giao hợp dài cũng chỉ một ngày, dù là đồng tình hay ép buộc.
Những ý nghĩ tởm lợm như thế đến với bạn trong khi ta rối trí bởi sự túng quẫn, khi mỗi phút giây của bạn bị đè nghiến bởi một ước ao hàng nghìn cái khác hoặc hơn nữa.
Robinson là một chàng trai cũng lo phiền bởi cái vô cùng vô tận, theo kiểu của hắn, trước khi hắn bị nạn, nhưng bây giờ thì hắn đã được giải quyết. Ít nhất tôi tin là thế.
Nhân ngồi với nhau yên tĩnh trong quán cà phê, tôi cũng kể cho Parapine biết những gì đã xẩy ra với tôi từ lúc chia tay với ông. Ông thông cảm mọi việc, cả những việc của tôi và tôi thú thực với ông là tôi đã phá ngang nghề thuốc khi rời bỏ Rancy một cách khác thường. Phải nói là thế. Và cũng có gì đáng cười đâu. Quay lại Rancy là việc tôi còn phải suy nghĩ, bất kể tình hình ra sao. Parapine cứng đồng ý như vậy.
Trong lúc chúng tôi chuyện trò thích thú với nhau như thế, có thể nói là những cuộc xưng tội với nhau, thì rạp Tarapout cũng nghỉ giải lao và các nhạc công trong rạp ùa cả sang quán. Họ nhất loạt cùng nhau kiếm ly rượu. Các nhạc công khá quen với Parapine.
Dần dần, qua họ, tôi được biết họ đang kiếm một Pacha, vai phụ trong những màn kịch xen kẽ. Một vai trò câm. Người đóng vai Pacha đã bỏ đi mà không nói năng gì. Một vai hay hay trong màn giáo đầu lại được trả hậu nữa. Không phải tốn sức lắm. Lại không nên quên rằng vai này còn được bao quanh bởi một bầy vũ nữ Anh xinh đẹp tuyệt trần, hàng nghìn cơ bắp vung vẩy chính xác. Hoàn toàn hợp thể loại và nhu cầu của tôi.
Tôi làm bộ tử tế và chờ đợi ý kiến của viên quản lý. Tôi tự giới thiệu. Lúc ấy đã quá khuya, họ không đủ thì giờ đi tìm một vai phụ khác ở tận cửa ô Saint-Martin, nên tìm được tôi ngay tại chỗ thì viên quản lý rất bằng lòng. Cũng đỡ cho ông ta phải chạy vạy. Đối với tôi cũng thế. Ông ta xem xét tôi qua loa và thu nhận tôi ngay lập tức. Họ xếp chỗ cho tôi. Miễn là tôi không què quặt, họ chẳng đòi hỏi gì hơn, và còn...
Tôi vào những tầng hầm của rạp Tarapout đẹp đẽ, ấm cúng, tường bọc vải chần. Thật đúng là một tổ ong với những ô ngăn thơm phức, nơi các cô gái Anh nghỉ xả hơi chờ màn diễn, hàng tràng tiếng cười đùa, chí chóe không sao mà phân biệt được. Đang hăng vì vừa kiếm được kế sinh nhai, lập tức tôi hối hả làm quen với các cô bạn trẻ trung, phóng túng này. Các cô chào hỏi giới thiệu cả nhóm một cách duyên dáng nhất trần đời. Thật là những nàng tiên. Những nàng tiên kín đáo. Còn thích nữa là chẳng phải tự thú cũng chẳng bị coi thường, thế mới là Anh cát lợi chứ.
Rạp Tarapout thu nhập lớn lắm. Ngay cả các hậu trường cũng rất là sang trọng, thoải mái, đủ cả đùi vế, ánh sáng, xà phòng, xăng uých. Chủ đề màn giải trí mà chúng tôi trình diễn hình như xuất xứ từ Turkestan, với những điệu vũ ưỡn ẹo, nhón cao chân lên, dang rộng háng ra theo tiếng nhạc và tiếng trống rồn rập dữ dội.
Vai trò của tôi đơn sơ nhưng cần thiết. Phục trang đầy người những vàng với bạc, lúc đầu tôi có gặp khó khăn trong việc ngồi giữa bao nhiêu là những cây đèn và cột chống phông màn, nhưng rồi cũng xong, cũng được nổi bật một cách dễ ưa, chỉ còn thả mình vào cõi mộng dưới những ngọn đèn mờ chiếu dọi.
Hai mươi cô vũ nữ Luân Đôn vùng vẫy quanh tôi suốt mười lăm phút đồng hồ theo điêu nhạc lúc du dương lúc huyên náo mánh liệt để giả bộ cố làm cho tôi phải nhận chân lấy những đường nét hấp dẫn của các cô. Tôi chẳng đòi hỏi gì nhiều đến thế và nghĩ đến bụng mỗi ngày cứ năm lần diễn tập thế này quả là quá nhiều đối với phụ nữ, chưa nói đến chuyện đôi khi còn phải vặn vẹo liên hồi hai cái mông theo cường độ của một nòi giống ít tư lự, một thứ lắc lư liên tục chỉ có ở các con tầu bươn chải vô tận trên các đại dương...