Giữa phố Ventru và quảng trường Lênin, chỉ còn có những ngôi nhà xây dựng để cho thuê. Các nhà thầu đã chiếm hết những gì còn lại của vùng quê này như tên thường gọi, Garennes. Tận phía cuối làng, sau cái cột đèn thắp bằng ga, cũng còn sót lại được vài bãi đất hoang.
Kẹp vào giữa những tòa nhà lớn, mấy ngôi nhà nhỏ mốc meo, bốn gian với một cái lò to chềnh ềnh trong hành lang tầng dưới; lửa chỉ lom dom vì dè sẻn. Khói mù trong hơi ẩm. Đó là những ngôi nhà của đám người được trợ cấp, những người còn sót lại. Bước vào nhà họ là phát ho lên vì khói. Sống ở đó không phải là những tay cho vay lãi giầu có, không đâu, nhất là nhà Henrouile mà tôi được dẫn đến. Nhưng dù sao thì đây cũng là những người có chút ít máu mặt.
Bước vào nhà Henrouille, ngoài mùi khói còn sặc lên mùi nhà tiêu và mùi ra-gu. Ngôi nhà này họ mới trả hết góp. Thế là mất năm mươi năm dành dụm. Vừa đặt chân vào nhà và vừa thấy họ là phải tự hỏi cả hai vợ chồng này sống bằng gì. Vậy ra họ đều phải sống trong cảnh chẳng bình thường, suốt năm chục năm trời cả hai không dám tiêu pha, xót ruột từng đồng xu. Thật là với thịt xương và trí não mà họ đã tậu được ngôi nhà này, giống như một con ốc sên. Nhưng con ốc sên có làm việc ấy thì nó cũng không ngờ được thế.
Ngẫm nghĩ lại, vợ chồng Henrouille không ngờ được đã trải qua cả đời mình chỉ để có được một ngôi nhà và giống như những người bị sập hầm ngỡ ngàng rằng mình đã cậy được đến viên gạch cuối cùng để nhìn ra ánh sáng. Thoát được khỏi cảnh đó thật lắm kỳ thú.
Vợ chồng Henrouille, ngay trước khi lấy nhau, đã tính đến việc phải mua một ngôi nhà. Đầu tiên là người nào dành riêng phần người ấy, về sau thì để dành chung. Họ không còn nghĩ gì đến mọi cái khác trong nửa thế kỷ và khi cuộc sống buộc họ phải nghĩ đến cái gì đó, như chiến tranh chẳng hạn, nhất là đến đứa con, là họ phát ốm lên với nhau.
Khi cặp vợ chồng trẻ dọn đến ngôi nhà này, với món tiền dành dụm của mỗi người lúc ấy đã được mười năm, thì khu nhà này còn ngổn ngang. Muốn về nhà, họ phải đến chỗ ông bán trái cây góc phố Révolte lấy mấy đôi guốc gửi nhờ buổi sáng, lúc sáu giờ, để lên Paris làm việc, xa ba cây số, đi xe ngựa mất hai xu.
Kể ra thì cũng phải có một thể lực tốt mới chịu được cuộc sống như vậy. Tấm hình hai người chụp hôm làm lễ cưới treo ở đầu giường, trên gác hai. Cái phòng ngủ với các đồ đạc đã được trả xong tiền từ lâu. Tất cả những hóa đơn, biên lai suốt mười, hai mươi, bốn mươi năm đều găm lại với nhau, để trong ngăn kéo trên cùng chiếc tủ com mốt và quyển sổ ghi các món chi tiêu hằng ngày được cập nhật cẩn thận cất ở dưới nhà trong phòng ăn nhưng họ chẳng ăn ở đấy bao giờ. Henrouille sẽ trình bầy hết với bạn, nếu bạn muốn. Ngày thứ bẩy chính lão tính toán cân đối sổ sách ở phòng ăn. Họ ăn uống với nhau đều ở trong bếp.
Tất cả những chuyện ấy là tôi biết được dần dần do họ hay những người khác, và cũng do cô thằng Bébert nữa. Khi tôi với họ đã quen nhau khá rồi, họ mới kể cho nghe nỗi lo lớn nhất, nỗi lo suốt đời họ, là lo cho đứa con trai độc nhất, lao vào việc buôn bán mà không gặp những vụ làm ăn tồi tệ. Trong ba chục năm qua, hầu như đêm nào họ cũng giật mình thức giấc vì nỗi lo ấy. Gã con trai lập nghiệp trên đống lông chim! Bạn thử nghĩ một tí mà xem, từ ba chục năm nay lại không xảy ra cuộc khủng hoảng nào về lông chim sao! Có lẽ không có cái nghề nào lại tệ hại hơn, bấp bênh hơn nghề bán lông chim.
Có những việc làm ăn người ta biết chắc là tồi tệ đến nỗi không màng tới việc đi vay tiền để cứu vãn, nhưng cũng có những kẻ thì gặp chuyện ấy là họ nghĩ ngay đến vấn đề đi vay đi mượn. Vợ chồng lão Henrouille cứ nghĩ đến kiểu vay mượn như thế là bật ngay ra khỏi ghế, nhìn nhau mà mặt đỏ bừng, mặc dầu họ đã trả xong nợ ngôi nhà và mọi thứ khác.
Gặp phải trường hợp ấy thì họ sẽ làm gì? Họ từ chối.
Lúc nào họ cũng quả quyết không vay mượn bất cứ vì lý do gì... Về nguyên tắc, họ cố chắt bóp lấy một khoản dành dụm, một cái gia tài và một ngôi nhà, gọi là để lại gia sản cho con. Họ lập luận như thế đấy. Cậu con là một chàng trai đứng đắn thì đã rõ, nhưng đã vào nghề buôn bán thì mấy ai mà không thể bị lôi cuốn...
Được hỏi, tôi cũng hoàn toàn như họ thôi.
Mẹ tôi cũng thế, cũng đi buôn; cái nghề buôn của mẹ chỉ toàn đem lại những nỗi khổ sở cho gia đình, được một ít bánh nhưng lắm lo âu. Tôi cũng không thích gì những chuyện buôn bán. Phải thấy trước cái hiểm họa của đứa con, cái hiểm nguy của những món nợ gặp thời hạn gay cấn. Không cần giải thích gì nữa. Lão ta, Henrouille bố, đã từng giữ chân thư ký quèn ở phòng công chứng tại đại lộ Sébastopol suốt năm mươi năm. Cho nên lão biết khối chuyện ăn tàn phá hại gia sản! Lão còn kể cho tôi nghe những chuyện ly kỳ. Đầu tiên là chuyện ông thân của lão, chỉ vì ông cụ khuynh gia bại sản mà lão Henrouille này không theo đuổi được nghề dạy học sau khi đậu tú tài và phải đi ngay vào nghề cạo giấy. Người ta luôn luôn nhớ kỹ những chuyện như thế.
Cuối cùng thì, ngôi nhà trả hết, nắm chắc trong tay tất cả, không còn nợ nần lấy một xu, họ không còn có gì phải lo cho sự an sinh! Lúc ấy họ đã vào tuổi sáu mươi sáu.
Cũng vừa vặn vào lúc ấy, lão cảm thấy trong người có chuyện bất ổn kỳ cục, hay đúng hơn là từ lâu cũng đã thấy nhưng vì mải lo nghĩ vào chuyện trả xong nợ ngôi nhà nên lão vẫn bỏ qua. Khi chuyện nhà cửa đã thanh toán đâu vào đấy, giấy tờ đã ký hẳn hoi, lão mới nghĩ đến cái bất ổn kỳ lạ của mình. Người lúc nào cũng như choáng váng, luôn luôn có tiếng còi hơi xì ra mỗi bên tai.
Cũng vào khoảng thời gian ấy, lão bắt đầu mua báo về đọc vì biết rằng từ nay có thể chi tiêu được món này! Báo viết và mô tả tất cả những gì lão Henrouille cảm thấy trong tai. Thế rồi lão mua thuốc theo người ta nói trong mục quảng cáo, nhưng chẳng ăn thua gì, mà trái lại, có vẻ những tiếng còi thổi càng ngày càng mạnh hơn. Có thể chỉ là do nghĩ đến nó chăng? Tuy vậy cả hai cùng đưa nhau đến khám lại ông thầy thuốc ở phòng y tế. Ông ta bảo: “Đó là do huyết áp”.
Cái từ huyết áp tác động vào lão. Nhưng xét cho cùng thì nỗi ám ảnh này đã tới lúc nó phải đến. Trong suốt bao nhiêu năm lão phải băn khoăn lo nghĩ về ngôi nhà và về những món nợ đến hạn của con, bỗng dưng như bị hẫng hụt trong cái chuỗi lo sợ suốt bốn chục năm qua vẫn kìm giữ thân xác lão nay lại buông rơi. Nghe thầy thuốc nói bị tăng huyết áp thì lão cũng thử nghe huyết áp của mình đập trên gối, tít tận trong tai. Lão còn nhỏm dậy tự bắt mạch rồi ngồi thật yên đó, bên cạnh giường, rất lâu giữa đêm khuya để cảm thấy người lão đu đưa nhè nhẹ theo tiếng đập của con tim. Lão nghĩ thầm, tất cả là do cái chết của mình đây. Bấy lâu lão vẫn sợ cuộc sống, bây giờ lão gắn cái sợ của lão với cái gì đó, với cái chết, với cái huyết áp tăng cao, như lão đã từng gắn nó trong suốt bốn mươi năm qua với nguy cơ không trả được hết tiền về ngôi nhà.
Vả lại lão vốn đã là người luôn luôn bất hạnh, nay lão phải mau mau tìm lấy thêm một lý do thật xác đáng để mà bất hạnh. Chuyện ấy không dễ gì đâu. Không phải cứ hô lên “Ta là kẻ bất hạnh” mà xong. Còn phải tự chứng minh, tự thuyết phục dứt khoát. Lão không đòi hỏi gì hơn là: Có thể cho nỗi sợ một lý do vững vàng và thật có giá trị. Huyết áp của lão đã là 22, theo lời thầy thuốc. Mà 22 đã là thế nào rồi đấy. Thầy thuốc đã chỉ đường cho lão biết mà tìm đến cõi chết của lão rồi.
Đứa con buôn lông chim nổi danh ấy, hầu như không ai thấy mặt bao giờ. Chỉ một hai lần vào ngày tết đau năm. Thế thôi. Lẽ ra bây giờ thì hắn phải luôn luôn có mặt chứ! Nhưng chẳng còn gì để vay mượn ở ông bố bà mẹ. Đứa con ấy hầu như không còn bén mảng nữa.
Mụ vợ Henrouille, tôi phải mất nhiều thì giờ mới hiểu được mụ; mụ ta không phải chịu một nỗi lo sợ nào, ngay cả đối với cái chết mụ cũng chẳng nghĩ đến. Mụ chỉ phàn nàn về chuyện tuổi tác, nhưng cũng không lo lắng gì lắm, mà chỉ như mọi người, trong khi đời sống ngày một “gia tăng”. Công việc vất vả nhất đã xong. Nhà đã trả hết tiền. Để mau đi nốt cho xong những đoạn đường cuối cùng, mụ còn gắng nhận đơm khuy áo gi-lê cho một nhà hàng lớn. “Làm cật lực mà chỉ kiếm được trăm đồng xu [102*], thật khó tin được!” Lại còn chuyện phải đem giao hàng bằng xe buýt, có buổi tối bị người ta chửi nữa chứ. Lần ấy là một người đàn bà nước ngoài, người nước ngoài đầu tiên và duy nhất mụ Henrouille gặp trong đời mà mụ nhắc đến với lời nguyền rủa.
Trước kia, khi còn thoáng gió bốn xung quanh, những bức tường của ngôi nhà này còn được khô ráo, nhưng bây giờ, bị các tòa nhà cao vây kín, chỗ nào cũng ẩm ướt, ngay cả những tấm rèm cũng bị mốc đen từng đám.
Mua xong được ngôi nhà, trong suốt cả tháng tiếp liền đó, mụ Henrouille lúc nào cũng tươi cười hớn hở, mãn nguyện, rạng rỡ như một con chiên sau khi được làm lễ ban mình Thánh. Chính mụ đã gợi ý với chồng:
- Jules ơi, bắt đầu từ hôm nay ta mua báo hàng ngày được rồi đấy mình nhỉ...
Với việc ấy, mụ vừa nghĩ đến chồng, nhìn chồng, nhìn xung quanh mụ và cuối cùng nghĩ đến bà mẹ chồng, bà mẹ đẻ của Henrouille. Và do đấy, mụ lại trở lại với nét nghiêm trang của một nàng dâu, như trước khi trả hết nợ. Cứ thế, mọi việc lại bắt đầu với ý nghĩ đó, bởi lẽ vẫn còn có vấn đề phải dành dụm để nuôi mẹ chồng, bà cụ già ít được người ta nói đến trong nhà này cũng như với người ngoài.
Ở đằng cuối vườn, trong khoảnh đất che chắn kín, chứa chất toàn những chổi cùn, chuồng gà bẹp hỏng và sấp bóng tối thui của các nhà cao xung quanh, bà cụ ở trong cái xó thấp lè tè, hầu như chẳng bao giờ ló mặt ra ngoài. Chỉ một việc làm thế nào đưa được thức ăn cho bà cụ cũng đã đủ thứ chuyện. Bà ta không cho ai bước vào chỗ ở lụp xụp đó của mình, kể cả con trai bà. Bà cụ bảo rằng bà sợ bị ám sát.
Vừa thoáng nghĩ đến việc lại phải dành tiền tiết kiệm là mụ con dâu ướm thử vài lời với chồng, xem liệu có thể chẳng hạn như đưa bà cụ vào nhờ các bà xơ ở nhà dòng Saint-Vincent, nơi các bà nữ tu thường trông nom những bà già lẫn trí. Nhưng lão con trai thì chỉ ậm ừ, chẳng nói không mà cũng chẳng nói có. Lúc này lão còn bận lo việc khác, lo đến những tiếng xáo động không ngớt trong tai, chẳng đêm nào ngủ được với những tiếng động kinh tởm ấy. Lẽ ra phải ngủ thì cứ phải nghe hết tiếng còi lại tiếng trống tiếng máy chạy ro ro... Một khổ hình mới. Suốt ngày suốt đêm, lúc nào cũng bấn bíu với những tiếng động đã bám chặt lấy lão.
Dần dà, sau nhiều tháng như thế, dù sao nỗi kinh hoàng ấy cũng quen đi và lão cũng chẳng còn đủ hơi sức đâu mà cứ bận bịu với nó nữa. Lão bèn rủ vợ cùng đi chợ Saint-Ouen. Theo như người ta nói thì chợ này là nơi rẻ nhất vùng. Sáng ra hai vợ chồng đi chợ cả ngày, vì còn phải tính toán, khảo giá, mua thứ này dôi được tiền hơn thứ kia... Vào khoảng mười một giờ đêm, đã về nhà rồi mà vẫn còn sợ bị ám sát. Cái sợ đã thành chuyện thường ngày. Chồng sợ ít hơn vợ. Bởi vì vào giờ ấy, khi đường phố đã yên lặng thì lão chồng còn khốn khổ không sao dứt được những tiếng xáo động trong tai. Lão gào tướng lên: “Thế này thì còn bao giờ ngủ đi được”, nhưng càng gào nỗi kinh hoàng lại càng tăng. Lão bảo vợ: “Mình không thể hình dung được đâu!”
Nhưng mụ vợ có bao giờ thử hiểu xem chồng muốn nói gì, cũng không hình dung được vì đâu mà lão phải day dứt đến thế với sự khó chịu trong tai. Mụ hỏi chồng:
-Mình vẫn nghe rõ tôi nói chứ?
-Có, lão trả lời vợ.
-Thế thì được rồi!... Tốt hơn là mình hãy nghĩ đến mẹ đang khiến chúng ta phải tốn kém lắm, trong khi đời sống mỗi ngày mỗi đắt đỏ... Chỗ ở của mẹ đã trở thành cái ổ ô nhiễm thật sự rồi đấy!...
Chị giúp việc mỗi tuần đến nhà họ ba tiếng để giặt giũ quét dọn. Đây là sự thăm viếng duy nhất của người ngoài đối với gia đình này từ nhiều năm qua. Chị ta cũng giúp đỡ mụ Henrouille dọn giường. Suốt mười năm nay, cứ mỗi lần hai người cùng nhau lật tấm đệm là mụ Henrouille lại nói oang oang lên: “Vợ chồng tôi chẳng bao giờ để tiền ở trong nhà!” Mụ có ý qua người phụ nữ giúp việc này nhắc nhở xung quanh như vậy cốt ngăn ngừa và làm nản lòng những kẻ định tâm trộm cắp, giết người.
Buổi tối, trước khi đi ngủ là cả hai cùng nhau đi đóng thật kỹ mọi cửa ra vào, người nọ kiểm tra người kia. Rồi họ đưa mắt nhìn sang chỗ bà mẹ chồng ở cuối vườn xem ngọn đèn còn sáng không. Đó là dấu hiệu cho thấy bà cụ vẫn còn sống. Nhưng bà cụ cũng đốt tốn dầu quá! Bà chẳng chịu tắt đèn bao giờ. Vì cũng sợ những kẻ giết người và sợ luôn cả mấy đứa con này nữa. Thui thủi ở đó đã hai chục năm, chưa lúc nào thấy bà cụ mở cửa sổ, mùa đông cũng như mùa hè, và cũng cứ chong đèn suốt.
Lão con trai giữ tiền cho mẹ, những món tiền nhỏ trợ cấp. Lão rất cẩn thận. Ngày hai bữa lão bưng thức ăn đến đặt ngoài cửa. Bà cụ thì than vãn đủ thứ. Nấp sau cửa, bà mắng mỏ những ai sáp lại gắn chỗ ở của bà. Cũng có lúc mụ con dâu ướm gợi chuyện với bà cụ:
-Bà có già thì đâu phải lỗi ở chúng con. Ai già mà chẳng đau yếu...
-Già cái con đẻ ra chị! Đồ ăn mày! Đồ đĩ! Chính nhà chị đã làm cho ta phải cùng cực thế này bằng những trò dối trá bẩn thỉu...
Bà cụ Henrouille giận dữ phủ nhận tuổi tác của mình... Qua tấm cửa, bà vùng vằng chống cự những tai họa của tất cả mọi người. Bà chối từ mọi sự tiếp xúc coi đó chỉ là sự bịp bợm bẩn thỉu, không thừa nhận số mệnh và sự nhẫn nhục ở ngoài đời. Bà không muốn nghe tí gì về những cái đó. “Toàn là lừa lọc, bà la hét, và chính các người bịa ra những cái ấy!”
Chống lại tất cả những gì diễn ra bên ngoài túp lều của mình, bà tự vệ đến phát khiếp và cũng gạt bỏ luôn cả mọi toan tính gần gũi hay hòa giải. Bà có định kiến rằng mở cửa ra thì thế nào những kẻ thù nghịch cũng ùa vào, vồ lấy bà và thế là xong tuốt.
-Chúng nó bây giờ là tinh quái lắm, bà gào lên. Mắt chúng nó mọc khắp quanh đầu, miệng chúng nó xuống tận lỗ trôn và còn nhiều cái khác nữa chỉ để mà nói dối... Chúng nó là thế...
Bà cụ gào rất khỏe như đã học được ở Paris cách rao hàng trong Chợ Đền [103*] hồi còn nhỏ tuổi theo mẹ đi bán đồ cũ... Bà xuất thân vào cái thời mà đám người bình dân còn chưa biết quan tâm lo lắng đến sự già nua.
Bà gào lên với con dâu:
-Ta muốn lao động, nếu các người không chịu đưa tiền cho ta! Mi có nghe ta nói không, đồ bất lương? Ta muốn lao động!
-Nhưng bà còn sức đâu, bà ơi!
-Chà! ta không còn sức! Thì cứ thử chui vào cái hốc này, ta sẽ chỉ cho mà xem ta có còn sức không!
Và lại một lần nữa họ bỏ mặc luôn bà cụ trong cái xó ấy để bà tự xoay xở lấy. Tuy nhiên, họ cũng muốn bằng mọi cách cho tôi thấy được bà cụ, tôi đến cũng vì thế, và làm sao cho bà cụ tiếp chúng tôi, đó cũng là một mánh lới phi thường. Mà nói cho cùng, tôi cũng không hiểu hết được họ muốn gì ở mình. Chính chị gác cổng, cô thằng Bébert, nói đi nói lại với họ rằng tôi là một thầy thuốc rất hiền lành, đáng mến, được lòng mọi người... Họ muốn biết liệu tôi có thể chỉ dùng thuốc mà làm cho bà cụ chịu ở yên không... Hơn nữa, trong thâm tâm, họ còn muốn (nhất là mụ con dâu bà cụ) rằng tôi nhận đưa bà cụ vào nội trú trong nhà thương một lần luôn cho dứt... Chúng tôi phải gõ cửa đến nửa tiếng đồng hồ bà cụ mới chịu mở và tôi thấy ngay trước mặt mình một bà cụ già với hai con mắt viền nhử hồng hồng. Nhưng trên đôi má hốc hác xạm nâu, bà cụ vẫn có cái nhìn tinh anh lanh lợi, cái nhìn khiến cho ta không thể bỏ qua và cũng không còn nghĩ gì đến những gì còn lại, bởi vì nó ánh lên một thích thú nhẹ nhàng của tuổi thanh xuân.
Ngay trong bóng tối, cái nhìn lanh lợi ấy khuấy động cả xung quanh một niềm vui tươi trẻ, một hào hứng nhỏ nhoi nhưng trong sáng mà chúng ta không còn có được nữa. Giọng bà run run khi bà gào thét nhưng lại lanh lảnh khi bà muốn dùng những từ ngữ bình thường như mọi người, câu chứ nhảy nhót tung tăng, líu ra líu ríu, nửa nói nửa hát, vừa hồn nhiên, vừa thẹn thùng, vừa bệnh hoạn.
Tuổi tác phủ lên người bà như một gốc cây già run rẩy với những tán lá đung đưa.
Bà cụ Henrouille rất vui, lòng bất mãn, người cáu bẩn nhưng rất vui. Hơn hai chục năm sống trong thiếu thốn cùng quẫn mà cái đó không hề để chút dấu vết trong tâm hồn bà. Chính là do phải chống cự với cái bên ngoài mà bà phải co mình lại, cũng như cái rét, cái khủng khiếp và cái chết chỉ có thể đến với bà từ bên ngoài, chứ không phải bên trong con người và tâm hồn bà. Cái bên trong ấy, bà chẳng có gì phải nghi ngờ, dường như bà tuyệt đối tin chắc vào đầu mình như một cái gì dứt khoát không thể chối cãi được, tất nhiên là thế.
Còn tôi, kẻ đã xiết bao theo đuổi chính cái đầu mình và theo đuổi cả mọi người xung quanh nữa.
“Điên”, người ta bảo bà cụ như thế, kể thì bảo là “điên” cũng dễ thôi. Trong mười hai năm, bà cụ chỉ ló ra khỏi nơi ẩn náu của mình có ba lần, tất cả chỉ có thế! Có thể là bà cụ có những lý do của mình... Bà cụ không muốn mất gì cả... Bà chẳng muốn nói ra những lý do ấy vì cuộc đời đâu còn gây cảm hứng cho ta.
Con dâu bà lại nhắc đến chuyện đưa bà cụ vào nhà thương.
-Bác sĩ ơi, ông có tin là bà tôi điên không?... Không còn cách gì để bà tôi ra ngoài cả!... Thỉnh thoảng ra ngoài thì chỉ tốt cho bà thôi!... Bà ơi như thế tốt cho bà đấy! Bà đừng trả lời không nhé... Chỉ tốt thôi bà ạ! Con đảm bảo với bà.
Bà cụ lắc đầu, dửng dưng, ương bướng, man dại. Họ vẫn ra sức đon đả mời mọc:
-Bà tôi không muốn ai chăm nom đến bà... Bà cứ muốn sống mãi trong xó xỉnh ấy... Trong ấy lạnh lắm mà không có lửa sưởi... Không thể nào cứ để bà như thế... Phải không bác sĩ, không thể như thế được...
Tôi làm như người không biết gì. Lão Henrouille thì cứ đứng ì ra bên lò bếp, lão thích để mặc việc mồi chài giữa mụ vợ lão với mẹ lão và với tôi.
Bà cụ lại nổi giận.
-Các người trả lại cho ta tất cả những gì của ta, rồi ta sẽ đi khỏi đây!... Ta sẽ có cái để mà sống!... Và các người sẽ không còn phải nghe nói đến ta nữa!... Chỉ một lần là xong hết!...
-Sống bằng gì? Bà ơi, bà không thể nào sống được với ba nghìn quan một năm của bà đâu!... Đời sống đã đắt đỏ lên từ lúc bà ra ngoài lần cuối ấy rồi!... Có phải không, bác sĩ nhỉ, tốt nhất là cứ đến với các bà xơ, như người ta bảo bà... Các bà xơ trông nom tốt lắm... Các bà xơ tử tế lắm...
Nhưng cái viễn cảnh đến với các bà xơ càng làm bà cụ khiếp sợ.
-Đến các bà xơ ư? Đến các bà xơ ư?... bà cụ cự lại liền. Ta là ta chẳng bao giờ đến các bà xơ!... Tại sao ta không đến với linh mục như các người!... Hử? Nếu ta không có đủ tiền như các người nói thì ta còn lao động được!...
-Lao động? Bà mà lao động? Nhưng lao động ở đâu? Chà, bác sĩ nghe xem: Lao động! Với tuổi ấy của bà tôi! Sắp tám mươi rồi còn gì! Có mà điên, bác sĩ nhỉ! Ai người ta mượn đến bà? Bà ơi, bà điên mất rồi!...
-Điên! Chẳng ai điên! Chẳng đâu điên!... Có lẽ chỉ có các người mới thế thôi!... Đồ cứt thối!...
-Bác sĩ nghe đấy, bây giờ ai đang điên, ai đang chửi tôi đây! Thế này thì bác sĩ vẫn còn cứ muốn chúng tôi phải giữ mãi bà ở đây sao?
Thế là bà cụ quay sang tôi, coi tôi như thêm một mối nguy nữa cho bà.
Ông này thì biết làm sao được ta có điên hay không? Ông ta hiểu sao được trong đầu ta? Hiểu sao được trong đầu mi? Họa có chui vào đấy thì mới hiểu được... Thôi cút cả hai người đi, cút khỏi nhà ta đi! Đến quấy rầy ta, các người còn độc ác hơn cả cái rét mùa đông kéo dài... Nào đi mà gặp con trai ta hơn là cứ đứng đấy phun ra những cái độc địa! Con ta cần thầy thuốc hơn ta đấy! Hắn rụng hết cả răng rồi, lúc còn được ta chăm nom thì hàm răng của hắn đẹp ơi là đẹp!... Đi đi, ta đã bảo đi đi, cút cả hai đi!
Nói đoạn, bà cụ sập luôn cửa lại.
Nhưng, đứng sau chiếc đèn, bà cụ vẫn dõi theo chúng tôi bước qua sân, khuất dần. Cho đến lúc chúng tôi đã khuất hẳn, khá xa rồi, bà cụ mới ré lên cười. Bà cụ tự bảo vệ mình giỏi thật.
Henrouille vẫn đứng nguyên bên lò bếp, quay lưng lại phía chúng tôi. Mụ vợ lão thì lẵng nhẵng quấy rầy tôi với những câu hỏi vẫn cùng một ý... Mái tóc mụ nàng dâu này mầu hung nhạt và cái đầu mụ thì quả là ranh ma. Lúc nói, mụ kẹp chặt hai cánh khuỷu, không rời ra khỏi mình. Mụ không điệu bộ gì cả. Dù sao thì mụ cũng không coi buổi khám bệnh này là vô bổ, mà mụ vẫn có thể dùng vào cái gì đây... Đời sống thì cứ lên vùn vụt.. Trợ cấp của bà cụ không còn đủ nữa... Hai vợ chồng cũng đã già rồi... Họ không còn có thể như trước kia luôn luôn lo đến bà cụ chết mà không được chăm nom... Cứ giả dụ như bà cụ nổi lửa chẳng hạn... Sống với chấy rận, bẩn thỉu như thế... Đáng lẽ vào một nhà dưỡng lão tử tế có người trong nom cho bà...
Thấy tôi có vẻ đồng tình, cả hai đều tỏ ra đáng mến hơn... Họ hứa là sẽ quảng cáo thật tốt cho tôi với bà con trong khu phố. Nếu như tôi có thể giúp được họ... Rủ lòng thương, giúp họ giũ bỏ được bà cụ... Họ cho rằng như thế cũng là giúp cả cho bà cụ, thật khốn khổ nếu cứ ngoan cố sống lay lắt trong cảnh ấy.
- Mà rồi ra còn có thể cho thuê luôn cả cái chỗ ấy nữa chứ. Lão chồng bỗng như tỉnh giấc, gợi ý như vậy. Mụ vợ thấy chồng nói hớ ngay trước mặt tôi, bèn nện gót lên chân chồng dưới gầm bàn. Lão chẳng hiểu ra làm sao.
Trong lúc họ cãi nhau, tôi chìa ra tờ giấy bạc một nghìn quan để tỏ cho họ thấy là tôi sẽ lấy bằng ấy chỉ cho một việc cấp giấy chứng nhận nhập viện nội trú. Hai vợ chồng thấy món tiền to quá... Cô thằng Bébert có lẽ đã làm cho họ tin cậy ở tôi và kể cho họ biết rằng cả cái thị xã Rancy chẳng có anh thầy thuốc nào lại kiết xác như tôi... Ai muốn trả thế nào là tùy. Ông này đạo đức lắm. Chứ không như bác sĩ Frolichon cũng một việc như thế này đâu!
Tôi đã đi guốc vào bụng họ. Khi ấy bà cụ già bỗng xuất hiện trong căn phòng chúng tôi đang bàn tính với nhau. Có lẽ bà cụ cũng đã nghi nghi. Thật bất ngờ! Bà cụ vén váy tốc lên ngang bụng và lập tức bà chửi cả mấy người, đặc biệt nhằm tôi mà chửi. Bà đi suốt từ cuối vườn sang cũng chỉ có một việc ấy.
- Thằng vô lại! bà chửi thẳng vào mặt tôi, mi có thể cút được rồi đấy! Cút ngay, ta đã bảo! Không việc gì đến mi phải ở lại đây!... Ta không đến với lũ điên!... Cũng không đến các bà xơ, ta đã bảo mi thế!... Mi chỉ lừa bịp, chỉ dối trá!... Không lừa được tao đâu, thằng nhãi bất lương! Chính những đứa này mới phải đi trước ta, quân khốn kiếp, những tên trấn lột bà già!... Còn thằng chết tiệt này, mi sẽ phải vào tù, ta nói cho mà biết, mà cũng không lâu la gì đâu!
Rõ thật xúi quẩy. Đã tưởng chỉ một cú có thể kiếm được nghìn quan. Tôi không còn hỏi han gì nữa.
Đã ra ngoài phố vẫn còn nghe thấy bà cụ từ dẫy cột trước nhà gào réo lên chửi theo tôi đang lủi vào bóng tối: “Đồ vô lại!” Tiếng la hét của bà cụ vang lên. Một bài học kinh nghiệm nhớ đời! Tôi lách từ cột đèn này sang cột đèn khác cho đến tận một nhà đái ở quảng trường Lễ hội. Nơi trú ẩn đầu tiên.