Có hai cách để luồn rừng, hoặc là phạt bờ phạt bụi thành một đường hầm như kiểu chuột rũi trong cây rơm. Cách này ngột thở mất. Chán cách này lắm. Hoặc giả, thu lu với nhau trong một hốc thân cây, chờ đợi nước lên, xô đẩy loanh quanh giữa những lùm cây rậm rạp loạn xạ, ngong ngóng hết ngày này qua ngày khác dưới nắng chang chang, không còn biết trông cậy vào đâu. Đầu óc thì rối mù lên với những tiếng hò la của đám da đen, để mặc đến đâu thì đến, ra sao thì ra.
Mỗi lần xuất phát là lại phải có thời gian để cho các tay chèo đò lấy nhịp cho đều. Lại một lần tranh cãi. Rồi một mái chèo khuấy nước, hai ba tiếng hò vang vang và rừng sâu đáp lại. Nước xoáy, con thuyền lướt lên. Một mái chèo, rồi hai, rồi ba, sóng nước rộn ràng, ngoái nhìn lại mặt biển phẳng lặng, xa dần, Alcide còn đứng đó trên cái bến của cậu ta, dưới cái mũ cối to dùng như hình quả chuông, rồi chỉ còn tí thủ, ló thêm tí khuôn mặt và những gì còn lại ở phần dưới của Alcide chỉ phất phơ trong tà áo như đã biến mất vào cái ký ức kỳ cục của hai ống quần trắng. Đó là tất cả những gì còn lại với tôi về nơi đó, về mảnh đất Topo đó.
Liệu người ta đã có thể bảo vệ được lâu cho cái xóm nóng bỏng đó khỏi lưỡi hái tinh quái của con sông với những làn nước đục ngầu? Và ba túp lều khốn khổ ấy có còn đứng vững được không? Và những tay Grappa mới, những cậu Alcide vô danh khác có còn huấn luyện cho đám lính tập những trận đánh vô sở cứ ấy không? Liệu ở đấy có còn diễn ra những phiên tòa giản dị thế nữa không? Nước mà ta định uống ở đấy liệu có còn nồng nồng khen khét, mỗi lần uống phải thì cứ gọi là tám ngày sau vẫn không hết mùi khó chịu trong mồm?... Và vẫn không có nước đá chứ? Và những cuộc chiến đấu của màng nhĩ với những tiếng vo ve không ngớt của ruồi muỗi, rồi ngốn cho đẫy kí ninh, xun-phát, clô-hi-đrát? Nhưng trước hết xin hỏi, có còn những con người da đen ngày càng héo quắt và lở loét trong cái lò hầm ấy không? Có lẽ tốt hơn là không.
Có thể chẳng còn quái gì tồn tại, con sông Congo đã lè cái lưỡi bùn của nó làm một cú liếm sạch Topo trong một cơn lốc thổi qua lúc chiều tối và thế là hết, hết thật sự, cả đến cái tên của nó cũng biến mất trên các bản đồ, chỉ còn có tôi là còn nhớ đến nó vì nhớ đến Alcide... Có thể cả đứa cháu gái của cậu ta cũng đã quên rồi. Có thể trung úy Grappa không bao giờ thấy lại thành phố Toulouse của anh ta... Có thể là cánh rừng bấy lâu rình rập mỗi mùa mưa tới để chiếm lấy và làm tiêu tan cái đụn cát dưới bóng những cây gụ kếch xù, tất, tất cả, ngay cả những bông hoa nhỏ xíu mọc bất ngờ trên đụn cát mà Alcide đã không cho tôi tưới nước vì sợ làm chúng chết mất... Có thể là chẳng còn gì tồn tại.
Sẽ còn in lâu trong trí nhớ của tôi những gì xảy ra trong mười ngày ngược dòng sông này... Ngồi giữa khoang thuyền độc mộc, phải theo dõi từng vụng nước xoáy đầy phù sa, lựa hết quãng vượt này sang quãng vượt khác, làm sao tránh cho thật ngọt những cành cây to đùng trôi giạt trên sông... Thật là một thứ lao động khổ sai.
Chiều chiều, khi hoàng hôn xuống, chúng tôi dừng thuyền trên một mô đá. Rồi một buổi sáng, chúng tôi giã biệt chiếc thuyền man dại bẩn thỉu để đổ bộ vào rừng theo một con đường mòn che khuất trong cái tranh tối tranh sáng xanh rờn và ẩm ướt, thi thoảng một đôi chỗ được tia sáng mặt trời rọi qua kẽ lá từ tít tắp ngọn cây lá cành sum sê đan cài vào nhau bất tận. Những thân cây đổ gớm ghiếc như quỷ dữ chắn ngang đường khiến chúng tôi cứ phải vòng vo tìm lối. Cả một đoàn xe điện ngầm có lẽ cũng chui lọt dễ dàng thoải mái trong những hốc cây trống rỗng ấy.
Tới một lúc, ánh sáng òa xuống, đó là khi chúng tôi đã đến một khoảng đất trống, nhưng lại phải leo, phải thêm một cố gắng nữa. Lên tới đỉnh đồi, nhìn bao quát khu rừng mù mịt bạt ngàn, nhấp nhô những ngọn cây vàng, đỏ, xanh, chen lấn núi đồi, rừng cũng chứa chan tràn ngập như trời như nước. Tôi được chỉ cho biết người mà chúng tôi đang tìm kiếm còn ở hơi xa... trong một cái thung nhỏ bên kia. Hắn đang chờ chúng tôi ở đó.
Giữa hai tảng đá lớn, hắn dựng một cái lều làm chỗ trú ẩn những cơn lốc từ phía đông thổi tới, những cơn lốc dữ nhất, tàn phá nhất. Tôi rất muốn chấp nhận đó là một lợi thế, nhưng cái lều này thì chắc hẳn phải thuộc loại tiều tụy mạt hạng, một chỗ ở chỉ còn là lý thuyết, tả tơi tơi tả. Tuy đã hình dung trước một nơi ở na ná thế, nhưng thực tế còn vượt xa mọi dự kiến của tôi.
Có lẽ tôi đã làm cho anh bạn thấy mình hoàn toàn cám cảnh với anh ta, nên anh ta khá đột ngột kéo tôi ra khỏi những suy tư.
- Thôi nào, anh bạn, dẫu sao thì ở đây vẫn đỡ tồi tệ hơn trong chiến tranh chứ! Dù thế nào thì ở đây còn tự xoay xở được! Ăn tồi, cái đó đúng, và uống toàn nước bùn thật sự, nhưng ngủ thì anh thả sức muốn ngủ đến bao giờ cũng được... Không có đại bác đâu, anh bạn ơi! Đạn súng trường cũng không nốt! Tóm lại là đáng việc đấy chứ!
Giọng hắn ta hơi giống giọng lão tổng đại lý, nhưng hai con mắt thì nhợt nhạt như mắt Alcide.
Tay này dễ suýt soát ba mươi, râu rậm... Tôi chưa kịp nhìn kỹ hắn ta, vì đến nơi thì còn mải bận tâm với cái nghèo nàn trong nơi ăn chốn ở mà hắn sắp bàn giao cho tôi, và tôi sẽ phải trú ngụ ở đó, có thể là nhiều năm nữa... Nhưng rồi sau đó, quan sát hắn, tôi thấy một khuôn mặt rõ ràng là phong trần, một khuôn mặt rất gai góc và thấy cả một trong những cái đầu nổi loạn lao thẳng vào cuộc sống một cách quá ư quyết liệt thay vì chỉ có lăn lộn trên đó, một khuôn mặt với cái mũi tròn và cặp má đầy xệ, lúc nào cũng ba hoa chửi số phận. Anh chàng này hẳn là một con người khốn khổ đây.
Tôi trả lời:
-Đúng thế, không có gì tồi tệ hơn chiến tranh!
Tôi nghĩ, thế cũng đủ cho những lời tâm sự rồi, nên không có ý muốn nói gì thêm nữa. Nhưng chính hắn lại vẫn tiếp tục cái chủ đề ấy:
-Nhất là, đến nay người ta đã kéo quá dài những cuộc chiến tranh... Nhưng này, rồi anh bạn sẽ thấy nơi đây cũng không kỳ cục gì lắm đâu, tất cả chỉ thế thôi! Chẳng có gì mà làm... Y như đi nghỉ hè ấy... Có điều là nghỉ hè ở đây nó là thế đấy, phải không! Mà cũng còn tùy theo cảnh vật, tớ chẳng nói được gì hơn đâu...
-Thế còn nước uống? tôi hỏi, vì thấy cái thứ nước vừa rót vào cốc của mình mà lo, nó vàng vàng, nhấp vào miệng đã thấy buồn nôn, nó cũng nong nóng như nước ở Topo. Thứ nước đã đóng cặn trong bình đến ngày thứ ba. Thế là cái khốn khổ về nước lại bắt đầu. - Nước uống đây ư?
-Ừ, ở đây chỉ có nước như thế và nước mưa... Có điều là, trời mà mưa xuống thì cái lều này không chống đỡ được mấy chốc đâu. Cậu đã thấy cái lều này ra sao rồi chứ?
Tôi thấy rồi.
Hắn tiếp:
-Còn thức ăn thì chỉ toàn đồ hộp thôi. Tớ đã ngốn suốt một năm nay... Chẳng vì thế mà chết đâu! Nghĩ theo cách nào đó thì như thế lại đơn giản mà cũng chẳng hại gì đến cơ thể; dân bản xứ họ còn tọng cả sắn mốc nữa, đó là việc của họ, họ thích thế... Đã ba tháng nay tớ trả lại tất... Ỉa tháo tỏng mà. Cũng có thể cả sốt rét nữa; tớ bị cả hai... Cứ khoảng năm giờ là tớ thấy rõ lắm... Vào lúc ấy là tớ biết mình lên cơn sốt, vì cái nóng ở đây thì khó mà phân biệt cái nóng trong người với cái nóng do khí hậu địa phương!... Hễ chừng nào thấy gai gai rùng mình thì đó là dấu hiệu báo cho anh biết sốt rét nó bắt đầu hành đấy... Biết được thì cũng bớt lo lắng... Nhưng cũng còn tùy bản chất từng người... Có người uống rượu cho lại sức, nhưng tớ thì không thích rượu... Tớ không chịu được...
Tay này hình như rất quan tâm đến cái cậu ta gọi là “bản chất”.
Thế rồi, trong khi còn đó, hắn cho tôi biết thêm một vài tình hình khá hấp dẫn:
-Ngày thì nóng, nhưng đến đêm thì khó chịu nhất là các thứ tiếng động... Không thể tưởng tượng. Những con vật nhỏ bé ở cái nơi khỉ ho cò gáy này đêm đêm săn đuổi nhau để làm tình hay ăn thịt nhau tớ chẳng biết được, chỉ thấy người ta bảo thế... Rúc ra rúc rích, gầm gừ choe chóe... Cứ là ồn ĩ suốt đêm! Nhưng ồn nhất là lũ linh cẩu vằn... Những con này mò đến tận sát lều mình đấy... Rồi cậu sẽ thấy... Cậu sẽ không nghe lầm đâu... Nó không giống như tiếng muỗi rừng vo ve đâu [83*]... Đôi khi cũng có thể lầm với tiếng chim hoặc tiếng ruồi muỗi... Cái đó thường xảy ra... Lũ linh cẩu chúa tếu đấy... Nó hít hít đánh hơi để thịt cậu đấy... Thấy được hơi thịt là chúng nó rúc rích với nhau!... Chúng nó cuống cà kê lên tìm cách đánh chén cậu đấy!... Chúng nó càng thích các loại thịt ôi thối!... Người ta bảo rằng có thể nhìn thấy những con mắt sáng lấp lánh của chúng nó... Chúng nó thích thịt thối... Tớ thì tớ chẳng nhìn vào mắt chúng nó... Tớ biết rõ những cái đó lắm...
Tôi trả lời:
-Nơi này lạ lùng nhỉ!
Nhưng chưa phải đã hết những chuyện thú vị trong đêm đâu. Cậu ta nói thêm:
-Lại còn cái làng này nữa chứ... Trong làng chẳng có đến một trăm mống da đen, nhưng cứ loạn cả lên như thể đông hàng vạn, nhất là các mụ!... Cậu cũng có thể sẽ kể được lắm chuyện về đám này! Trời! nếu cậu định tìm đến thuộc địa để mà nghe tiếng trống thì cậu đã không lầm đâu! Bởi vì ở đây, có trăng thì người ta cũng có cớ để khua trống, mà không có trăng thì cũng thế... Người ta bảo để mà chờ trăng... Thế là cái gì cũng có thể là lý do để khua trống! Có lẽ phải nói rằng họ phụ họa với những con vật kia để quấy rầy cái thịt thối của cậu! Tớ muốn nói rằng để chúng thịt luôn cậu! Tớ mà không mệt thì tớ tẩn cả lũ chúng một trận ra trò... Nhưng tớ lại thích nhét bông vào lỗ tai hơn... Dạo trước trong tủ thuốc tớ còn có va-dơ-lin thì tớ thấm nó vào bông, nhưng bây giờ tớ phải thấm nhựa chuối. Cái món nhựa chuối cũng hay ra phết... Có cái món ấy rồi thì mặc cho lũ tóc xoăn có khoái trá vì động cỡn gọi đến sấm sét nhà trời xuống cũng mặc! Tớ cóc cần vì đã có bông tẩm nhựa chuối rồi! Tớ chẳng còn nghe thấy gì cả! Rồi thì cậu sẽ biết ngay cái lũ mọi đen thôi, một lũ chết dẫm thối rữa cả!... Ban ngày, chúng nó ngồi chầu hẫu, tưởng như chỉ có thể đứng lên đái ướt đẫm cái thân cây, nhưng rồi màn đêm vừa buông xuống là chúng nó sẽ cho cậu thấy! Tất cả biến thành suy đồi, điên khùng, cuồng loạn! Từng mảnh đêm cũng chuyển thành cuồng loạn! Thế đấy, lũ mọi đen là thế đấy, tớ nói cho cậu biết! Tóm lại, đó là một lũ tởm lợm, lũ thoái hóa!
-Thế họ có thường đến mua đồ của cậu không?
-Mua ấy à? Chà! cậu hãy nhận lấy cho rõ! Phải lấy của lũ ấy trước khi chúng nó lấy của mình, buôn bán là thế cả! Hơn nữa đối với tớ, khi hai tai đã nhét đầy bông thấm đẫm nhựa chuối rồi thì chẳng đứa đếch nào quấy rầy được tớ trong đêm hôm nữa! Càng làm bộ làm tịch thì càng lòi đuôi ra, phải không nào? Và rồi, như cậu thấy đấy, lều của tớ cũng chẳng có cửa rả gì, chúng nó tha hồ khua khoắng, có thể nói là thế... Đối với chúng nó thì chỗ này thật béo bở...
Tôi hỏi hắn trong khi sững sờ trước những chi tiết đó:
-Nhưng mà này, còn bản kiểm kê đâu? Lão Tổng giám đốc dặn kỹ tớ là đến nơi phải lập tức làm kiểm kê, mà làm thật tỉ mỉ!
Cậu ta trả lời tỉnh bơ:
-Đối với tớ thì lão Tổng giám đốc tớ chẳng coi là cái cứt gì... Tớ lấy danh dự mà nói với cậu như thế...
-Nhưng rồi thế nào mà cậu chẳng qua Fort-Gono và gặp lại lão ta?
-Tớ sẽ chẳng bao giờ thấy lại cả Fort-Gono lẫn lão Tổng giám đốc... Khu rừng này lớn lắm anh bạn nhỏ ơi...
-Vậy cậu sẽ đi đâu?
-Nếu họ có hỏi thì cứ trả lời rằng cậu không biết gì hết! Nhưng vì cậu đã có ý tò mò, thì trong khi còn thời gian, để tớ cho cậu một lời khuyên, kỳ lạ nhưng mà tốt đấy! Hãy quẳng mẹ nó đi các công việc của cái “Công ty Pordurière”, như nó đã quẳng cậu đến đây và nếu cậu tếch được mau như nó đã vấy cứt vào cậu thì chắc chắn là cậu sẽ giật “Giải Quán quân” đấy! Cậu hãy lấy làm mừng rằng tớ còn để lại cho cậu được ít tiền lương và cũng đừng đòi hỏi gì hơn ở tớ!... Đối với các thứ hàng hóa, nếu quả là lão ấy giao cho cậu trông nom... Cậu cứ trả lời lão giám đốc rằng chẳng còn đếch gì cả, tất cả là thế thôi!... Nếu lão ta không chịu tin cậu, thì cũng chẳng có gì là quan trọng lắm đâu!... Họ đã đinh ninh coi chúng mình là một lũ ăn cắp, bằng mọi cách! Cái đó sẽ chẳng có gì thay đổi trong dư luận xã hội và một khi cái đó lại đem lại chút ít cho mình... Hơn nữa, lão giám đốc thì cậu đừng ngại, lão ta giỏi mưu mô hơn ai hết và chẳng cần phải phản bác làm gì! Ý kiến tớ là thế đấy! Có phải ý cậu không? Chúng ta đã biết rõ rằng muốn đến nơi này thì phải sẵn sàng giết cả cha cả mẹ, phải thế không? Sao nào?...
Tôi không chắc lắm rằng tất cả những cái hắn vừa kể đó là sự thật, nhưng phải chăng thằng cha tiền nhiệm của tôi có ý gây cho mình một ấn tượng tức thì về một đứa tham tàn hung bạo.
Lúc ấy tôi không còn yên tâm được nữa. Tôi nghĩ bụng: “Mình lại rơi vào một trò tồi tệ đây”, và càng lúc ý nghĩ ấy càng mạnh trong tôi. Tôi thôi không trò chuyện với tên bất nhân này. Trong một góc lều, tôi chợt thấy tung tóe những thứ hàng có lẽ hắn ta định bỏ lại cho tôi, những mảnh vải bông chẳng đáng gì... Nhưng, ngược lại, cũng có những chiếc quần xà lỏn, hàng tá bít tất, những hộp hạt tiêu, những chiếc đèn con, một cái bốc để thụt rửa, và nhất là một khối lượng không chê được những hộp thịt ra-gu nấu đỗ theo kiểu Boọc-đô, cuối cùng là một tấm bưu ảnh: “Quảng trường Clichy”.
- Gần cái cột, cậu sẽ thấy đống cao su và ngà voi tớ mua của bọn mọi đen... Ban đầu thì tớ cũng khó chịu, nhưng rồi, à này, cậu cầm lấy ba trăm... Tiền của cậu đấy...
Tôi chẳng hiểu là tiền gì, nhưng cũng không buồn hỏi lại hắn.
- Có lẽ cậu sẽ có vài vụ hàng đổi hàng nữa, vì ở đây cậu nên biết rằng người ta chẳng cần gì đến tiền đâu. Tiền chỉ dùng để mà tếch thôi...
Và hắn ta cười hô hố. Không muốn để hắn phật lòng, tôi cũng phải cười cho hắn tưởng như mình ăn ý với hắn lắm.
Bất chấp cái cảnh cùng quẫn mà hắn phải hãm mình trong đó đã từ nhiều tháng, hắn vẫn được săn sóc bởi một đám đầy tớ rất hỗn tạp, chủ yếu là bọn nhóc con, lúc nào cũng săn đón phục vụ hắn, lúc thì lấy cái muôi duy nhất, lúc thì cái cốc vô song, hoặc giả là nhể những con rận nhỏ li ti cắn sâu trong gan bàn chân hắn. Bù lại, chốc chốc hắn lại thọc tay vào háng mấy đứa nhóc làm cái việc không cần đòi công sá gì cả. Việc nặng nhọc nhất tôi thấy được ở hắn, là việc gãi ghẻ, giọng như tay bán hàng ở Fort-Gono, với một sự lanh lẹ tuyệt vời, rõ ràng chỉ thấy được ở các thuộc địa.
Đồ đạc hắn giao lại cho thấy tất cả sự khéo tay đã biến những chiếc hòm xà phòng gãy nát thành những chiếc ghế tựa, những chiếc xích đông, cả những chiếc ghế xa-lông nữa. Thằng cha bí hiểm ấy còn chỉ cho tôi biết cách lấy mũi chân đá một cái thật nhanh thật mạnh hất hẳn ra xa những con sâu sặc sỡ nặng nề đang kéo nhau run rẩy rãi rớt leo vào tấn công túp lều của chúng tôi. Nếu vô phúc giẫm phải nó thì eo ôi! cứ gọi là tám ngày không hết mùi thối cực kỳ xông ra từ cái xác nát nhừ của nó. Không biết hắn đọc được ở đâu người ta nói rằng giống sâu này thuộc loài động vật cổ nhất trần đời. Hắn cho rằng chúng xuất hiện từ giai đoạn hai của kiến tạo địa tầng! “Không biết loài người mà cũng sống dai được như giống sâu ấy thì liệu chúng mình có thối rữa như nó không nhỉ?” Thế nào nên thế.
Những lúc nắng quái chiều hôm ở cái địa ngục châu Phi này mới càng bộc lô cái phi thường của nó. Không còn trốn vào đâu được. Bi thảm như thể những vụ giết người ghê gớm của mặt trời. Một sự hào nhoáng mênh mông vô hạn. Họa chăng chỉ người duy nhất nào đó mới thấy ra những điều kinh ngạc. Trong một tiếng đồng hồ, ông trời thao diễn từ đầu này sang đầu kia, cuồng nhiệt phóng ra những tia đỏ chói, và rồi cái màu xanh ánh rực lên giữa các chòm cây và rọi những vệt sáng lung linh từ mặt đất lên tít tận các vì sao mọc sớm. Sau đó là màu xám chiếm lấy tất cả chân trời rồi lại màu đỏ nhưng cũng yếu đi dần và không còn đọng được lâu nữa. Một ngày ở đây kết thúc như thế đấy. Tất cả mọi màu sắc rơi lả tả xuống, mệt mỏi uể oải trên khu rừng này như những tấm giẻ rách tả tơi hàng trăm nghìn mảnh. Ngày nào cũng thế, cứ vào lúc sáu giờ là cảnh ấy lại diễn ra.
Và đêm tối lại vào cuộc với tất cả lũ ma quỷ của nó, giữa những tiếng kêu của hàng nghìn, hàng nghìn những con ễnh ương chão chuộc.
Rừng cũng chỉ chờ có thế, chờ hiệu lệnh của những con ễnh ương chão chuộc ấy mà rung lên, gào rít, khuấy đảo tất cả mọi chiều sâu của nó. Một sân ga ái tình khổng lồ, tối om, đầy ních đến vỡ bung ra. Những cái cây toàn thân phị ra và những cuộc nhậu nhẹt náo nhiệt, những vụ cương cứng bị cắt xẻo, những cái tởm lợm. Cuối cùng thì trong lều, hai đứa chúng tôi cũng không còn hợp ý được với nhau nữa. Đến lượt tôi phải gào lên quá mặt bàn như mèo gào để cho hắn hiểu mình là thế nào. Tôi đã từng làm nghĩa vụ quân sự, tôi là một kẻ không thích chiến trường.
- Tên cậu là gì nhỉ? Có phải cậu vừa nói với tớ rằng cậu là Robinson không? tôi hỏi hắn.
Thằng bạn còn đang mải miết nhắc lại chuyện dân bản xứ ở mấy vùng quanh đây đau ốm ê chề vì đủ thứ bệnh tật và những kẻ khốn khổ ấy không còn làm sao mà tính đến chuyện buôn bán gì nữa. Trong khi chúng tôi trò chuyện về dân da đen thì từng đàn ruồi muỗi, côn trùng to tướng bay vo ve bám đen mấy ngọn đèn, đến mức chúng tôi đành phải tắt hết.
Một lần nữa, trước khi tắt đèn, tôi còn thấy khuôn mặt tay Robinson này mờ ảo sau tấm màn côn trùng. Có lẽ vì thế mà nét mặt hắn càng hằn sâu hơn vào trí nhớ của tôi, chứ không như trước đó nét mặt ấy không gợi được cho tôi cái gì rõ rệt cả. Trong bóng tối, hắn tiếp tục chuyện trò trong khi tôi lục tìm trong quá khứ của mình, qua giọng nói của hắn như một tiếng gọi cửa, trong năm nào, tháng nào, ngày nào đó, để tự hỏi xem đã gặp con người này ở đâu đây. Nhưng tôi không tìm ra được gì cả. Không ai trả lời cho tôi. Có thể lạc lối nếu cứ dò dẫm giữa những khuôn hình đã qua. Thật dễ sợ khi gặp những việc và những người không còn động đậy trong quá khứ của mình. Trong những hốc sâu thời gian, người ta dễ lầm lạc những người sống đang ngủ say với người chết mà bóng tối đã làm lẫn lộn.
Không còn biết được ai già đi khi tỉnh dậy, những người sống hay người chết.
Tôi tìm cách đoán nhận ra tay Robinson này khi những tiếng cười gằn quá xá trong đêm chưa khuya lắm khiến tôi phải giật mình. Và tiếng cười lại im bặt. Có thể là hắn báo cho tôi biết những con linh cẩu vằn đang mò đến.
Và rồi chẳng có gì ngoài đám dân da đen trong làng với những tiếng trống của họ, cái tiếng gõ đơn điệu vào khúc gỗ rỗng như tiếng gió lùa tổ mối.
Nhưng chính cái tên của Robinson lại quấy rầy tôi hơn cả, và càng lúc càng rõ hơn. Chúng tôi quay sang nói chuyện với nhau trong bóng tối về châu Âu, về những bữa ăn được phục vụ ở bên đó khi có tiền và lại cả nhậu nữa! Khá là tươi mát! Chúng tôi không nói gì đến chuyện hôm sau mà tôi sẽ phải ở lại một mình, tại đó, có thể là nhiều năm không chừng, ở đó với những hộp “ra-gu nấu đỗ''... Liệu có phải chọn lựa chiến tranh nữa không? Chắc chắn là sẽ tồi tệ hơn. Rất tồi tệ!... Bản thân hắn ta cũng chấp nhận như thế... Hắn cũng đã từng tham gia chiến tranh... Tuy vậy hắn sẽ từ giã nơi này... Dù sao hắn đã quá ngán rừng rú... Tôi đang cố kéo hắn trở lại đề tài chiến tranh. Nhưng hắn né tránh.
Cuối cùng, vào lúc hai chúng tôi mỗi đứa nằm một góc của cái lều tồi tàn lợp lá và ngăn vách này, hắn thú thật với tôi không cần phải úp mở gì cả, rằng hắn đã cân nhắc kỹ, thà rằng có thể bị truy tố ra một tòa án dân sự về tội bán thốc bán tháo những đồ mua quít còn hơn là kéo dài mãi cuộc sống với “ra-gu nấu đỗ” mà hắn đã phải chịu đựng ở đây từ gần một năm nay. Tôi đã hiểu sự thể thế nào rồi.
Hắn vẫn còn hỏi tôi:
- Sao, cậu vẫn chưa có bông nhét lỗ tai à? Không có bông thì cậu cứ rút luôn mấy sợi bông ở cái chăn đắp rồi tẩm nhựa chuối. Vê nó lại thành cục nhỏ, tốt chán... Tớ là không chịu được tiếng gào rống của lũ độc ác ấy!...
Trong cái huyên náo ấy có đủ hết cả, nhưng hắn ta chỉ nhấn vào những kẻ độc ác, một từ ngữ đã không sát nghĩa mà lại có ý vơ đũa cả nắm.
Tôi bỗng có cảm giác là cái trò nhét bông lỗ tai của hắn ẩn giấu một mưu mẹo bỉ ổi gì đây. Tôi không nén được sự ám ảnh bởi nỗi sợ hãi rằng hắn đang khởi sự một cuộc ám sát mình ngay trên cái giường gấp này, trước khi hắn chuồn với những gì còn lại trong quỹ... Ý nghĩ ấy làm tôi choáng váng. Nhưng làm gì bây giờ? Réo gọi lên à? Gọi ai? Gọi những kẻ ăn thịt người trong làng ư?... Mất tích? Sự thật thì tôi đã gần là thế rồi! Ở Paris, không tài sản, không nợ nần, không có gì thừa hưởng, người ta đã khó mà tồn tại và thật đau khổ là không được coi là mất tích... Thế mà ở đây? Liệu có ai tự dẫn thân đến tận Bikomimbo này chỉ để khạc nhổ một cái xuống nước, không hơn, để làm vui cho cái ký ức của tôi? Tất nhiên chẳng có ai cả.
Những giờ phút trôi qua với những ngơi nghỉ và những lo âu. Hắn ta không ngáy. Tất cả những tiếng động, tiếng kêu từ trong rừng vẳng ra làm cho tôi không lắng nghe được tiếng thở của hắn. Khỏi cần đến bông. Nhưng cuối cùng thì chỉ nội cái tên Robinson cũng buộc tôi phát hiện dần ra một thân hình, một dáng người, một giọng nói mà tôi đã từng biết... Và rồi khi tôi sắp thiu thiu ngủ thì như thấy sừng sững trước giường tôi toàn thân thằng cha ấy, ký ức của hắn tôi hiểu rõ lắm, tất nhiên không phải gá này mà là ký ức của Robinson, con người ở Noirceur-sur-la-Lys, chính hắn, ở đó, ở vùng Flandres, mà tôi đã đi cùng hắn trên những bờ sông trong cái đêm hai đứa cùng nhau kiếm tìm một lỗ nào có thể thoát ra khỏi chiến tranh, và rồi vẫn hắn sau đó ở Paris ... Mọi cái đã tái hiện... Những năm tháng vừa mới trôi qua cùng tái hiện một lượt. Tôi thật đau đầu, mệt óc... Đến lúc này, tôi đã biết, tôi đã phát hiện ra hắn thì lại càng không nén được nỗi sợ hãi. Liệu hắn có nhận ra tôi không? Dù sao thì hắn cũng có thể trông cậy vào sự im lặng và đồng lõa của tôi.
- Robinson! Robinson! tôi lên tiếng gọi với giọng bỗ bã như muốn báo cho hắn một tin vui. Ê này anh bạn! Này Robinson!...
Không có tiếng trả lời. Tim tôi đập mạnh. Tôi nhỏm dậy và sẵn sàng nhận một đòn hiểm vào bụng... Chẳng có gì cả... Thế là, mạnh bạo hẳn lên, tôi cứ liều mò mẫm sang tận góc lều bên kia, nơi tôi đã thấy hắn nằm. Nhưng hắn đã cút rồi.
Tôi ngồi chờ sáng, thỉnh thoảng đánh một que diêm. Một ngày mới đã bắt đầu, trong vầng sáng bất thần ào tới, và rồi đám đầy tớ da đen hớn hở kéo nhau đến để hiến cho tôi cái vô tích sự to lớn của họ, tuy nhiên cũng phải thấy rằng họ vui vẻ. Họ đã cố làm cho tôi biết thế nào là vô tư lự. Bằng những cử chỉ có suy nghĩ kỹ, tôi cũng cố làm cho họ hiểu rằng việc Robinson biến mất đang gây lo phiền cho tôi đến thế nào, nhưng họ có vẻ như chẳng mảy may bận tâm chuyện đó. Kể thì cũng điên rồ, sờ sờ trước mắt không lo lại lo những chuyện đâu đâu. Tóm lại, với tôi, điều đáng tiếc nhất trong chuyện này là cái quỹ. Mà thông thường thì có mấy khi thấy lại được những kẻ đã cuỗm đi cả quỹ bạc... Tình hình đó khiến cho tôi coi như Robinson sẽ từ bỏ việc quay lại chỉ để mà giết tôi. Chỉ một cái ấy cũng đủ thắng lợi rồi.
Vậy là phong cảnh này thuộc về một mình tôi! Tôi nghĩ, từ nay mình sẽ có đủ thời gian để trở lại với nó, cả bề mặt lẫn bề sâu, tất cả cái vùng bao la lá rừng, cả cái đại dương đỏ thắm, vân vàng, những đồng muối rực sáng, hẳn là tuyệt diệu với những ai yêu thiên nhiên. Còn tôi thì dứt khoát là không thích. Tôi chán ngấy cái thi vị Xích đạo. Nhìn và nghĩ đến bức tranh tông thể ấy chỉ làm cho tôi liên tưởng đến những miếng cá ngừ thôi [84*]. Ai muốn nói gì thì nói, nơi này mãi mãi là xứ sở của ruồi muỗi, cọp beo thôi. Mỗi loài có chỗ ở cho nó.
Tôi muốn trở về cái lều của mình để dựng nó lại cho chắc phòng cơn bão có thể không lâu nữa sẽ đến. Nhưng chuyện này cũng vậy, tôi đành từ bỏ khá mau công việc gia cố. Thật là vô vị, bởi vì cái cấu trúc này chẳng những có thể sụp đổ mà còn không thể dựng lại được nữa, cái mái rạ đã bị mối xông tơi tả, ngay cả việc biến nó thành một cái nhà đái cho ra hồn cũng ró ràng là không ai muốn làm rồi.
Sau khi uể oải dạo quanh vài vòng trong rừng, tôi đành quay về ngả lưng và nằm im lặng, vì trời nắng. Vẫn là nó. Mọi vật đều câm lặng, mọi vật đều sợ bị cái nắng giữa trưa thiêu đốt, vả lại chẳng làm gì cả thì cỏ cây, muông thú và con người cũng cứ nóng ran lên. Đó là chứng bệnh ứ máu đúng ngọ.
Con gà con của tôi, con gà duy nhất, cũng sợ cái nóng vào giờ này, nó cũng theo tôi về, nó là con độc nhất do Robinson trao lại cho tôi. Con gà ấy sống với tôi như thế trong ba tuần lễ, theo tôi đi dạo như một con chó, bất cứ chuyện gì cũng cục cục, đến chỗ nào cũng thấy rắn. Một hôm buồn phiền ghê quá, tôi làm thịt con gà. Nó chẳng còn mùi vị gì, thịt nó bị phơi nắng mất mầu, bệch ra như mảnh vải trúc bâu. Có lẽ vì nó mà tôi đổ bệnh. Thì ít nhất cũng là sau hôm ăn thịt nó tôi không còn gượng dậy được. Đến trưa, dầm dề ra, tôi lết đến cái hộp nhỏ đựng thuốc. Trong hộp chỉ còn có thuốc đỏ và một cái bản đồ Bắc-Nam. Khách khứa chẳng có ma nào mò đến cửa hàng, chỉ toàn những tay da đen hiếu kỳ, luôn tay chỉ trỏ làm điệu bộ, mồm không ngừng nhai hạt cô la, khiêu dâm và sốt rét. Lúc này họ quây lại quanh tôi, có vẻ như bàn tán với nhau về bộ mặt thiểu não của tôi. Đau ốm, tôi đau ốm thật sự, đến mức không còn muốn dùng đến hai chân mình nữa, buông thõng nó xuống cạnh giường như muốn quẳng đi, thật khôi hài.
Những tay chạy thư từ Fort-Gono, từ chỗ lão Giám đốc, chỉ mang đến cho tôi những lá thư ngập ngụa những lời sỉ vả, mắng nhiếc, và cả đe dọa nữa. Tất cả những kẻ buôn bán tự coi là chuyên nghề xảo trá dù lớn dù nhỏ, trong thực tế lại thường tỏ ra là những kẻ hớ hênh không gì hơn. Mẹ tôi, từ bên Pháp, khuyên tôi giữ gìn sức khỏe, như hồi trong chiến tranh. Đút đầu vào máy chém rồi mà có lẽ mẹ vẫn rầy la tôi quên quàng khăn vào cổ. Mẹ không bỏ lỡ dịp nào mà không cố làm cho tôi tin rằng thiên hạ hiền lành cả và chính vì mẹ đã ăn ở phúc đức nên mới sinh được ra tôi. Đó là cái mẹo lớn của sự chểnh mảng trong tình mẹ con, vốn đã được giả định rằng thiên chức của bà mẹ là chăm sóc gia đình. Vả lại cũng thật dễ cho tôi khỏi phải trả lời những chuyện tào lao của cả ông chủ và của bà mẹ tôi và tôi đã chẳng bao giờ trả lời cả. Có điều là thái độ ấy cũng không cải thiện gì được tình hình.
Robinson đã ăn cấp gần hết tất cả những gì chứa đựng trong cái cơ ngơi mảnh dẻ này, nhưng nếu tôi có nói thì liệu ai tin? Viết ra ư? Được tích sự gì? Viết cho ai? Cho lão chủ à? Chiều chiều cứ đến năm giờ là đến lượt tôi lại run lên bần bật vì những cơn sốt rét dai dẳng, cái giường của tôi lắc la lắc lư như một thằng rồ.
Những người da đen trong làng chẳng còn rụt rè khách sáo gì, cứ việc xông vào lều muốn làm gì thì làm; tôi không mời họ, nhưng xua họ ra thì cũng mất nhiều công. Họ cãi nhau, tranh giành những gì còn lại trong cửa hàng, gõ gõ vào những thùng đựng thuốc lá, thử mấy cái quần xà lỏn còn xót lại, ướm vào cởi ra rồi lại ướm vào, cứ như là cái cửa hàng này đã tan tác. Cao su quẳng đầy ra đất, mủ cao su bám cả vào mấy quả dưa rừng, mấy quả đu đủ nhạt nhẽo như mùi táo ủng, mà mười lăm năm sau tôi vẫn còn lợm giọng khi nhớ đến nó.
Tôi cố thử hình dung xem mình rơi vào trạng thái bất lực đến mức nào mà cũng không được. Trước lúc biến mất, Robinson đã ba lần nhắc tôi rằng: “Đứa nào cũng ăn cắp hết!”. Và đó cũng là ý kiến của lão Tổng đại lý. Trong cơn sốt rét, những từ đó càng ám ảnh tôi. Hắn ta còn bảo tôi: “Cậu phải xoay sở lấy thôi”... Tôi cố gượng dậy. Cũng không được nốt. Cái thứ nước đục ngầu, chỉ còn là nước cặn, tồi tệ nhất, nhưng hắn nói đúng, đành phải đổ vào mồm thôi. Bọn trẻ con da đen đem đến cho tôi khá nhiều chuối, những quả to, mập và chín ửng, và cả những quả đu đủ đó nữa, nhưng tôi đau bụng đến khổ sở vì tất cả những của ấy! Có lẽ tôi nôn tháo ra cả trái đất này!
Liền ngay khi tôi thấy trong người khá hơn, tỉnh táo hơn, cũng là lúc ló ra nỗi lo không biết phải báo cáo thế nào với cái “Công ty Pordurière” này đây. Tôi phải nói ra sao với những con người bỏ bùa mê thuốc lú ấy? Họ tin mình thế nào đây? Chắc chắn là họ sẽ bắt giữ mình! Ai sẽ xét xử mình? Những kẻ được đặc biệt trang bị những thứ luật pháp ghê rợn không biết họ đem ở đâu về, giống như cái Tòa án binh, nhưng họ không bao giờ cho anh biết những mục tiêu thật sự là gì và họ thỏa thích trước việc bắt anh phải vãi máu ra mà leo cái dốc thẳng đứng bên trên địa ngục, con đường dẫn những kẻ nghèo khó đến chỗ chết. Luật pháp của họ chỉ là cái “Công viên Hằng Nga” vĩ đại [85*] của nỗi đau đớn mà thôi. Khi những kẻ khốn khổ đã sa vào cái luật pháp ấy thì tiếng kêu van của họ sẽ còn âm vang trong nhiều thế kỷ sau này.
Chẳng thà tôi cứ chịu cái cảnh sốt li bì ở đó, run lên bần bật, dãi rớt đầy người, trong cái nóng 40 độ, còn hơn là tỉnh táo để mà hình dung ra được cái gì đang chờ đợi tôi ở Fort-Gono. Tôi đã đi đến chỗ không thèm uống kí ninh nữa để cho bệnh sốt rét che lấp cuộc đời mình đi. Hãy say sưa với cái mình có. Trong khi tôi đang hun nóng mình như thế, trong nhiều ngày, nhiều tuần, thì diêm cũng cạn dần. Diêm ở đây hiếm lắm.
Robinson chỉ để lại cho tôi có món “ra-gu nấu đỗ theo kiểu boóc-đô”. Nhưng tôi cũng đã ói mửa ra nhiều hộp ra-gu ấy. Mà muốn nuốt được ra-gu thì phải hâm nóng nó lên.
Khan hiếm diêm lại là dịp cho tôi có được một trò giải trí nho nhỏ: nhìn anh bếp của tôi nhóm lửa bằng hai hòn đá đánh vào giữa mấy nắm cỏ khô. Thấy anh ta làm, mình cũng nảy ra ý nghĩ làm theo.
Vượt qua được nhiều cơn sốt và việc nảy sinh cái ý nghĩ này khiến tôi vững lòng kỳ lạ. Xưa nay tôi vốn vụng về, nhưng chỉ một tuần ứng dụng tôi cũng đã có thể lấy lửa bằng hai hòn đá nhọn y như một người da đen. Tóm lại tôi đã bắt đầu tự xoay xở theo cách người nguyên thủy. Cái chính là có lửa đã, đành rằng còn chuyện săn bắt, nhưng tôi chưa có tham vọng về chuyện đó. Đối với tôi lấy được lửa từ đá đã là đủ rồi. Ngày tiếp ngày, tôi chỉ làm có thế. Còn chuyện lấy chân đá hất những con sâu róm “giai đoạn hai” thì tôi kém cỏi hơn. Tôi vẫn chưa đạt được kết quả trong cái trò này. Tôi đã giẫm nát nhiều con sâu. Tôi nản chí. Đành để cho chúng bò vào trong lều như lũ bạn. Liên tiếp hai trận mưa giông lớn, trận thứ hai kéo dài suốt ba ngày, nhất là về đêm. Thế là được uống nước mưa hứng vào bi dông, cũng âm ấm đấy, nhưng đành thế thôi... Đống vải trong cái kho con con mủn ra dưới những trận mưa xối xả khiến cho lớp nọ dính bết vào lớp kia trở thành thứ hàng nhơ nhớp kinh người.
Đám người da đen tốt bụng kiếm cho tôi những bó dây rừng để cột lại cái lều, nhưng chỉ uổng công, vì lá lợp vách, chỉ một cơn gió nhẹ cũng đã hất cả lên mái, vỗ phành phạch như những cánh chim phải đạn. Đành chịu thế thôi. Nhưng cũng vui được với nhau.
Đám da đen, trẻ con cũng như người lớn, rõ ràng là họ sống hoàn toàn thân mật với tôi trong cơn bại hoại này. Họ vui vẻ. Một cuộc tiêu khiển lớn. Họ ra vào nhà tôi (nếu có thể gọi là nhà) tùy thích. Tự do. Chúng tôi làm hiệu để hiểu nhau. Giá mà không bị sốt rét có lẽ tôi đã để công học tiếng của họ. Tôi ít thì giờ quá. Còn về món lửa lấy từ đá, tuy tôi có tiến bộ, những vẫn chưa nhóm được lửa theo cách rất hay, rất nhanh của họ. Tôi còn bị nhiều tia lửa bắn vào mắt làm cho những người da đen ấy cười nhộn lên.
Những lúc không phải nằm gí vì sốt trên giường gấp hay phải đánh lửa, tôi chỉ còn lo đến việc báo cáo với “Pordurière”. Thật kỳ cục khi người ta phải vất vả tìm cách vượt qua nỗi khiếp sợ trước việc làm sáng tỏ những chuyện không bình thường. Tất nhiên là tôi vẫn nhớ nỗi khiếp sợ mà mẹ đã truyền cho tôi:
“Đứa nào ăn cắp một quả trứng... Rồi một con bò, cuối cùng thì nó sẽ giết luôn cả mẹ nó”. Người ta khổ sở đã nhiều để cố mà giũ sạch những cái đó đi. Nhưng được dạy dỗ từ tấm bé nên những cái đó cứ gây khiếp sợ cả sau này, nhất là vào những lúc khó khăn, không biết bấu víu vào đâu. Nhu nhược làm sao! Chỉ còn biết gỡ ra theo số mệnh thôi. May thay, số mệnh thì lớn vô cùng. Trong khi chờ đợi, chúng tôi, cái đại lý này và tôi, ngày càng lún xuống. Chúng tôi sắp biến vào trong lớp bùn sau mỗi trận mưa rào lại quánh hơn, dầy đặc hơn. Đang mùa mưa. Cái gì hôm qua còn cứng như đá tảng thì hôm nay nhão nhoét thành bùn. Các cành cây gẫy lòng thòng, nước ấm đuổi theo anh như dòng thác lũ, tràn cả vào trong lều, tràn ra khắp xung quanh như gặp một dòng sông cũ bị bỏrơi. Mọi cái tan rữa ra thành một món hổ lốn, mọi hy vọng, mọi tính toán và cả cái bệnh sốt rét nữa, cũng bốc hơi ẩm sì. Cơn mưa mau hạt dầy đặc đến mức gặp phải nó là anh đành ngậm kín miệng lại kẻo nước mưa tràn vào như cái giẻ bít lấy mồm anh. Cơn hồng thủy ấy không ngăn trở được muông thú tìm đến nhau, những con sơn ca cũng ầm ĩ chẳng kém bầy chó rừng. Bừa bãi khắp nơi khắp chốn và trong con tầu, tôi Noé [86*], dầm dề cứt đái.
Tôi thấy đã đến lúc phải kết thúc đi thôi.
Mẹ tôi không chỉ có những phương ngôn ngạn ngữ về tính lương thiện, tôi còn nhớ, khi đốt những bông băng cũ, mẹ thường bảo: “Lửa sẽ làm cho mọi cái được thanh khiết!”. Trong mọi tình huống của Số phận, ai cũng có thể tìm được ra mọi cái ở mẹ mình. Miễn là biết chọn lựa.
Thời điểm đã đến. Mấy hòn đá lửa của tôi do không chọn kỹ nên không được nhọn lắm, tia lửa yếu ớt trong lòng bàn tay. Tuy nhiên, cuối cùng thì những thứ hàng đầu tiên cũng bén lửa, mặc dầu còn ẩm ướt. Đấy là mớ bít tất. Việc xẩy ra sau lúc mặt trời lặn. Ngọn lửa bốc nhanh, hăng dữ. Dân bản xứ trong làng kéo nhau ra vây quanh đám cháy, bàn tán huyên thuyên. Đống cao su ở giữa do Robinson mua bây giờ bốc lửa khét lẹt khiến cho tôi không thể không nhớ đến vụ hỏa hoạn nổi tiếng ở Công ty Điện thoại, trên bến Grenelle, mà tôi đã được đứng xem với chú Charles, người hát tình ca rất hay. Vụ đó xẩy ra trước năm có cuộc Triển lãm lớn, khi ấy tôi còn rất bé. Không có gì gợi nhớ hơn là mùi cháy và ngọn lửa. Cái lều của tôi lúc đó cũng bốc mùi lên hoàn toàn giống thế mặc dầu ngấm nước, nhưng nó cũng cháy sạch cả, hoàn toàn, cả hàng hoá, tất cả. Thế là xong tất. Khu rừng được một lần im tiếng. Im lặng hoàn toàn, những con muông thú: chim cú, hổ báo, ếch nhái, chim vẹt trố cả mắt ra mà nhìn. Phải thế thì mới trộ được cho chúng kinh hãi. Cũng như chiến tranh đối với chúng tôi. Bây giờ thì rừng đã có thể trở lại nhận lấy những tàn tích dưới tiếng lá rì rào xào xạc. Tôi chỉ lôi ra được có cái túi hành lý nhỏ, chiếc giường gấp, ba trăm quan và tất cả mấy hộp “ra-gu nấu đỗ” than ôi! để ăn đường.
Sau đám cháy một giờ, cái lều nhỏ của tôi hầu như chẳng còn gì nữa. Mấy ngọn lửa nhỏ leo lét dưới trời mưa và vài người da đen ngơ ngác chọc đầu ngọn dáo vào những đống tro than khơi lên cái mùi chính xác của mọi cơn nguy khốn, cái mùi nổi bật của tất cả những cơn hỗn loạn trên đời này, mùi của thuốc súng bốc khói.
Chỉ còn thời gian gấp rút tếch khỏi nơi đây. Trở lại Fort-Gono ư? Cố đến đấy mà giải thích cách cư xử của tôi và tình hình xảy ra cuộc phiêu lưu này ư? Tôi lưỡng lự... Không lâu. Chẳng phải giải thích quái gì cả. Thiên hạ chỉ biết giết anh như một kẻ đang ngủ trở mình, đè lên người anh, như một kẻ đang ngủ đè chết những con rận trên người nó. Chắc chắn sẽ là rồ dại lao đầu vào chỗ chết, tôi tự nhủ mình như vậy. Tin cậy vào con người là tự giết dần mòn mình rồi.
Tôi quyết định, - cho dẫu đang ở tình trạng như thế, cũng cứ phải lao vào khu rừng trước mặt, theo cái hướng mà Robinson đã đi với tất cả mọi tai họa.