Mấy tuần sau đó, qua một chặng nghỉ, chúng tôi lại lên ngựa, tiến lên phía bắc. Trời lạnh giá cũng đến với chúng tôi. Tiếng đại bác thì không rời chúng tôi lấy nửa bước. Tuy thế, hãn hữu mới gặp phải bọn Đức, khi thì chúng nó đi lẻ một thằng khinh binh, khi thì cả một tốp biệt kích, ở chỗ này, chỗ kia, đứa vàng, đứa xanh, màu sắc đẹp mắt đáo để. Gọi là đi lùng sục bọn nó, nhưng thoáng thấy chúng nó là mình đã lỉnh xa ngay...
Mỗi lần chạm trán nhau như thế, chỉ cần để lại mỗi bên, bên nó cũng như bên mình, vài ba cậu kỵ binh. Ngựa nghẽo của chúng nó được thả rông chạy về phía chúng tôi, mấy cái bàn đạp vung vẩy bên sườn, trên lưng mang những bộ yên bằng da còn tươi tắn, thơm nức như da ví đầm tặng nhau ngày tết. Mấy con ngựa Đức mò đến mấy con ngựa của chúng tôi, đánh bạn với nhau liền. Thật là may mắn. Nhưng giữa mấy thằng người với nhau lại chẳng làm được như thế!
Một buổi sớm, đi thám báo về, trung úy De Sainte-Engence mời các sĩ quan họp lại để anh ta tỏ ra mình không phải là con người chỉ biết có nói tếu. Anh ta khoe: “Tôi vừa giết được hai thằng”, và để chứng minh, anh ta ra sức giơ cao ngọn kiếm lên cho mọi người thấy, đúng là còn có máu đọng trên lưỡi kiếm.
Đại úy Ortolan tán thưởng ngay:
-Cừ lắm! Hoan hô Sainte-Engence!... Nếu các bạn được thấy cậu ta chiến đấu như thế nào! Trận giáp lá cà sao mà đẹp thế!
Chuyện đó vừa diễn ra ở đại đội của Ortolan.
-Mình chẳng mất mát gì trong cái vụ này! Lúc ấy tớ đứng cách đó không xa lắm đâu! Một mũi xiên thẳng vào cổ, tiến lên và sang phải!... Tốc, thằng thứ nhất đổ!... Một mũi nữa xiên luôn vào ngực!... Sang trái! Lách lên nào! Một cuộc thao diễn đua tài thật sự đấy, các câu ạ... Nào, một lần nữa ta hoan hô Sainte-Engence! Hai thằng kỵ binh vác giáo nhé! Chỉ cách đây có một cây số. Hai thằng còn nằm đó, ngay trên mấy luống cầy! Chiến tranh thế là đã kết thúc đối với chúng nó rồi đấy nhỉ, phải không Sainte-Engence? Một cú đúp đẹp làm sao! Chúng nó hẳn đang tứa máu như hai chú thỏ bị chọc tiết!
Trung úy De Sainte-Engence cưỡi trên mình con ngựa vừa phi một quãng đường dài, tỏ ra khiêm tốn nhận lấy những lời khen và chúc mừng của đồng đội. Đến lúc này, được Ortolan chứng nhận cho chiến công của mình, anh ta mới vững dạ và tìm đường lỉnh. Anh ta cho con ngựa ăn thức ăn khô, giật cương cho nó từ từ lượn một vòng xung quanh các binh sĩ của đại đội đã được tập hợp lại, hớn hở như vừa qua một cuộc thi vượt rào.
Đại úy Ortolan càng phấn hứng hẳn lên, lão ta hối hả ra lệnh: “Có lẽ ta phải cho luôn một đội thám báo nữa đến thẳng phía ấy! Ngay lập tức! Hai thằng khốn ấy đã dẫn xác đến nộp mạng, hẳn là còn những thằng khác theo sau chúng nó... Này, cậu, đội trưởng Bardamu, cậu đến luôn đấy với bốn đứa của cậu!”
Lão đại úy ra lệnh cho tôi, và nói tiếp:
- Khi nào chúng nó nổ súng về phía các cậu thì cố gắng xác định rõ vị trí của chúng nó rồi báo ngay về cho tớ biết chúng nó ở đâu! Có thể là bọn Brandebourg đây! [6*]
Bọn lính chuyên nghiệp bảo rằng, vào thời bình thì chẳng mấy khi thấy được mặt lão Ortolan này ở bản doanh. Thế mà bây giờ, sang thời chiến thì ngược hẳn lại, lão ta như đang ra sức cướp lại thời gian đã mất. Quả thật lão ta là con người không biết mỏi mệt là gì. Giữa đám khờ khạo, mỗi ngày mỗi thấy lão nổi hẳn lên. Cũng có người kể rằng lão ta thường hít bạch phiến. Da dẻ lão xanh xao, đôi mắt thâm quầng, bộ giò khẳng khiu, nhưng cứ đặt chân xuống đất là lão chẳng chịu đứng yên một chỗ. Mới đầu thì cũng có lảo đảo đôi chút, nhưng rồi định thần lại, là lão hung hăng sải bước qua những luống cầy dường như muốn ra sức tiến hành một việc làm dũng cảm. Chưa biết chừng lão lại ra lệnh cho chúng tôi đi kiếm lửa ở các họng súng đại bác đối phương. Lão có lẽ đang chung lưng với Thần Chết. Người ta có thể chứng minh được rằng Thần Chết đã ký giao kèo với lão đại úy Ortolan.
Tôi đã dò biết được rằng cả quãng đầu cuộc đời lão đắm mình vào các cuộc đua ngựa, mỗi năm cũng phải vài lần giập sườn. Hai cẳng giò lão cũng vì gãy đi gãy lại mà hai cái bắp chân đã bị teo đi, lão lục cục lào quào như đi chân gỗ. Lom khom trong chiếc áo choàng quá khổ dưới trời mưa, trông lão giống như cái bóng ma của một con ngựa đua.
Cũng cần lưu ý rằng, hồi đầu của cái việc làm quái gở này, tức là khoảng tháng tám, sang tháng chín, lắm khi hàng giờ, cũng có khi suốt cả ngày, nhiều đoạn đường, nhiều xó rừng đã trở thành chốn ẩn náu của những người mang án tù... Bọn tôi để mặc họ xáp lại gần, cứ mặc họ có ảo tưởng gần như được sống yên ổn mà nhấm nháp cho đến hết hộp đồ hộp với mẩu bánh của mình, không bị ám ảnh bởi cái cảm giác rằng đây có thể là hộp đồ hộp cuối cùng trong đời họ. Nhưng từ tháng mười trở đi thì chẳng còn được những giây phút tạm yên như thế nữa. Từng loạt đạn, cả đại bác và súng thường, đan xen vào nhau, liên tiếp dội xuống như những trận mưa đá mỗi lúc một thêm dầy đặc, biến dần thành những trận bão đạn. Khiến cho cái mà người ta cố tìm cách tránh né thì nó lại cứ hiện sờ sờ ra trước mắt và chỉ còn thấy có nó mà thôi: đó là cái chết của chính mình.
Lại nói đến đêm tối. Hồi đầu thì ai cũng sờ sợ, nhưng bây giờ đêm lại có vẻ hiền lành hơn ngày. Chúng tôi chỉ ngóng chờ cho trời mau tối. Vì ban đêm, chúng nó có bắn thì cũng không dễ gì trúng như ban ngày. Mà cũng chỉ có sự khác biệt này là đáng kể thôi.
Thật khó mà đạt tới được cái bản chất, ngay cả bản chất cuộc chiến tranh này, vì cái thói ngông cuồng là dai dẳng lắm.
Những chú mèo bị lửa đốt đến đít thì cuối cùng cũng đành phải lao xuống nước.
Ban đêm, đây đó, người ta rời khỏi tổ trong chốc lát để tận hưởng những khoảnh khắc như cái thời yên bình đáng yêu, cái thời đã không còn có thể tin được là có nữa, cái thời mà tất cả đều hiền hòa, chẳng phải lo lắng đến hậu quả, biết bao nhiêu việc được hoàn tất, mọi cái đều trở nên phi thường, đều thích thú tuyệt vời. Thật là một thời nhung lụa, cái thời thanh bình đó...
Nhưng rồi chẳng được mấy chốc, đến lượt đêm tối cũng bị dồn hãm không thương tiếc. Hầu như cứ đến đêm thì lại càng phải làm cật lực. Được phát thêm một khẩu phần nho nhỏ chỉ để có cái mà ăn, rồi đánh một giấc trong bóng tối. Lương thực cung ứng cho các tuyến tiền tiêu thì bò lê bò càng một cách nặng nề, nhục nhã. Từng đoàn dài những chiếc xe bò tồi tàn, khập khiễng chất lên đủ thứ, nào thịt thà, nào lúa gạo, lại cả tù binh, thương binh, rồi cả bọn lính sen dầm lèn giữa những hũ rượu nho. Thôi thì đủ chuyện. Từ những tiếng cười đùa cớt nhả, những lời than thở vì xe xóc lên xóc xuống và tiếng phì phò của mấy thằng cha bụng bự...
Cuốc bộ lê gót theo sau xe chở bánh là bọn đóng móng ngựa và bọn tù, cả người bên nó lẫn người bên mình, tay mang còng vì tội này tội nọ, lẫn lộn cả với nhau, dây trói cột liền các cổ tay tù nhân vào bàn đạp của mấy tay hiến binh cưỡi trên mình ngựa, có một số chỉ ngày mai là bị xử bắn nhưng không có vẻ gì là buồn phiền hơn những đứa khác. Bọn chúng nó cũng ăn, nhưng xem ra cái khẩu phần cá ngừ ấy thì khó mà tiêu kịp (vì chúng không đủ thì giờ) trong lúc ngồi bên lề đường chờ đoàn công-voa tiếp tục chuyển đi. Một thường dân bị trói chung với đám tù nhân cũng được miếng bánh cuối cùng như thế, người ta bảo anh ta là gián điệp, nhưng anh ta chẳng biết tí gì về chuyện ấy. Chúng tôi cũng vậy.
Sự hành hạ của trung đoàn cứ thế tiếp diễn trong đêm tối. Cả lũ chúng tôi phải dò dẫm trên những ngõ hẻm gồ ghề trong làng, chẳng có đèn đóm, chẳng biết đường ngang lối dọc ra sao, gập lưng dưới những bao tải nặng hơn người, lê bước từ cái kho thóc này sang kho thóc khác, hứng lấy đủ thứ rầy la, thét lác, hết cái này đến cái nọ, nhớn nhác cả với nhau, rõ ràng là chẳng còn hy vọng được cái gì khác hơn là chịu kết thúc cảnh ngộ này trong những dọa nạt, cứt đái và sự tởm lợm vì bị hành hạ và lừa gạt đến tận xương tủy bởi một lũ điên rồ thác loạn, và chừng nào chúng nó còn như thế thì mình cũng trở nên bất lực, chỉ còn có việc giết người và bị người phanh thây xé xác chẳng hiểu vì sao.
Nhiều đứa bọn chúng tôi bị đạp ngã lăn lông lốc ngay cạnh những đống phân, bọn cai đội la hét chán lại lôi dậy, đấm đá, thúc đẩy vào các đoàn khuân vác, cứ thế tiếp tục lê bước...
Quân lương, lính tráng tràn vào ngôi làng trong đêm tối, ngập ngụa những mỡ màng, hoa quả, thóc lúa, đường mật; phải mang vác nặng thì khuất mắt bọn lính đi hộ tống, người ta cũng mặc cho nó vung vãi dọc đường...
Quá mệt mỏi, đám người lao dịch ấy ngả ngốn ngay quanh cái xe tải lương, và bất thần thằng cha hạ sĩ quân nhu xuất hiện, hắn giơ cao ngọn đèn soi vào những con người khốn khổ như dòi bọ. Xưa nay cái thằng khỉ hai cằm ấy vốn tinh quái, dù khó khăn thế nào hắn cũng tìm ra bằng được những vũng nước cho ngựa nghẽo uống. Nhưng lần này thì, tôi thấy tận mắt, hắn ta dìm cả bốn người đang ngủ say, hành lý vẫn deo trên lưng, ngủ luôn trong vũng nước đầy ngập cổ.
Sau chuyện cái vũng nước ấy, lại phải tiếp tục mò cho ra cái trang trại và cái ngõ xóm là nơi người ta nghĩ rằng đã để lại một tiểu đội đóng ở đó. Nếu như không tìm thấy gì cả, thì cứ việc ngả lưng xuống ngay cạnh bờ tường đánh một giấc, trong vòng một tiếng đồng hồ, nếu còn đủ được bằng ấy thì giờ. Đã đem thân vào cái nghề để mà chết này, thì chớ có khó tính mà phải làm ra vẻ như cuộc sống vẫn đang tiếp tục, chính cái ảo ảnh ấy mới là cái gay cấn nhất.
Và họ lại lên đường, bám theo các toa xe quân nhu. Trốn lủi bình minh, đoàn xe hối hả, vì chở quá tải, các bánh xe rít lên ken két. Tôi chỉ mong sao cho đoàn xe bị phục kích, bị nổ tung từng mảnh, bị thiêu rụi hết trong nội nhật hôm nay, như người ta thường thấy cảnh tấn công các đoàn xe trong những tranh vẽ bầy ở bảo tàng quân sự. Mãi mãi sạch bóng tất cả bộ sậu những thằng hiến binh quỷ đột, cả đến từng cái móng ngựa và những thằng lính tái đăng xách đèn cho chúng nó, cả những gì đám người nô dịch kia phải thồ vác, rau đậu và bột mì sẽ chẳng bao giờ còn có thể nấu chín được nữa. Tất tần tật biến hết, không bao giờ còn thấy lại nửa. Bởi lẽ phải khó nhọc để rồi chết vì mệt hay vì cái gì khác, thì đau đớn hơn cả là xô đẩy người ta vào nông nỗi ấy bằng cách bắt phải thồ những bao tải chất đầy cả bóng đêm trong đó .[7*]
Đến ngày mà đoàn xe ấy bị phá hỏng không còn lấy một cái trục thì có lẽ bọn khốn kiếp ấy, theo tôi nghĩ, mới để chúng tôi yên, dù chỉ một đêm, một đêm trọn vẹn, để ít ra cũng một lần được đẫy giấc cả phần xác lẫn phần hồn.
Chuyến tải lương ấy chẳng khác gì một cơn ác mộng, một con quỷ con quậy phá, bám thêm vào cái phần chính của chiến tranh. Phía trước, phía sau và ngay cạnh nách anh, nhan nhản những thằng súc sinh tàn bạo. Chỗ nào cũng có bọn chúng. Dẫu có bị kêu án tử hình và nơm nớp đợi ngày xử bắn thì anh cũng không thoát được khỏi cơn thèm ngủ ghê gớm, thêm vào đó lại còn phải tranh thủ thời gian cố tọng cho hết cái khẩu phần của mình. Một đoạn suối, một mảng tường cũng đủ làm cho chúng tôi tưởng như nhận ra chốn cũ... Để tìm cái trại của tiểu đội, chúng tôi phải đánh hơi như bầy chó giữa những ngôi làng bỏ hoang chìm trong đêm tối. Kẻ dẫn đường tốt nhất lúc này là mùi cứt thum thủm.
Lão ách [8*] đi áp tải chuyến tiếp lương là một con quỷ ác trong trung đoàn. Lúc này lão làm chúa tể thiên hạ. Kẻ nào nói đến chuyện tương lai thì lão coi là đồ đểu, chỉ có chuyện hiện tại là đáng nói thôi. Gợi đến chuyện đời sau của lão khác gì diễn thuyết với dòi bọ. Trong ngôi làng thời chiến giữa đêm khuya, lão ách đang lùa cái đàn nửa người nửa vật này vào các lò sát sinh vừa mở rộng cửa. Lão là Vua Ách! Vua của Thần Chết! Thầy Ách Cretelle! Hoàn toàn đúng như thế! Chẳng ai quyền thế bằng lão. Có lẽ ở bên kia, một thằng cha nào đó cũng ách-xì-đằng của tụi nó mới có được quyền thế như lão mà thôi.
Trong làng chẳng còn mống nào, trừ lũ mèo khiếp đảm. Các đồng đội của tôi tha hồ phá phách. Trước tiên là các đồ gỗ, chặt hết ra làm củi đun. Bàn ghế, giường tủ, từ cái nhẹ nhất đến cái nặng nhất. Còn cái gì vác đi được thì vác đi tuốt. Thôi thì cái lược chải đầu, đèn đóm, tách chén, những thứ vật dụng rất vớ vẩn, thậm chí tràng hoa của cô dâu đã cũ mèm cũng vơ. Cứ tưởng như mình còn được sống nhiều năm nữa để mà hưởng các thứ ấy. Nhưng họ trộm cắp các thứ ấy một phần còn để giải khuây, để làm ra vẻ thời gian của họ vẫn còn dài dài. Quả là một ham muốn muôn thuở.
Họ coi tiếng đại bác cũng chỉ là một thứ tiếng ồn. Mà cũng nhờ có cái tiếng ồn ấy thì các cuộc chiến tranh mới kéo dài được chứ. Ngay cả những kẻ đã và đang làm chiến tranh cũng không thể hình dung được nổi cái đó. Đạn bắn thủng bụng, thì người ta vẫn có thế tiếp tục nhặt nhạnh mấy chiếc dép cũ quăng bên đường, cho rằng “vẫn còn xài được”. Cũng như chú cừu trúng thương vào sườn, trong cơn giẫy chết trên đồng cỏ vẫn cố gặm lấy gặm để mấy búp cỏ non. Phần đông con người ta chỉ chết vào phút chót; những kẻ khác thì khởi sự chuyện đó từ hai chục năm trước, có khi còn sớm hơn thế nữa. Đó là những con người khốn khổ trên trái đất này.
Về phần tôi, tôi chẳng phải đứa khôn ngoan gì cho lắm, nhưng cũng đã trở nên thực tế để làm một kẻ hèn nhát thật sự. Tất nhiên, vì cái quyết định ấy mà tôi phải làm ra vẻ bình thản ghê lắm. Không biết có phải vì thế mà rõ thật trớ trêu, tôi lại gây được tín nhiệm với lão đại úy của chúng tôi, chính lão Ortolan, người đã quyết định giao cho tôi đêm hôm ấy một nhiệm vụ tế nhị. Lão kín đáo giải thích cho tôi biết rằng, tôi phải khẩn trương để trước khi trời hửng có thể đến được Noirceur-sur-la-Lys, một thị xã dệt, cách làng chúng tôi đóng quân mười bốn cây số [9*]. Tôi phải đến tận nơi để đảm bảo chắc chắn là có quân địch ở đó. Về chuyện này thì từ hồi sáng, các phái viên được cử đi đều nói ngược lại. Tướng Des Entrayes càng sốt ruột. Nhân chuyện đi trinh sát này, tôi được phép chọn một con ngựa ít khuyết tật nhất của trung đội. Từ lâu tôi đã không được thoải mái một mình một ngựa, nên cứ như thể mình đột nhiên được làm một chuyến ngao du. Nhưng thoát được khỏi chốn này thì còn là chuyện hão huyền.
Do đầu óc đang mệt mỏi, nên ngay sau khi lên đường, dẫu tôi có làm gì nữa thì cũng chưa thể tự hình dung được chính xác và chi tiết về vụ án mạng đang tiến hành cho chính mình. Tôi tiến lên, từ gốc cây này qua gốc cây khác, trong tiếng sắt thép khua vang bên người. Chỉ một thanh kiếm đẹp của tôi thôi, cũng đủ âm vang bằng cả một cỗ dương cầm rồi. Lúc ấy có lẽ trông tôi đáng thương, nhưng dù thế nào thì kệch cỡm là cái chắc.
Không biết tướng Des Entrayes nghĩ gì mà phái tôi đi trong cái khung cảnh tĩnh mịch như thế lại khoác lên người đủ thứ chũm chọe inh ỏi? Chắc chắn là không phải nghĩ cho tôi rồi.
Chuyện ngày xưa kể rằng, người Aztèque [10*] thường là mỗi tuần lễ mổ bụng tám vạn tín đồ trong các ngôi đền Thái dương để cầu đảo thần mưa lấy nước cho họ cầy cấy. Trước khi ra trận, đó là chuyện khó tin. Nhưng bây giờ đã vào cuộc rồi thì mọi sự rành rành ra đó. Cái việc coi thường sinh mạng người khác của dân Aztèque xưa cũng rứa với cách của lão Céladon Des Entrayes đối xử với bộ lòng hẩm hiu của tôi mà thôi.. Thổ dân Aztèque tế thần để cầu mưa; còn viên tướng này thì tế thần để cầu thăng chức. Lão ta là một thứ thần linh cụ thể, một thứ mặt trời nho nhỏ nhưng đòi hỏi thì thật quá sá.
Tôi chỉ còn chút xíu hy vọng, là được bắt làm tù binh. Cái hy vọng mỏng manh như sợi chỉ. Một sợi chỉ giữa đêm khuya. Vì tình thế chẳng sẵn sàng dành cho những phép lịch sự sơ đẳng. Thời buổi này, một phát dạn bay vèo đến anh nhanh hơn cái ngả mũ chào. Hơn nữa, biết ăn nói sao đây với tên lính về nguyên tắc là thù nghịch với mình và được phái từ phía bên kia trời Âu đến đây chỉ cốt để giết mình?... Giả sử hắn ta có do dự lấy một giây (có lẽ cũng đủ cho tôi), thì tôi biết nói gì với hắn? Trước tiên phải biết hắn thực sự là loại người thế nào mới được chứ? Nhân viên nhà hàng ư? Một tên lính chuyên nghiệp ư? Hay cũng có thể là một thằng phu đào huyệt? Hay một tay đầu bếp?... Bầy ngựa thế mà lại may. Chúng cũng phải chịu đựng chiến tranh như mình nhưng không ai bắt chúng phải tán thành hay giả bộ tán thành chiến tranh. Mấy chú ngựa kia ơi, các chú cũng khốn khổ nhưng còn có tự do! Chứ nhiệt tình thì than ôi, chỉ dành cho lũ người chúng ta thôi, thật là đồ đĩ điếm!
Lúc này tôi đã thấy rõ được con đường. Hai bên đường, trên nền đất phì nhiêu là những khối nhà vuông vức với những bức tường trắng xóa ánh trăng, y hệt những tảng băng không đều nhau. Tất cả mọi cái đều yên lặng, mờ nhạt. Liệu có phải để kết thúc rồi không? Tôi sẽ còn trong cảnh cô tịch này bao lâu, sau khi chúng nó làm xong việc đó với tôi? Và trong hố nào đây? Dọc theo bờ tường nào đây? Có thế chúng sẽ kết liễu mình bằng một nhát dao chăng? Có khi chúng còn chặt cả hai tay, moi hai mắt và những gì còn lại... Người ta kể lắm thứ về chuyện ấy và không ngoa đâu! Ai mà biết được? Một bước chân ngựa... Thêm một bước nữa... đủ chưa? Những con vật này, mỗi bước của chúng nó bằng hai người đi giầy đế sắt sóng đôi nhau, bước theo kiểu tập thể dục, nhưng rời rạc đến kỳ!
Tim tôi rộn lên như chú thỏ bị nhốt sau lưới thép, lồng lộn chán rồi lại nép vào một xó trông thật ngốc nghếch.
Ai lao từ đinh tháp Eiffel [11*] xuống mà chẳng có cảm giác như thế? Lao vào không gian mà vẫn còn muốn níu mình lại.
Ngôi làng này kín đáo đe dọa tôi đây, nhưng vẫn không che giấu được hết. Ở giữa một quảng trường có cái vòi phun nhỏ, nước tí tách như dành cho một mình tôi.
Đêm ấy, tôi có được tất cả cho chỉ riêng mình. Tôi bỗng được làm chủ cả mặt trăng, cả ngôi làng và cả nỗi sợ mênh mang. Phải phóng gấp lên thôi. Noirceur-sur-la-Lys ít nhất cũng còn phải một giờ đường, vừa lúc tôi thoáng thấy một ánh lửa được che cẩn thận lấp loáng phía trên một ô cửa. Tôi tiến thẳng đến nơi có ánh lửa và cũng do đó mà phát hiện ra một cái gì đó có vẻ táo bạo, đúng ra là lẩn lút nhưng không ngờ vực gì cả. Ánh lửa biến khá nhanh, tuy vậy tôi cũng kịp thấy được. Tôi cho ngựa nện mạnh gót. Tôi nài nỉ, lên tiếng gọi thật to, bằng tiếng Đức chán lại bằng tiếng Pháp. Nhưng gào đến thế nào thì những người lạ ấy cũng cứ đóng cửa im ỉm trong bóng tối.
Cuối cùng thì cái cánh cửa cũng hé mở. Có tiếng hỏi ra:
-Ông là ai?
Thế là mình gặp được người phù trợ rồi.
-Tôi là lính kỵ binh...
-Người Pháp à? tiếng một phụ nữ hỏi.
-Phải, tôi là người Pháp đây...
-Bọn kỵ binh Đức cũng thường qua đây... Bọn chúng cũng nói tiếng Pháp...
-Vâng. Nhưng tôi là người Pháp thật đây mà...
Bà ta “dào ơi” một tiếng với vẻ nghi ngờ.
Tôi hỏi:
-Bây giờ chúng nó ở đâu?
-Chúng nó đi về phía Noirceur, cách đây đã tám tiếng rồi... Bà ta trả lời, trỏ tay về hướng bắc.
Một cô gái quàng khăn và khoác chiếc tạp dề lúc này cũng ló ra từ bóng tối và bước ra đến bậc cửa. Tôi hỏi cô gái:
-Bọn Đức có gây chuyện gì với nhà cô không?
-Chúng nó đốt một ngôi nhà gần tòa thị chính, còn ở đây thì chúng giết chết em trai tôi bằng một ngọn giáo xiên vào bụng... Em tôi chơi ở ngoài cầu Đỏ, đang đứng xem bọn Đức đi qua thì... Đây này! cô ta trỏ cho tôi... Em tôi đấy...
Cô ta không khóc, chỉ châm lại ngọn nến mà tôi đã thấy lóe sáng lúc nãy. Quả nhiên, tôi thấy, ở góc trong cùng, trên tấm đệm đặt một thi hài nhỏ, mặc bộ quần áo thủy quân; ngọn nến rọi ánh lửa leo lét lên nước da đã tím tái trên cổ và trên khuôn mặt nhô ra khỏi cái cổ áo vuông rộng màu xanh nước biển. Thằng nhỏ co quắp, tay chân và cái lưng cuộn lại như con tôm. Ngọn giáo như cái trục tử thần xiên vào giữa bụng. Bà mẹ gào khóc, quỳ xuống cạnh xác con, ông bố cũng thế. Cả mấy người rền rĩ với nhau. Còn tôi thì đã quá khát rồi. Tôi hỏi họ:
-Ông bà và cô có còn chai vang nào để lại cho tôi không?
-Ông thử hỏi mẹ tôi... Có thể mẹ tôi biết là còn hay hết... Bọn Đức đã cướp của nhà tôi nhiều lắm...
Thế rồi hai mẹ con thì thào với nhau, và cô gái quay ra nói nhỏ với tôi:
-Không còn nữa đâu. Bọn Đức cướp sạch cả... Ấy là chúng nó đã được chính chúng tôi cho uống nhiều rồi đấy.
Bà mẹ ngừng bặt tiếng khóc, nói chêm vào:
-Đúng thế. Chúng nó uống sạch cả. Thích rượu quá mà...
Ông bố đang quỳ cũng xen vào:
-Chúng nó nốc có lẽ đến hơn trăm chai, chắc chắn là thế...[12*]
-Liệu có còn sót lại chai nào không? - tôi năn nỉ, vẫn còn hy vọng, khát ghê khát gớm, và nhất là cái thứ vang trắng, thật chát ấy, lại càng gợi thèm cho mình - Tôi xin trả tiền mà.
Nghe thấy thế, bà mẹ bằng lòng ngay:
-Chỉ còn thứ thật ngon. Năm quan một chai đấy!
-Được thôi! tôi móc túi lấy ra một đồng bạc lớn năm quan [13*].
Bà mẹ nhẹ nhàng bảo con gái:
-Con vào lấy ra đây một chai.
Được uống rồi, tôi chỉ còn việc tiếp tục lên đường. Nhưng lại băn khoăn, tôi hỏi:
-Liệu chúng nó có quay lại không?
Cả mấy người cùng trả lời:
-Có thể. Chúng mà quay lại thì chúng sẽ đốt hết cả... Chúng đã đe như thế lúc rút đi.
-Để tôi đi xem sao.
-Anh thật là can đảm... Đi lối này này! - ông bố chỉ cho tôi lối đi lên phía Noirceur-sur-la-Lys... Ông còn ra tận ngoài đường để tiễn chân tôi. Cô gái và bà mẹ vẫn sợ hãi, túc trực bên xác đứa con nhỏ. Cả hai gọi với từ trong nhà ra:
-Về đi ông ơi. Việc ngoài đường dính gì đến ông, về đi thôi, Joseph.
Ông bố vẫn còn lưu luyến, nắm lấy tay tôi:
- Anh thật là can đảm...
Tôi thúc ngựa đi nước kiệu theo hướng bắc. Cô gái chạy ra cửa hét lớn, dặn với:
-Ít nhất thì anh cũng đừng nói gì là chúng tôi vẫn còn ở đây nhé.
Tôi trả lời:
-Mai chúng nó sẽ thấy thôi, nếu các người vẫn cứ còn đấy!
Tôi bực mình về chuyện phải xì ra một trăm đồng xu [14*]. Thế là có chuyện tiền nong len vào giữa họ với tôi. Thế cũng đủ để ghét, đủ để mong cho họ tỏi hết. Trên đời này, chừng nào còn đồng tiền thì chẳng còn tình nghĩa gì ráo.
-Mai nhé! Họ nhắc lại với giọng hoài nghi...
Với họ cũng thế, ngày mai thật là xa vời, chẳng có bao nhiêu ý nghĩa đối với một ngày mai như thế. Thật ra thì đối với tất cả chúng ta, sống thêm được một tiếng đồng hồ, chỉ một tiếng nữa thôi trong cái thế giới mà mọi thứ đã teo tóp lại thành một cuộc giết chóc, thì tự nó đã là một hiện tượng kỳ lạ rồi.
Đường cũng không dài lắm. Tôi cho ngựa đi nước kiệu từ gốc cây này qua gốc cây khác, lo nơm nớp bị phục kích hay bị bắn tỉa, nhưng không có chuyện gì xảy ra.
Khi tôi cho ngựa đi bước một lên đến đỉnh ngọn đồi nhỏ, có lẽ đã quá nửa đêm đến hai tiếng hay hơn. Từ chỗ ấy tôi bỗng thấy dưới chân đồi từng hàng từng dẫy những ngọn lửa ga [15*] vẫn còn cháy sáng, rồi ngay phía trước mặt là một nhà ga xe lửa cũng vẫn sáng đèn, vẫn còn những toa tầu và quán giải khát, nhưng bốn bề lặng lẽ như tờ. Chẳng có gì cả... Các đường phố, những cột đèn, những dẫy đèn, tất cả các khu phố, tất cả những gì xung quanh đấy, còn hơn cả âm u trống rỗng. Toàn bộ cái thị xã dài rộng ấy chình ình ra trước mắt tôi, như người ta đã bỏ mất nó, để mặc nó sáng đèn và trải rộng ra đúng giữa đêm khuya. Tôi xuống ngựa, ngồi trên mô đất nhỏ nhìn xem cảnh ấy một lúc khá lâu.
Vẫn không sao đoán biết được là bọn Đức đã vào Noirceur chưa. Trong những trường hợp như tôi biết thì chúng nó mà đã vào tất chúng nó đã nổi lửa theo quán tính rồi. Mà nếu chúng nó chưa thiêu trụi ngay thị xã, ắt chúng nó có mưu chước gì không bình thường đây.
Tiếng đại bác cũng không, mới lại càng đáng ngờ chứ!
Con ngựa của tôi cũng muốn ngả lưng. Nó giật giật cái dây cương khiến tôi phải ngoái cổ lại. Có cái gì vừa di động ở chỗ mô đất trước mặt, chẳng to lớn gì, nhưng cũng đủ để tôi phải lên tiếng gọi:
-Ê này! Ai ở đằng ấy đấy?
Cái bóng động đậy cách tôi chỉ vài bước chân... Phải là một thằng nào đây...
-Đừng rống lên như thế! Một tiếng đàn ông trả lời, giọng nặng nề, khàn khàn nhưng đúng là giọng Pháp.
-Sao? Cậu cũng bị tụt lại à?
Hắn ta hỏi tôi, và đến lúc này thì tôi đã thấy hắn rõ hơn. Một tay bộ binh, nói năng bốp chát ra dáng lắm. Sau này, năm tháng trôi đi mà tôi vẫn không sao quên được cái thời khắc ấy, lúc mà bóng hắn ta nhô lên khỏi đám cỏ y như cái bia di động cho bọn lính nhằm bắn trong những ngày hội thi.
Chúng tôi sáp lại gần nhau. Trong tay tôi có khẩu súng lục. Chỉ chút xíu nữa là đã có thể bóp cò rồi, cũng chẳng hiểu vì sao. Hắn ra hỏi tôi:
-Này, cậu đã thấy chúng nó rồi chứ?
-Chưa, nhưng tớ đến đây cốt để thấy chúng nó.
-Cậu ở đơn vị kỵ binh 145 à?
-Đúng, thế còn cậu?
-Tớ ấy à? Tớ là lính dự bị.
-À thế à... tôi nói. Cậu ta nhận mình là một lính dự bị làm tôi ngạc nhiên. Đây là tay lính dự bị đầu tiên tôi gặp trong cuộc chiến tranh này. Vì từ đầu đến giờ tôi chỉ sống với cánh tại ngũ. Chưa trông rõ mặt nhưng cứ nghe giọng đã thấy hắn ta khác cánh tại ngũ rồi, cái giọng buồn buồn, ấy thế mà lại sáng giá hơn giọng chúng tôi đấy. Cũng vì thế mà tôi không ngần ngại đặt một chút lòng tin vào hắn ta. Bởi đây là con người còn có thể có giá trị chừng nào chăng. Hắn nói tiếp, chẳng giấu giếm gì:
-Tớ chán lắm rồi, tớ sắp tìm cách để cho bọn Đức tóm cổ đây.
Tôi hỏi:
-Cậu có cách gì?
Bỗng nhiên cái tôi quan tâm nhất lúc này là cái cách hắn ta làm thế nào để có thể yên lành lọt vào tay chúng nó.
-Tớ cũng chưa biết làm cách nào...
-Nhưng cậu còn phải tính đến chuyện chuồn sang với chúng nó thế nào đã chứ?... Để cho chúng nó tóm cổ không dễ đâu!
-Mặc kệ, tớ sẽ ra hàng.
-Thế cậu sợ à?
-Tớ sợ, à... tớ thấy cái trò đánh nhau này ngu ngốc lắm. Nếu cậu hỏi ý kiến tớ thì tớ trả lời cậu là tớ đếch cần biết tụi Đức là gì cả, chúng nó đã làm gì tớ đâu nào...
-Im đi cậu, tôi bảo hắn ta, có thể chúng nó đang nghe xem chúng mình nói gì đấy...
Cứ như là tôi muốn tỏ ra văn minh lịch sự với bọn Đức. Tôi rất muốn tay lính dự bị ấy, lúc này đang còn đây, giải thích cho tôi hiểu vì sao tôi cũng như tất cả những kẻ khác, chẳng có can đảm để mà đánh nhau... Nhưng hắn ta chẳng giải thích gì cả mà chỉ lặp đi lặp lại rằng hắn đã chán ngấy lắm rồi.
Thế rồi hắn ta kể chuyện trung đoàn của mình tan tác thế nào vào buổi tinh mơ hôm trước, chỉ vì một đám bộ binh của ta thế quái nào lại bắn nhầm qua cánh đồng vào luôn đại đội của hắn. Ai biết đâu được rằng đám bộ binh ấy lại đến trước hẹn những ba tiếng đồng hồ. Đã mệt phờ người lại còn bị tấn công bất ngờ, đám bộ binh nổ súng liền... Tôi thừa hiểu cái điệu này, vì cũng đã từng bị những cú như thế. Hắn nói tiếp:
- Tớ ấy à, khó tin lắm. Cơ hội như thế đến với tớ, tớ bảo thầm ngay trong bụng rằng: Này, Robinson... Robinson là tên tớ đây, Robinson Léon... Liệu mà tính đi thôi, không tính ngay lúc này thì chẳng còn lúc nào đâu, tớ tự bảo mình như thế!... Không phải thế à? Thế là tớ chuồn thẳng, men theo cánh rừng nhỏ và ở đó, cậu thử hình dung xem, tớ gặp luôn lão đại úy của ta... Lão tựa vào một gốc cây, trông thật thảm hại! Đang dở sống dở chết... Hai tay túm lấy cái quần cụt, miệng phun phì phì... Máu me đầy người, hai con mắt đảo quanh... Không ai đi cùng với lão. Lão kiệt sức rồi... “Mẹ ơi, mẹ!” lão thều thào trong tiếng khóc, lão đang ngỏm dần, đái cả ra máu... Tớ bảo lão: “Thôi đi, lại còn mở mồm gọi mẹ, không sợ bà cụ tế cho ấy à”. Vừa đi vừa thế đấy cậu ạ!... Cũng chỉ nói mép thế thôi! Cậu có tin được là như thế cũng đủ làm vui được mụ bò cái không? Hở, ông bạn! Chẳng phải lúc nào cũng có được dịp mà nói với lão đại úy những gì mình nghĩ trong bụng đâu... Phải nắm lấy cơ hội chứ. Hiếm hoi lắm! Và để chuồn cho nhanh, tớ quẳng luôn cái ba lô và cả súng ống nữa... Quẳng hết xuống một cái ao thả vịt ngay cạnh đường... Cậu hình dung xem, cái thằng tớ, như cậu thấy đấy, tớ nào có muốn giết chóc gì ai, tớ cũng chưa học nữa... Xưa nay tớ vốn là thằng không thích những chuyện đánh lộn, ngay từ trong thời bình ấy... Cứ thế tớ đi... Vậy là cậu biết rồi chứ?... Hồi còn là dân thường, tớ đã cố làm ăn tử tế ở nhà máy... Cũng có thời gian ngắn tớ làm thợ khắc, nhưng rồi không thích, vì cứ gặp những chuyện cãi cọ, thế là tớ đi bán báo vào buổi tối trong một khu phố yên tĩnh tớ vốn quen, xung quanh Nhà Ngân hàng Pháp quốc... ở cạnh Quảng trường Chiến thắng, nếu cậu muốn biết... Phố Petits-Champs... Đất làm ăn của tớ đấy. Không bao giờ tớ vượt sang phố Louvre hay sang khu Hoàng Cung (Palais-Royal) ở cạnh đó... Buổi sáng tớ đi bỏ mối cho các nhà hàng... Chiều chiều, thỉnh thoảng tớ làm một chuyến giao hàng... Thì cũng phải kiếm thêm.... Phải xoay xở chút ít chứ... Nhưng tớ là thằng chẳng thích chuyện súng đạn... Nếu bọn Đức mà thấy cậu mang vũ khí thế kia, hử... khá lắm! Còn như cậu cũng nghênh ngang như tớ thế này... chẳng có đếch gì trong tay... chẳng có gì dính túi... có bắt được mình thì chúng nó cũng cảm thấy đỡ rách việc, cậu hiểu chưa? Chúng nó biết đối thủ của mình là thế nào chứ... Giá mà chúng mình cởi truồng tìm đến bọn nó có khi lại hay đấy... Cứ như con ngựa ấy mà! Như thế chúng nó sẽ chẳng còn biết mình thuộc binh chủng nào nữa...
-Thật thế à?
Tôi hiểu ra rằng tuổi tác cũng làm cho người ta khôn ngoan lên. Làm cho mình thực tế hơn.
-Chúng nó ở phía kia, phải không nhỉ? Chúng tôi cùng nhau đoán định những cơ may của mình và tìm kiếm tương lai như trong canh bạc trên tấm bình đồ to tướng và rực sáng mà cái thị xã yên lặng ấy đang chiềng ra trước mắt chúng tôi.
-Mình đi chứ?
Trước tiên là phải làm sao vượt qua được con đường xe lửa. Nếu bọn lính canh ở đó, mình sẽ lọt vào đường ngắm bắn của chúng mất. Có thể không. Phải thử xem. Băng qua phía trên hay phía dưới đường hầm.
-Mình phải đi mau lên đi, Robinson nói thêm. Phải tranh thủ lúc còn tối trời, chứ sáng ra rồi thì chẳng có bạn bè nào đâu, ai cũng còn bấn vào công việc của người ta trong đường hầm, kể cả lúc chiến tranh thì ban ngày trong ấy cũng cứ đông như hội... Cậu có định mang theo con nghẽo này không?
Tôi dắt con ngựa, thận trọng lách cho nhanh lỡ chẳng may gặp chuyện rủi. Hai đứa đến được chỗ chắn tầu, hai cái cần to tướng sơn hai màu trắng đỏ giương cao. Tôi chưa thấy cái loại rào chắn ấy bao giờ. Ở các vùng ngoại ô Paris không có thế.
-Cậu có tin là bọn chúng nó đã vào thị xã rồi không, hử?
-Chắc chắn là thế, hắn ta nói... Ta cứ tiến lên nào.
Dù muốn dù không thì bây giờ cũng cứ phải dũng cảm như những người dũng cảm, bởi lẽ con ngựa bình thản theo sau cứ như thúc giục hai đứa bằng những bước chân của nó, chỉ còn nghe thấy tiếng vó ngựa thôi. Tốc! rồi tốc! Bốn cái móng sắt nện trên nền đường. Càng vang lại càng nện khỏe, chẳng cần biết chuyện gì đang xẩy ra.
Cu cậu Robinson tính nước dựa vào đêm tối để ra khỏi đây sao?... Hai đứa đi lững thững giữa đường phố trống trơn, chẳng phải mưu mẹo gì, lại còn đi đều bước nữa, y như đi tập. Cái cậu Robinson ấy nói mà đúng. Đã sáng ngày ra thì cứ gọi là trên trời dưới đất đều tàn nhẫn cả. Cả hai đứa chúng tôi đi trên đường đều phải làm ra vẻ chẳng gây gổ với ai, lại còn tỏ bộ ngây dại nữa chứ, cứ như là mấy cậu lính về phép.
-Cậu có biết chuyện cả cái đơn vị kỵ binh nhẹ số 1 bị bắt làm tù binh thế nào không? Ở Lille ấy?... Người ta kể rằng, họ hành quân vào thành phố cũng thế này này, không biết mô tê ra thế nào cả. Lão đại tá dẫn đầu... Vào thẳng ngay phố chính, cậu ạ! Thế là bị khóa chặt, cả đầu cả đuôi... Chỗ nào cũng có bọn Đức!... Cả trên các ô cửa sổ!... Khắp cả... Thế là xong... Y như chúng nó đánh bẫy chuột!... Thật đúng như đàn chuột! Một cú ăn to, cậu có tin không?
-Trời! Những kẻ không may!
-Thôi này cậu ơi!
Chúng tôi quá đỗi ngạc nhiên về cái cuộc bắt sống ngoạn mục ấy, thật quá rõ nét, quá dứt khoát. Há hốc mồm ra mà thán phục. Cửa hàng cửa hiệu trên đường phố đóng cửa hết. Các nhà dân cũng vậy; nhà nào cũng có cái vườn nhỏ ở đằng trước, rất sạch sẽ. Đi quá nhà bưu điện một tí, chúng tôi thấy một ngôi nhà quét sơn trắng, đèn đóm trong nhà bật sáng suốt từ các cửa sổ tầng trên cùng xuống tận tầng trệt. Chúng tôi bấm chuông trên cửa. Con ngựa vẫn đứng sau chúng tôi. Một người đàn ông phương phi rậm râu ra mở cửa và không chờ chúng tôi lên tiếng, ông ta xưng danh liền: “Tôi là thị trưởng thị xã Noirceur, tôi đang chờ đón người Đức các ông!” Và ông ta bước ra giữa ánh sáng trăng để cho chúng tôi thấy rõ ông ta là ông thị trưởng. Đến khi biết chúng tôi không phải quân Đức, mà rõ ràng là người Pháp thì ông ta hết luôn vẻ trịnh trọng, chỉ còn tỏ ra thân mật và có phần lúng túng. Điều đó thì dĩ nhiên rồi, vì ông ta nào có chờ đợi chúng tôi, sự có mặt của chúng tôi ít nhiều đã đảo ngược những dự định của ông ta, những dự định đã thành quyết định. Quân Đức phải vào Noirceur đêm hôm đó, ông ta đã được báo trước và đã thu xếp tất cả mọi việc với các cơ quan hàng tỉnh, đã bố trí để đại tá chỉ huy của quân Đức thì ở đây, cứu thương thì ở đàng kia, v.v... Và nếu bây giờ quân Đức đến mà hai đứa chúng tôi vẫn còn lù lù ở đây thì dứt khoát sẽ đẻ ra lắm chuyện! Chắc chắn là sẽ có lắm cái lôi thôi... Ông ta không nói ra miệng nhưng người ta biết tỏng là ông ta đang nghĩ gì...
Thế là đêm hôm đó, trong cái im lặng mà chúng tôi lạc bước sa chân vào, ông ta bắt đầu cà kê với chúng tôi về chuyện lợi ích chung. Chỉ toàn chuyện lợi ích chung... Nào là của cải vật chất của cộng đồng, nào là những di sản nghệ thuật của Noirceur... Tất cả những cái ấy đang đặt trách nhiệm lên vai ông ta, một trách nhiệm thiêng liêng, nếu quả là có thứ trách nhiệm như thế... Trước hết là ngôi nhà thờ xây từ thế kỷ XV... Nếu để chúng nó thiêu cháy ngôi nhà thờ từ thế kỷ XV thì sao? Hay như ngôi nhà thờ Condé-sur-Yser ở bên cạnh! Sẽ ra sao hử các bạn?... Không biết có phải đơn giản là do tâm trạng bực bội, hay vì sự có mặt không đúng chỗ và đúng lúc của chúng tôi mà ông ta khiến chúng tôi có cảm giác như mọi trách nhiệm đang đổ dồn xuống đầu hai đứa. Hai thằng lính quèn trẻ người non dạ!... Quân Đức không thích gì những thành phố khả nghi lại còn lởn vởn những quân nhân thù nghịch. Ai cũng biết rõ là thế.
Trong lúc ông ta thầm thì với chúng tôi như thế, thì bà vợ và hai cô con gái béo tốt, tóc vàng, rất ngon mắt, gật gù tán thưởng từng lời của ông bố... Tóm lại là họ muốn tống khứ chúng tôi đi cho nhanh. Giữa họ với chúng tôi, những giá trị tình cảm và khảo cổ học bỗng rộ hẳn lên một cách rất sinh động và sôi nổi. Vì giữa đêm hôm khuya khoắt ở cái thị xã Noirceur chẳng còn ma nào thì lấy ai nữa để mà tranh cãi với ông ta... Đạo lý, lòng yêu nước được cái ông thị trưởng ấy tìm đủ ngôn từ để đôn lên, những bóng ma được ông níu giữ lại, nhưng ngay tức thì, những cái đó bị mờ nhạt và thất bại bởi nỗi sợ hãi và lòng ích kỷ của chúng tôi, và còn bởi cái sự thật không hơn không kém.
Tuy kiệt lực với những cố gắng thật là cảm động, ngài thị trưởng Noirceur vẫn nồng nhiệt thuyết phục chúng tôi rằng cái Nghĩa vụ (viết hoa) của chúng tôi là tốt hơn hết hãy cút ngay lập tức cho biệt tăm biệt tích đi, tất nhiên không đến nỗi thô bạo như trung tá Pinçon ở đơn vị tôi nhưng rõ ràng là cùng một kiểu dứt khoát. Cái chắc là hai đứa chúng tôi chẳng còn có được gì để chống đối lại tất cả những sức mạnh đó, ngoài cái ham muốn nhỏ nhoi của cả hai đứa là đừng phải chết và đừng phải hỏa thiêu. Ít ỏi thế thôi, nhất là những cái đó lại không thế nói ra trong thời buổi chiến tranh này. Vậy là chúng tôi phải quay sang các đường phố vắng khác. Rõ ràng là tất cả những người tôi gặp đêm hôm ấy đã cho tôi thấy được lòng dạ của họ thế nào.
Trong lúc hai đứa cùng đi, Robinson nhận xét:
-Cái vận của tớ nó thế đấy! Giả sử cậu là một thằng Đức, mà lại là một thằng tốt bụng như cậu thì có thể tớ đã được bắt làm tù binh rồi và biết đâu lại chẳng là việc hay... Ngẫm ra, trong chiến tranh, người ta tự loại bỏ mình cũng khó thật!
-Thế còn cậu - tôi hỏi cậu ta - nếu cậu là một thằng Đức thì cậu cũng không bắt tớ làm tù binh hay sao? Có thể là cậu được chúng nó thưởng quân công bội tinh đấy! Cái tiếng Đức gọi quân công bội tinh chắc buồn cười đây nhỉ?
Đi mãi, chẳng gặp được ai trên đường để bắt mình làm tù binh, chúng tôi đành tìm đến cái ghế dài trên một công viên nho nhỏ và giở ra ăn hộp cá ngừ của Robinson Léon bỏ túi quần hâm nóng suốt từ sáng đến giờ. Và cũng đến bây giờ mới nghe thấy tiếng đại bác bắn ở rất xa, xa lắm. Giá mà chúng nó cứ bên nào nguyên bên ấy và để cho mình được yên!
Sau đó, chúng tôi lần theo một bến tầu; và đi dọc bên những chiếc sà lan đậu dưới sông, hàng hóa đã dỡ lên được đến phân nửa. Hai đứa đứng trên bờ đái vọt xuống sông thành những tia dài. Vẫn nắm dây cương dắt con ngựa theo sau như dắt con chó rõ to. Đến gần cầu, trong ngôi nhà ông mục sư, chỉ có một gian, lại một người chết nữa đặt nằm trên đệm, có nhõn một mình, một người Pháp, anh ta chỉ huy đơn vị kỵ binh, mà sao trông giông giống cậu Robinson thế, ở cái đầu.
-Hay chưa này, trông lão mới tồi tệ làm sao! Cậu Robinson nhận xét với tôi. Tớ là tớ chẳng thích gì người chết đâu...
-Nhưng trông lão ta lại hơi giống cậu mới kỳ chứ! Cái mũi cũng dài dài và cậu cũng không trẻ hơn lão ta là bao... Tôi trả lời cậu ấy.
-Buồn ngủ nên cậu trông người nào cũng giống người nào, nhưng giá mà cậu gặp tớ trước đây... Khi tớ còn chủ nhật nào cũng đạp xe đi dạo! Tớ là thằng điển trai đấy. Hai cái bắp chân khá lắm cậu ơi! Thể thao, cậu biết không! Bắp đùi cũng nở nang nữa...
Hai đứa bước ra, que diêm để soi cái lão chết đã tắt.
-Cậu thấy không, muộn quá mất rồi đấy!
Giữa màn đêm, một đường vạch xam xám xanh xanh đã hiện rõ dần từ phía xa xa, trên đỉnh ngọn đồi con, nơi ranh giới thị xã: Ngày (viết hoa)! Thêm một ngày! Bớt một ngày! Phải cố mà vượt qua được cái ngày này như đã vượt qua được những ngày trước đó.
Mỗi ngày lại càng giống như chiếc vòng đai siết chặt dần, đã thế nó còn chứa đầy thêm những đường đạn và những tiếng súng liên thanh.
-Liệu đêm mai cậu có trở lại đây không? Cậu ta hỏi tôi lúc hai đứa chia tay.
-Làm gì có đêm mai, cậu ơi!... Cậu cứ tưởng như cậu là ông tướng ấy!
-Tớ chẳng tưởng cái quái gì cả, cốt làm sao cho nó xong đi... Cóc cần nghĩ cái gì hết, cậu nghe không!... Tớ chỉ cốt sao đừng có chết là được rôi... Tớ tự nhủ mình, hưởng thêm được ngày nào là lợi thêm ngày ấy!
-Cậu có lý... Thôi chào tạm biệt nhé, chúc may mắn!...
-Tớ cũng chúc cậu may mắn! Có thể ta còn gặp lại nhau!
Mỗi đứa lại trở về với cuộc chiến. Và rồi thì việc này trôi theo việc khác, chẳng dễ gì mà kể lại bây giờ, vì người bây giờ có còn hiểu đâu đến những chuyện ấy nữa.