Thế là sinh ra ối chuyện. Những kẻ này bảo: “Thằng nhãi ranh ấy là một thằng vô chính phủ, đem mà bắn đi thôi, đã đến lúc rồi đấy, làm ngay đi, không có gì mà phải do dự, đang thời buổi chiến tranh không nên lần chần!...” Nhưng cũng còn những kẻ khác, kiên nhẫn hơn, muốn nghĩ rằng tôi chỉ là một đứa bị tim la và điên một cách chân thật, và vì thế hãy đem nhốt tôi lại chờ đến ngày hòa bình, hoặc chí ít thì cũng để đó vài tháng nữa xem sao, bởi vì họ, những kẻ không điên thì bao giờ cũng tự cho mình là có lý, như họ nói, họ muốn chữa chạy cho tôi trong khi đó thì để kệ mình họ tiến hành chiến tranh. Cái đó chứng tỏ rằng, muốn cho họ tin mình là đứa biết điều thì phải tỏ ra cực kỳ gan góc. Thế là đủ, khi anh đã là kẻ bạo gan bạo phổi thì mọi cái anh đều được phép, tuyệt đối tất, và anh chiếm được đa số, cái đa số quyết định xem ai điên ai không.
Tuy vậy việc chẩn đoán căn bệnh của tôi vẫn còn nhiều nghi vấn. Thế là các nhà chức trách quyết định để tôi đấy theo dõi thêm một thời gian nữa xem sao. Cô bạn nhỏ Lola của tôi được phép vào thăm tôi đôi ba lần, và mẹ tôi cũng thế. Chỉ có thế thôi. Bọn thương binh rối loạn thần kinh chúng tôi được đưa đến an dưỡng ở ngôi trường trung học cũ ở thị xã Issy-les-Moulineaux [23*], được tổ chức kỹ càng để thu nhận và tùy từng trường hợp mà thúc ép một cách êm ái hay thô bạo để lấy những lời tự thú ở những người lính cùng loại với tôi, rằng chúng tôi mới chỉ làm hoen ố cái lý tưởng ái quốc hay đã điên hẳn rồi. Họ đối xử với chúng tôi cũng không đến nỗi nào, nhưng tuy thế cũng cứ luôn luôn cảm thấy bị rình mò bởi một đội y tá thầm lặng và được trời phú cho những cái lỗ tai rất thính.
Sau một thời gian bị đặt dưới sự kiểm soát như vậy, bọn chúng tôi được kín đáo đưa ra khỏi đây, đứa thì sang nhà thương điên, đứa ra mặt trận, thường cũng không ít đứa lên đoạn đâu dài.
Mỗi lần chuyện trò nhỏ to với nhau ở nhà ăn, tôi cứ tự hỏi, trong số những thằng bạn đồng bệnh bị dồn vào những căn nhà đáng ngờ này, không biết đứa nào đang trở thành một con ma đây.
Cạnh hàng rào, chỗ cổng ra vào, có một căn nhà nhỏ, nơi ở của chị gác cổng, người bán cho chúng tôi đường dại mạch và cam quít, và cũng có khi đơm cúc áo cho ai cần. Chị ta còn sẵn sàng bán cả “lạc thú” cho chúng tôi nữa. Với đám hạ sĩ quan thì mỗi “lạc thú” là mười quan. Ai muốn cũng được. Chỉ có điều là liệu mà giữ mồm giữ miệng, chớ có trong lúc sướng rên lên cái gì anh cũng bô bô tuôn ra hết. Những cú thổ lộ tâm tình ấy lắm khi phải trả giá đắt đấy. Anh thổ lộ điều gì thì chị ta lại đi ton hót tường tận cho tay y sĩ trưởng và thế là anh có ngay hồ sơ trên tòa án binh. Hình như chính chị ta đã làm cho một cậu hạ sĩ kỵ binh, tuổi chưa đến hai mươi, bị đem ra xử bắn vì đã tuôn ra hết mọi cái với chị ta; rồi một cậu lính trù bị công binh, cũng đem kể cho chị ta về chuyện nuốt đinh vào bụng cho thủng dạ dầy; lại một cậu rồ dại khai ra hết những chuyện làm thế nào để giả vờ bị tê liệt ở ngoài mặt trận... Một tối, để ướm thử, chị ta đưa cho tôi quyển sổ hộ tịch của một tay đã có sáu con, chị ta bảo tay này chết rồi, tôi có thể dùng sổ hộ tịch đó để xin lui về hậu phương... Với tôi, chị ta cũng định đưa vào bẫy đây. Tóm lại, đây là một mụ đàn bà hư hỏng. Đã leo lên giường mụ thì thật tuyệt vời, anh không thể không nghĩ đến lần thứ hai. Mụ ta có thể cho anh tận hưởng khoái cảm. Bảo rằng mụ là một con điếm thì cũng không có gì đúng hơn. Mà có thế thì mụ mới làm anh khoái được chứ. Trong cái lò chỉ điểm này [24*], ở cái phía sau, cái điệu đàng của mụ, rút cục cũng giống như món sốt muốn gợi khẩu vị phải rắc thêm hạt tiêu vào.
Ngôi trường này nhìn ra một bãi đất rất rộng, mùa hè nắng vàng rực rỡ giữa những hàng cây, từ chỗ ấy càng ngắm nhìn càng thấy Paris tuyệt diệu, thấy cái viễn cảnh huy hoàng. Đó là nơi, mỗi ngày thứ năm, khách khứa đến thăm ngồi chờ chúng tôi. Trong đó có Lola luôn luôn đến rất đúng giờ, với những tấm bánh ga tô, những lời khuyên nhủ và cả thuốc lá nữa.
Còn các thầy thuốc thì sáng nào chúng tôi chẳng gặp. Họ hỏi han rất nhân từ, nhưng trong bụng họ nghĩ gì thì ai mà biết được. Họ lăng xăng quanh chúng tôi, điệu bộ bao giờ cũng nhã nhặn, nhưng thật ra là lăng xăng quanh cái án tử hình treo trên đầu chúng tôi.
Trong cái không khí ngọt ngào đầu lưỡi ấy, lắm anh chàng bệnh binh được đem đến đây để theo dõi cứ tưởng bở, đâm ra xúc động thái quá, đến nỗi bỏ cả ngủ, đêm đêm cứ quẩn quanh ngoài hành lang, lớn tiếng xỉ vả ngay cái nỗi kinh hoàng của chính mình, bức bối giữa hy vọng và thất vọng, ngật ngà ngật ngưỡng như những kẻ đứng trên vách núi cheo leo. Họ vật vã suốt ngày này sang ngày khác, rồi đến một hôm họ tự buông mình cho rơi tõm xuống, không khảo mà xưng, cả lũ kéo nhau đến xưng tội với y sĩ trưởng. Không ai còn thấy lại những anh chàng tội nghiệp ấy, không còn bao giờ nữa. Tôi cũng thế, cũng chẳng được yên. Nhưng khi mình đã yếu đuối thì cái có thể cho mình sức mạnh, đó là phải nhằm vào những thằng đáng sợ nhất, mà vặt trụi cho hết, đến cả cái uy tín nhỏ nhoi mà người ta định trao cho chúng. Phải biết nhìn nhận cho đúng cái bản chất của chúng, cái bản chất bẩn thỉu nhất về mọi phương diện. Cái đó sẽ giải tỏa, giải thoát cho anh, bảo vệ anh vượt qua tất cả những gì mà anh mường tượng ra được. Nó sẽ tạo thêm một con người nữa trong chính anh. Anh sẽ là cả hai. Từ đấy, đối với anh, mọi hành vi của chúng sẽ không còn cái vỏ hấp dẫn bẩn thỉu mang mầu sắc huyền bí, đã từng làm cho anh mềm yếu và hao phí thời giờ. Cái trò hề ấy của chúng, đôi với anh, sẽ chẳng còn thú vị và chẳng còn ích lợi gì cho sự tiến bộ riêng tư của anh. Thậm chí nó không bằng cái trò con lợn đê tiện nhất.
Nằm cạnh giường tôi là một cậu cai, cũng là lính tình nguyện. Trước tháng tám [25*] cậu ta còn là một giáo viên trung học ở Touraine [26*], cậu ta cho biết cậu dạy sử và địa ở đó. Chỉ qua có mấy tháng chiến tranh, cái cậu giáo viên ấy đã bộc lộ là một thằng ăn cắp cũng như ai. Không có gì ngăn được cậu ta lấy cắp đồ hộp trong những chuyến tiếp vận của trung đoàn cậu ta, hay trong các toa xe của hậu cần, trong kho dự trữ của đại đội, và bất kể nơi nào cậu ta có mặt.
Với chúng tôi thì cậu ta thất bại không giở trò được, và lơ mơ thấy sắp phải ra tòa án binh. Nhưng gia đình cậu ta hết sức chạy chọt, bào chữa rằng cậu ta thoái hóa biến chất như thế là do bị đạn đại bác gây ra hoảng hốt, mất tinh thần. Vì thế mà việc xét xử cứ hoãn đi hoãn lại hết tháng này sang tháng khác. Cậu ta ít trò chuyện với tôi. Hàng giờ ngồi chải râu, nhưng khi nói chuyện với nhau thì lúc nào chỉ có nhõn một chuyện, đó là chuyện cậu ta đã tìm ra cách làm thế nào để khỏi có con với vợ cậu ta. Chẳng biết cậu ta có điên thật hay không nữa. Khi mà thế giới đã đảo điên thế này thì thà rằng anh cứ điên quách cho xong, còn hơn là mất công hỏi xem tại sao người ta lại sát hại anh, hiển nhiên là để trở thành một thằng diên sẽ chẳng tốn bao nhiêu công sức. Còn hỏi làm sao cho có kết quả thì khi đã nhằm tránh xa khỏi cái cuộc phanh thây xé xác to lớn này, làm gì chẳng có những cố gắng tuyệt diệu về tưởng tượng trong một vài bộ óc.
Mọi điều lý thú đều diễn ra trong bóng tối, rõ ràng là thế. Ai mà hiểu được những chuyện thật của người đời.
Cái anh chàng giáo viên ấy tên là Princhard. Chẳng biết cậu ta đã thật sự định đoạt thế nào để bảo toàn lấy động mạch cảnh, lấy các lá phổi và các dây thần kinh thị giác của cậu ta. Đây là vấn đề cốt tử, phải đặt ra giữa chúng ta, giữa con người với con người, để ít nhất còn giữ được tính người và đầu óc thực tế. Nhưng chúng tôi lại không được như thế, ngất ngư trong cái lý tưởng toàn những điều phi lý, bị cầm giữ trong những khuôn sáo hiếu chiến, điên rồ, đã như những con chuột bị hun, cuống cuồng tìm lối thoát khỏi con tầu đang bốc cháy, nhưng lại chẳng có được với nhau một kế hoạch chung, chẳng anh nào tin anh nào. Rối trí bởi chiến tranh, chúng tôi trở thành những thằng điên trong một dạng khác: điên vì sợ hãi. Đó là hai mặt của cuộc chiến tranh này.
Tuy nhiên, cùng chung cơn hoảng loạn, cái cậu Princhard đó cũng gây cho tôi một cảm tình nào đó, dẫu vẫn còn ngờ vực tôi. Trong tình cảnh như chúng tôi đang sống thì làm sao có được tình bạn lẫn lòng tin. Mỗi anh chỉ nhăm nhăm cái gì có lợi cho mạng sống của mình thôi, bởi vì tất cả hay hầu như tất cả đều thấy mình đang bị những thằng chỉ điểm rình mò.
Thỉnh thoảng lại có một cậu nào đó trong bọn chúng tôi biến mất, đó là vì sự việc của cậu ta đã xem xét xong và có thể sẽ kết thúc tại tòa án binh, hoặc đưa ra mặt trận, còn những cậu nào đã được coi là phục vụ tốt thì sẽ đưa vào bệnh viện tâm thần Clamart (cũng ở ngoại ô Paris).
Luôn luôn có thêm những chiến binh bị nghi ngờ khác từ mọi binh chủng được đưa đến đây. Có những tay rất trẻ nhưng cũng khá nhiều tay đã đứng tuổi. Họ đến với tâm trạng khiếp sợ hay huênh hoang khoác lác. Hàng tuần cứ vào ngày thứ năm, bố mẹ, vợ con họ đến thăm với những cặp mắt nhớn nhác. Cả cái đám người ấy khóc than sướt mướt trong gian phòng gọi là phòng khách, nhất là vào lúc chiều tàn. Cái bất lực của thế giới đối với chiến tranh được thể hiện bằng tiếng khóc nức nở ở nơi đây, khi giờ thăm đã hết, những người vợ và đàn trẻ nhỏ lê bước trong cái hành lang nhợt nhạt ánh lửa ga. Họ họp thành một bầy đàn lớn những kẻ khóc than, chỉ có thế thôi, thật là chán ngấy.
Đối với Lola, việc đến thăm tôi tại cái thứ nhà tù như thế này quả là một cuộc mạo hiểm. Cả hai chúng tôi không ai khóc. Chúng tôi lấy đâu nước mắt mà khóc.
Một hôm thứ năm, Lola hỏi tôi:
-Ferdinand này, có đúng là anh bị điên thật rồi không?
-Tôi thế đấy! tôi thú thật.
-Vậy thì người ta chữa bệnh cho anh ở đây chứ?
-Người ta không chữa được khiếp sợ đâu, Lola ơi.
-Anh sợ đến thế cơ à?
-Còn hơn thế ấy chứ, Lola. Cô biết không, sợ cho cả sau này, tôi có chết thì cũng muốn người ta đừng đốt xác tôi! Tôi muốn rằng người ta cứ kệ cho tôi nằm dưới đất, tan rữa trong bãi tha ma, để yên đó, có thể sẵn sàng sống lại... Biết đâu được! Còn như để người ta đốt tôi ra tro, thì Lola ơi, cô có biết không, sẽ là hết, hết nhẵn... Một bộ xương, dẫu thế nào, cũng còn có hơi giống con người... Như thế thì luôn luôn sẵn sàng sống lại được hơn là đã thành tro. Đã ra tro là hết cả!... Cô bảo sao nào? Vậy đấy, chiến tranh là thế, phải không?
-Trời! Vậy ra anh thật là một kẻ đớn hèn, Ferdinand! Anh tởm lợm như một con chuột cống.
-Phải, tôi đớn hèn thật đấy, Lola ạ, tôi chối từ cuộc chiến tranh này và tất cả những gì nó chứa đựng... Tôi không thương hại nó đâu... Tôi không cam chịu đâu... Tôi cũng chẳng khóc than vì nó... Tôi thẳng thừng chối từ nó, cùng với tất cả những ai trong đó, chẳng muốn liên quan gì đến họ cả cũng như chẳng có gì liên quan đến cuộc chiến tranh này. Họ có thể là chín trăm chín mươi nhăm triệu, còn lại chỉ có mình tôi. Nhưng chính họ có lỗi lầm, Lola ơi, còn tôi là có lý, bởi vì tôi là người duy nhất biết được cái gì mình muốn cái gì không: tôi không muốn chết.
-Nhưng không thể chối từ chiến tranh đâu, Ferdinand! Chỉ có những thằng điên hay những kẻ đớn hèn mới không chịu tham gia chiến tranh khi Tổ quốc của chúng lâm nguy...
-Thế thì muôn năm những thằng điên và những kẻ đớn hèn! Hay là cứ để cho những thằng như thế được sống sót! Lola này, liệu cô có thể nhớ lấy chẳng hạn như một, chỉ một cái tên của một trong những chiến binh chết trong cuộc chiến tranh Một trăm năm không? [27*] Có bao giờ cô cất công đi tìm hiểu lấy một cái tên nào đó trong số những cái tên ấy?... Không, phải không?... Cô chẳng bao giờ tìm phải không? Đối với cô, họ chỉ là những kẻ vô danh, người dưng nước lã, và còn không được biết đến, so ngay với cái hạt nhân li ti cuối cùng trong cái chặn giấy trước mặt cô đây, hay cái vụn bánh mì buổi sáng của cô... Vậy là, Lola, cô đã thấy, họ chết chẳng để làm gì cả. Tuyệt đối chẳng để làm gì sất, những kẻ đần độn ấy! Tôi dám khẳng định với cô như thế đấy! Chứng cớ đã rõ ràng! Chỉ có cái sống là đáng kể thôi. Tôi thách với cô rằng, cuộc chiến tranh này, cái cuộc chiến tranh mà ngày nay rất đáng chú ý đối với chúng ta, thì một vạn năm nữa, kể từ bây giờ, nó cũng sẽ rơi vào quên lãng hoàn toàn mà thôi... Trừ phi khoảng một tá các nhà uyên bác còn tranh cãi với nhau đây đó về trường hợp xảy ra hoặc về niên biểu của những cuộc tàn sát lớn đã khiến cho cuộc chiến tranh ấy được lừng danh... Đó là tất cả những gì mà con người đã làm được cho đến nay để tìm cách ghi nhớ người này kẻ khác cách đây vài thế kỷ, vài năm, thậm chí vài giờ... Tôi không tin vào tương lai đâu, Lola ơi.
Khi cô ta đã phát hiện ra tôi khuếch khoác đến mức nào cái tâm trạng đáng xấu hổ đó của mình, thì cô không còn coi tôi là một kẻ đáng thương nhất trên đời... Mà cô đánh giá tôi là một kẻ đáng khinh, dứt khoát là thế.
Cô cả quyết bỏ rơi tôi ngay lập tức. Đã quá lắm rồi! Chiều hôm ấy, tiễn cô ra đến cổng nhà điều dưỡng, cô không hôn tôi nữa. Rõ ràng là, không ai có thể chấp nhận một kẻ đã bị tuyên án tử hình lại còn mong được Chúa ban ơn gọi về với Chúa. Khi tôi hỏi tình hình những chiếc bánh rán bây giờ ra sao, cô cũng không thèm trả lời nữa.
Trở về phòng, tôi thấy Princhard đang đứng trước cửa sổ để thử kính qua ánh sáng lửa ga, giữa một đám lính vây quanh. Cậu ta giải thích cho chúng tôi rằng, trong một kỳ đi biển nghỉ hè, cậu ta nảy ra cái ý muốn đeo kính, và bây giờ cũng đang mùa hè, ban ngày cậu ta sẽ đeo kính ra ngoài vườn hoa. Cái vườn hoa rộng lớn này được các đội y tá lanh lợi canh phòng rất nghiêm ngặt. Hôm sau, Princhard kèo nài tôi ra ngoài hiên để thử cặp kính đẹp với cậu ta. Nắng quái chiều hôm rọi vào đôi mắt kính râm của Princhard; tôi để ý thấy cái mũi cậu ta gần như trong suốt tới tận hai lỗ mũi đang thở phì phò.
-Anh bạn ơi! cậu ta tâm sự, thời gian qua đi và không ủng hộ tớ đâu... Lương tâm tớ không dành lối cho những trò ăn năn hối lỗi, tớ được giải thoát cũng là nhờ ở những cái rụt rè nhút nhát ấy... Trên thế gian này, tội ác thì có gì là đáng kể đâu... Từ lâu người ta đã chối bỏ ba cái trò này... Đó chỉ là những việc vụng về thôi mà... Tớ nghĩ hình như mình cũng có lần phạm phải... Thật là vô phương cứu chữa...
-Chuyện lấy cắp đồ hộp à?
-Ừ, tớ lại cứ nghĩ đó chỉ là chuyện láu vặt thôi, cậu hình dung xem! Để giải khuây trong lúc chiến trận và bằng cách đó dẫu có đáng xấu hổ nhưng còn được sống để yên ổn trở về, thảm hại như đứa chết chìm vừa được vớt từ đáy biển lên... Chỉ suýt nữa là tớ thành công... Nhưng chiến tranh rõ ràng là đã quá kéo dài... Người ta không còn hiểu được chiến tranh càng kéo dài thì liệu sẽ có thêm bao nhiêu đứa đáng ghét để làm cho mình phát chán ngấy cái Tổ quốc này... Tổ quốc đã bắt đầu chấp nhận mọi hy sinh, bất kể nó từ đâu đến, bất kể thân xác nó thơm tho hay thiu thối. Tổ quốc đã trở nên bao dung vô hạn trong việc lựa chọn những kẻ hy sinh! Đến giờ thì không còn tên lính nào là không xứng đáng được mang vũ khí và nhất là được chết dưới vũ khí và bởi vũ khí... Tin sau cùng, cậu ơi, người ta đang làm cho tớ trở thành anh hùng đấy!... Họa chăng cơn điên loạn tàn sát đã trở thành khẩn thiết đặc biệt nên họ mới sẵn sàng tha thứ cái tội lấy cắp một hộp đồ hộp chứ! nói cho đúng hơn, là họ sẵn sàng bỏ qua! Dĩ nhiên là chúng ta đã quá quen với việc ngày ngày ngưỡng mộ biết bao thằng ăn cướp kếch xù, mà toàn thế giới cùng với chúng ta đều sùng bái sự giầu có nứt đố đổ vách của chúng, nhưng chỉ cần ghé sát lại một tí mà xem sự tồn tại của chúng tự nó đã đủ phơi bầy một tội ác kéo dài và mỗi ngày mỗi mới hơn. Vậy mà những kẻ đó lại đang hưởng đủ thứ vinh quang, danh vọng, quyền thế. Tội ác của chúng được pháp luật thừa nhận, và đáng ra những tội ấy phải ghi vào sử sách - và như cậu biết rồi đấy, tớ ăn lương cũng chỉ để biết sử - thì một vụ ăn cắp vặt chút ít thức ăn xoàng xĩnh, mấy mẩu bánh mì, tí giăm bông hay miếng pho mát, thì người ta trút lên đầu tên ăn cắp cò con ấy đủ thứ rác rưởi, nào là quân hèn mạt, đồ bỏ đi, kẻ trọng phạm, kẻ làm ô danh và xỉ nhục cho cả cộng đồng... Người ta xử sự như thế bởi hai lẽ: trước hết, kẻ phạm tội ấy nói chung là một thằng nghèo, mà đã nghèo thì chỉ phạm một tội ấy thôi cũng đủ được coi là một điều ô nhục hàng đầu rồi; đã thế hành động của y ta còn mặc nhiên là một sự chối bỏ cộng đồng.
Cái sự ăn cắp của thằng nghèo trở thành một sự chiếm đoạt cá nhân hiểm ác, cậu hiểu không?... Ta sẽ đi đến đâu nhỉ? Chừng nào sự đàn áp những vụ ăn cắp vặt ấy còn diễn ra dưới khắp vòm trời này, với một sự nghiến răng nghiến lợi ghê gớm, thì cậu hãy để ý mà xem, đó không chỉ là biện pháp bảo vệ xã hội mà còn là, và nhất là được coi như một lời răn đe nghiêm khắc đối với tất cả mọi kẻ nghèo khốn, là hãy an phận trên chỗ đứng và trong đẳng cấp của mình, nhẫn nhục, vui vẻ cam chịu cái khổ, cái đói, thế kỷ này qua thế kỷ khác và không cần biết đến bao giờ... Tuy nhiên, cho đến nay, trong nền Cộng hòa này, những thằng ăn cắp cò con ấy có được lợi thế là bị tước mất cái vinh dự được mang vũ khí của những kẻ yêu nước [28*]. Nhưng ngay ngày mai, sự đời thay đổi, biết đâu tớ lại chẳng từ một thằng ăn cắp trở về chỗ của mình trong quân ngũ... Đó là mệnh lệnh... Từ trên, các thủ trưởng đã ban xuống, rằng cái mà người ta gọi là “lỗi lầm chốc lát” của tớ đã được bỏ qua và, cậu nhớ hộ tớ nhé, có được quyết định này là do người ta nể cái có tên gọi là “gia thanh” của gia đình tớ. Một sự khoan dung kỳ quặc! Tớ hỏi cậu, dễ thường gia đình tớ đi mà hứng đạn để sàng lọc ra xem đạn nào là đạn Đức, đạn nào là đạn Pháp đấy chắc? Tất nhiên chỉ là một mình tớ phải không nào?
Và giả thử tớ chết thì liệu cái gia thanh ấy có làm cho tớ sống lại được không? Này cậu ạ, rồi đây mọi cái của chiến tranh qua đi, còn tớ thì nằm lại dưới đất, tớ sẽ thấy gia đình tớ phởn phơ trên các bãi cỏ lúc hè về, nằm dưới lớp đất này, tớ sẽ thấy được gia đình tớ vào những buổi chiều chủ nhật đẹp trời... Bố ơi, dưới ba tấc đất này, con của bố đang ngập ngụa trong đám dòi bọ và thối hơn cả đống cứt chó ngày 14 tháng 7 [29*], và cái thân xác bị lừa gạt ấy sẽ nát rữa một cách kinh dị... Làm mầu mỡ cho những luống đất của một anh thợ cày vô danh, đó là cái tương lai thật sự của thằng lính thật sự! Ôi anh bạn, cái thế giới này, tớ đảm bảo với cậu, chỉ là một trò kinh doanh to tát, mặc xác thiên hạ! Cậu còn trẻ. Mỗi giây phút minh mẫn này đối với cậu phải nhân lên thành mỗi năm trong đời! Chịu khó nghe tớ, bạn ơi, đừng để cho nó qua đi mà không tìm hiểu cho hết cái tầm quan trọng của nó, cái biểu tượng hàng đầu của Xã hội chúng ta, choáng lộn bởi những trò đạo đức giả giết người: “Sự mủi lòng trước số phận và tình cảnh của những kẻ khố rách...” Tôi đã bảo mà, các chú bé ngây thơ, những thằng ngốc trên đời, bị nhừ đòn, bị phạt vạ, suốt ngày vã mồ hôi, tôi báo trước cho các người biết, khi mà các ông lớn ở cái thế giới này hạ cố rủ lòng thương tới các người, đó chính là lúc họ sắp biến các người thành những khúc dồi thịt ngoài trận địa đấy... Đó là biểu tượng... Nhất thiết sẽ là thế đấy... Cái đó bắt đầu bằng sự trìu mến mà. Như người ta còn nhớ, vua Louis XIV đấy, ít nhất thì ông ta cũng mạnh mẽ tỏ ra cóc cần gì đám lương dân. Con vua Louis XV, cũng vậy thôi. Ông này tự bôi bẩn quanh cái lỗ trôn. Thời bấy giờ người ta sống không lấy gì làm khá cho lắm, dĩ nhiên là người nghèo lại càng chẳng được sống cho ra sống, nhưng người thời ấy cũng không đến nỗi moi gan móc ruột nhau ra một cách say mê mải miết như lũ bạo chúa ngày nay. Tôi bảo cho các người biết, đối với những hạng người hèn mọn, thì nghỉ ngơi chỉ có được khi các ông lớn không cần đến, vì các ông lớn chỉ nghĩ tới nhân dân bởi lợi lộc và bởi những trò tàn ác. Các nhà hiền triết ư? Bạn hãy ghi nhớ thêm khi chúng ta đang nói đến chuyện này. Các vị này khởi sự bằng việc kể chuyện cho dân lành... Mà dân thì chỉ biết có giáo lý cơ đốc. Các vị ấy tự xưng là có trách nhiệm dạy dỗ dân. Chà! phải để cho dân biết các sự thật chứ! toàn là sự thật tốt đẹp thôi mà! không phải những chuyện cũ mèm đâu! đang còn chói sáng đấy! Ai nấy đều phải lóa mắt đấy! Đám dân lành bắt đầu lên tiếng: được đấy! hoàn toàn được đấy! tất cả chúng ta sẽ chết cho cái đó! Nhân dân chưa bao giờ lại chỉ đòi được chết!
Thế mà có chuyện ấy đấy! Họ gào lên: “Diderot muôn năm!”, rồi: “Hoan hô Voltaire!” Đó ít ra cũng là các nhà hiền triết! Và muôn năm cả Carnot nữa, người đã tổ chức và chiến thắng thật là hay! Và muôn năm tất cả! ít nhất thì đó cũng là những người không để cho đám lương dân ấy phải cùng cực trong sự dốt nát và sùng bái mù quáng! Họ đã chỉ cho dân biết được những con đường dẫn đến Tự do! Họ giải phóng cho dân! Cái đó không kéo dài lê thê đâu! Trước hết phải làm cho mọi người biết đọc báo!... Đó là con đường cứu nguy! Khốn kiếp! Mau mau lên chứ! Không còn mù chữ nữa! Phải làm cho không còn ai mù chữ! Chỉ còn những công dân chiến sĩ! Những người đi bầu! Những người biết đọc! Và biết chiến đấu! Biết hành quân! Và biết gửi những cái hôn! Với một chế độ như thế, chẳng mấy chốc lương dân sẽ tinh nhanh chín chắn cả.
Thế thì liệu có thể dùng cái sự được giải phóng ấy vào việc gì chăng? Danton không chỉ hùng biện vì mấy quả mận. Chừng nào ta còn giỏng tai nghe mấy câu la hét thật mùi mẫn của ông ta thì chỉ một cái ngoáy tay của ông ta cũng đủ sai khiến được cả đám lương dân! Và thế là lập tức diễn ra cuộc xuất quân đầu tiên của những tiểu đoàn đầu tiên những người cuồng nhiệt vì được giải phóng! Những anh thôn đầu tiên được làm cử tri và được vác cờ mà Dumouriez [30*] đã xua đi đỡ đạn ở xứ Flandres! [31*] Còn bản thân Dumouriez, kẻ chậm chân trong cái trò lý tưởng nhỏ nhoi, hoàn toàn mới lạ này, lại là kẻ chỉ thích có xin thôi, hắn ta đã đánh bài chuồn. Đó là tên lính đánh thuê cuối cùng của chúng ta... Còn chuyện lính không công thì lại là chuyện mới. Rất ư là mới, mà Goethe, đích thực Goethe, khi đến Valmy đã thấy tận mắt. Đứng trước đám người rách rưới, si mê, vừa tự động dẫn xác đến cho vua nước Phổ moi ruột moi gan, để bảo vệ cái lòng yêu nước tưởng tượng hão huyền, khiến cho Goethe phải cảm thấy rằng ông còn lắm cái phải học ở trên đời này vậy. Ông tuyên bố một cách rất thần tình, theo thói quen thiên tài của ông: “Từ ngày hôm nay, bắt đầu một thời đại mới!” Tin được chăng?
Kế sau đó, khi cái chế độ ấy đã là tuyệt vời rồi, người ta bèn chế tạo ra hàng loạt anh hùng hảo hán, giá thành ngày càng rẻ hơn, nhờ cái sự hoàn thiện hoàn mỹ của chế độ. Ai cũng thấy được cái đó. Từ Bismarck, tới hai ông vua Napoléon, tới Barrès [32*] cho chi cô gái nhảy Elsa. Cái thứ tôn giáo cờ sí ấy [33*] đã mau chóng thế vị thiên cung, Cải cách đã làm xì hơi cái vầng mây cũ và từ lâu vốn đã đọng lại thành những ống tiền của các tòa giám mục. Ngày xưa cái mốt cuồng tín, là hò hét: “Chúa Giê-su sống mãi! Hãy lôi bọn tà giáo lên giàn hỏa!” nhưng dù sao thì bọn tà giáo cũng hiếm hoi và tự nguyện... Còn từ nay trở đi, vào thời chúng ta đây, thì từng bầy lũ rộ lên những tiếng gào thét: “Hãy đưa lên đoạn đầu đài những đứa như riếp củ không xơ! như chanh không nước! những độc giả ngây thơ! Từng triệu đứa một, bên phải, quay!” Những kẻ nào không muốn đánh nhau, không muốn giết chóc ai cả, những kẻ thối tha theo đuổi Hòa bình, hãy tóm cổ chúng nó, phanh thây xé xác chúng ra! Băm vằm chúng bằng đủ mọi cách, làm cho thật ngọt! Để dạy cho chúng biết sống thế nào cho phải thì trước tiên hãy dứt ruột chúng ta, móc con ngươi chúng khỏi tròng, cắt bớt những năm tháng trong cuộc đời bẩn thỉu rãi rớt của chúng đi! Phải làm cho chúng, từng đàn từng lũ, quay như chong chóng, tứa máu ra, bốc hơi khắm lên, và tất cả những cái đó cũng nhằm để cho Tổ quốc của chúng ta đáng yêu hơn, vui vẻ hơn, dịu dàng hơn! Nếu như trong cái Tổ quốc đó lại có những tên rác rưởi không chịu học lấy nhưng điều cao siêu, thì ngay lập tức, cùng với những tên khác, tuy không giống nhau hoàn toàn, chúng cứ việc tự đào mồ ở tít tân đằng cuối bãi tha ma kia kìa, dưới tấm bia bêu riếu nhưng kẻ hèn mạt vô lý tưởng, bởi vì nhưng tên bỉ ổi đó đã đánh mất cái quyền tuyệt vời là được dành một mẩu bóng râm dưới tượng đài trên đường đi chính giữa, do hàng xã thầu và dựng lên cho những người chết tử tế, tiếp đó lại còn mất luôn cái quyền được tiếp nhận chút ít tiếng vọng của ngài bộ trưởng vào ngày chủ nhật còn đến đi tiểu ở nhà ông tỉnh trưởng và cái mồm run rẩy trên những nấm mồ sau bữa ăn trưa...
Princhard còn đang thao thao thì có tiếng gọi từ phía cuối vườn. Y sĩ trưởng cho tay y tá trực ra gọi gấp.
- Tôi đi đây. Princhard trả lời và chỉ đủ thì giờ đưa cho tôi cái bản nháp bài diễn văn anh ta vừa đọc thử với tôi. Trò diễn của một diễn viên tồi.
Cái cậu Princhard ấy tôi không bao giờ còn gặp lại. Cậu ta có cái tật xấu của những tay trí thức, cái tật phù phiếm. Cậu ta biết quá nhiều thứ, toàn những thứ làm cho đầu óc rối mù lên. Cậu ta cần có nhiều, thật nhiều cái để tự cổ vũ, tự quyết định.
Đã xa rồi cái buổi chiều cậu ta ra đi, mỗi khi tôi nghĩ đến nó. Tôi vẫn còn nhớ rõ lắm. Những ngôi nhà ngoại ô vây quanh cái vườn hoa của chúng tôi càng nổi bật lên như mọi cái khác trước lúc chìm vào cảnh chiều tà. Cây cối cũng lớn bổng lên trong bóng tối, đâm vút lên trời, vươn tới màn đêm.
Tôi chưa hề làm gì để có được tin tức của cậu ta, xem xem có hẳn là cậu ta đã “mất tích” như người ta lặp đi lặp lại. Nhưng cậu ta mất tích mà lại hay đấy.