Chẳng có gì đáng phải tiếc, song dù sao sự ra đi ấy cũng để lại một khoảng trống vắng trong bệnh viện.
Trước hết cách lão ra đi khiến chúng tôi thấy buồn. Cách ra đi ấy không tự nhiên chút nào. Sau một sự cố như thế, khó có thế hình dung cái gì sẽ đến với chúng tôi.
Nhưng không còn thì giờ để băn khoăn nhiều hoặc buồn bã. Vài này sau khi tiễn Baryton ra ga, có một người đến văn phòng đòi gặp tôi, nhất thiết phải là tôi. Linh mục Protiste.
Tôi kể cho ông ta biết mọi chuyện, ông ta mới ngã ngửa người. Nhất là cái cách độc đáo mà Baryton tung hê mọi thứ để đi tiêu dao đến các xứ miền Bắc!... Nghe vậy, ông linh mục như không tin ở tai mình, đến khi hiểu ra thì lại chỉ thấy đấy là dịp may hiếm có cho tôi.
- Thưa Bác sĩ, ngài Giám đốc tin cậy Bác sĩ đến thế, thật là một sự tiến cử tuyệt vời! ông ta cứ lải nhải mãi không thôi.
Tôi cố ngăn ông ta, nhưng đã hăng rồi, ông ta cứ nhắc đi nhắc lại cái điệp khúc ấy, tiên đoán tôi sẽ có tương lai huy hoàng, sự nghiệp y học lớn lao. Tôi không sao ngắt được lời ông.
Cuối cùng thì cũng phải trở về với những công việc nghiêm túc, liên quan đến cái thành phố Toulouse mà ông vừa tới hôm qua. Tất nhiên tôi cứ để ông kể lể những gì ông biết. Tôi còn làm ra bộ ngạc nhiên, sửng sốt khi ông báo tin về tai nạn xẩy ra hôm trước.
Sao? sao? Bà cụ chết rồi?... Từ bao giờ vậy? xẩy ra như thế nào?
Lần lần rồi ông ta cũng phải kể rõ đầu đuôi.
Không hẳn nói rõ là chính Robinson đã đẩy ngã bà cụ xuống cầu thang, song ông ta cũng để mặc tôi muốn đoán thế nào thì đoán... Bà cụ chẳng còn kịp kêu lên một tiếng, có vẻ như vậy. Ta hiểu ngầm với nhau... Thật hoàn hảo, gọn ghẽ... Lần thứ hai hắn ta ra tay, bà cụ đã không thoát.
May thay là ở Toulouse, bà con dân phố vẫn coi Robinson là một thằng mù. Bởi vậy, người ta đều cho đây là một tai nạn, bi thảm thật nhưng cũng dễ hiểu khi xét đến hoàn cảnh và tuổi tác bà cụ, rồi thì việc xẩy ra lúc cuối ngày, mệt mỏi... Lúc này tôi không muốn tìm hiểu thêm gì nữa. Đã nghe quá nhiều chuyện tâm tình thầm kín rồi.
Tuy nhiên, muốn ông linh mục chuyển sang nói chuyện khác thật khó. Ông ta rất băn khoăn về vụ này nên cứ trở đi trở lại, hy vọng rằng tôi cũng bập vào, cũng dính líu vào như người ta nói... Đã giữa trưa!... Không thể nói mãi, ông đành thôi và chỉ nói về Robinson, sức khỏe của hắn, hai con mắt hắn... Mắt hắn đã khá hơn... Nhưng tinh thần thì vẫn rất kém. Đúng vậy, tinh thần hắn ta không ổn! Mặc dù luôn luôn có hai người đàn bà ân cần săn sóc, yêu thương. Hắn không ngừng phàn nàn, ta thán về số phận và cuộc đời.
Tôi không lạ gì những chuyện ông linh mục kể lại. Tôi biết Robinson. Tâm trạng buồn nản, khinh bạc của hắn. Nhưng tôi còn cảnh giác hơn với ý định của ông linh mục này... Tôi nín thinh, để mặc ông nói.
- Bác sĩ ơi, bạn ông, tuy đời sống vật chất bây giờ có khá hơn, dễ dàng hơn, hơn nữa lại sắp có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, nhưng ông ta vẫn làm chúng tôi thất vọng, thú thật là tôi lo lắng... Xem ra ông ta lại quay lại cái xu hướng thích lông bông, lầm lạc như bác sĩ đã biết trước đây... Ông nghĩ sao, bác sĩ thân mến?
Tóm lại, nếu tôi hiểu đúng, thì Robinson đang nhăm nhe bỏ rơi tất cả, và trước hết là cô vợ chưa cưới và bà mẹ cô phật ý và buồn lòng vô tả. Cha xứ Protiste tìm tôi cốt nói về chuyện ấy. Quả là kỳ quặc. Tôi nhất quyết im lặng, không can thiệp vào chuyện riêng của gia đình ấy... Câu chuyện không kết quả, tôi chia tay ông cha xứ ở bến xe điện, khá là lạnh nhạt. Trở về nhà thương, tôi cảm thấy trong lòng không yên.
Sau cuộc viếng thăm ấy không lâu, chúng tôi nhận được những tin tức đầu tiên của Baryton từ bên Anh. Vài tấm bưu ảnh. Lão chúc tất cả chúng tôi “khỏe mạnh và may mắn”. Lão còn viết thêm vài dòng nhì nhằng đây đó, nhờ thế mà biết được lão đã sang cả Na Uy, rồi vài tuần sau lại một bức điện của lão từ Copenhague chúc chúng tôi: “Thành công vượt qua các khó khăn”.
Như chúng tôi dự đoán, sự vắng mặt của Baryton đã bị bàn tán rất ác ý ở Vigny và vùng lân cận. Vì tương lai của Viện, chúng tôi thấy tốt hơn hết là không nên giải thích nhiều về sự vắng mặt đó, cả với bệnh nhân cũng như các đồng nghiệp bên ngoài.
Nhiều tháng lại trôi qua, những tháng hết sức thận trọng, tẻ nhạt, lặng lẽ. Ngay giữa chúng tôi với nhau cũng không nhắc đến Baryton. Vả lại nhớ đến lão là chúng tôi lại thấy ít nhiều xấu hổ.
Rồi mùa hạ tới. Chẳng lẽ cứ quanh quẩn suốt ngày ngoài vườn để coi giữ bệnh nhân. Để tỏ ra mình còn đôi chút thảnh thơi, và cũng để đổi không khí, chúng tôi lang thang ra tận bờ sông Seine.
Bên kia bờ sông là vùng đồng bằng rộng lớn Gennevilliers, với những ống khói in hình lên bầu trời mù sương. Gần bến kéo thuyền có một quán rượu thủy thủ, ngay cửa kênh đào. Dòng nước cuồn cuộn vàng đục vỗ vào cửa cống.
Trong nhiều giờ, chúng tôi tử con đường dưới bờ sông dõi nhìn cảnh đó, và ngay cạnh là một thứ như đầm lầy với cái mùi khó tả bốc lên tận con đường ô tô phía trên. Rồi cũng quen dần. Bùn lầy ở đó không còn biết là mầu gì nữa, vì đã tụ đọng quá lâu qua những cơn nước lũ. Vào những buổi chiều hè, bùn ở đấy đôi khi trở nên êm dịu hơn, khi bầu trời chuyển mầu hồng. Chính ở đó, đứng trên cầu, nghe tiếng đàn ắc-coóc từ những chiếc xuồng đậu bên cửa cống, chờ qua đêm để ngược dòng sông. Nhất là những xuồng từ Bỉ xuống là hay đàn nhạc, các xuồng này thường treo cờ xanh và vàng, quần áo thì giăng đầy trên các dây phơi, gió bay phấp phới.
Vào giờ rỗi sau bữa sáng, tôi thường tha thẩn một mình đến quán rượu thủy thủ này, khi con mèo nhà chủ đã chịu ở trên trong bốn bức tường như bị nhốt dưới một bầu trời nho nhỏ xanh men dành riêng cho nó. Cũng ở đó, một buổi đầu hôm, đang mơ ngủ chập chờn, gần như quên hết những gì đang diễn ra, thì tôi bỗng thấy từ phía xa có ai đi tới và đang lên dốc. Tôi không phải chần chừ gì lâu, nhận ngay ra hắn đang bước lên cầu. Đúng là Robinson, không thể lầm! Tôi nghĩ thầm: “Hắn đến tìm mình đây... Chắc ông cha xứ đã cho hắn địa chỉ! Phải tống hắn đi cho mau!”
Lập tức tôi thấy hắn thật đáng ghét, đến quấy quả mình đúng vào lúc đang muốn tìm một chút yên tĩnh. Phải cảnh giác khi đi đường, thiên hạ nói không sai. Kìa, hắn đã sắp tới gần quán rượu. Tôi bước ra. Hắn có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi.
-Cậu lại từ đâu đến đấy? tôi hỏi, giọng hơi gắt.
-Từ La Garenne... hắn đáp.
-Được thôi! Cậu ăn gì chưa? tôi lục vấn. Xem ra hắn ta có vẻ chưa ăn gì, nhưng lại không muốn vừa đến đã nói ngay là mình đói. Tôi để thêm: “Cậu lại đi lang thang à?” Bởi vì, lúc này tôi có thể nói ra điều ấy, tôi không thích gặp lại hắn chút nào. Chẳng vui vẻ gì.
Parapine cũng từ phía kênh đào đi tới. Thật trùng hợp. Ông cũng ngán chuyện phải trực mãi trong viện. Còn tôi thì đúng là hay tự do bừa bãi trong giờ làm việc. Cứ tình hình này, có lẽ đến phải tìm cách biết được chính xác chừng nào Baryton trở về. Hy vọng rằng lão sớm chán ngao du đây đó để mà trở về lo liệu lấy cái cơ ngơi của lão. Với chúng tôi, thế là quá rồi. Chúng tôi không phải loại người lắm tham vọng, tương lai ra sao chúng tôi cũng bất cần. Như thế kể ra cũng là sai.
Nói cho công bằng thì Parapine, không bao giờ hỏi han gì việc quản lý tiền nong của viện, về cách đối xử với bệnh nhân. Tuy nhiên tôi vẫn thông báo với ông ta, dù ông ta không muốn nghe, cứ như tôi nói một mình vậy.
Nhưng về trường hợp Robinson thì rất cần cho ông ta biết. Để vào đề, tôi nói:
-Tôi đã có lần nói chuyện với ông về cậu Robinson, phải không nhỉ? Cái cậu bạn hồi chiến tranh của tôi... Ông nhớ ra chưa?
Chuyện chiến tranh, chuyện châu Phi thì ông ta đã nghe tôi kể đến trăm lần. Tôi nói tiếp:
-Thưa đây, Robinson bằng xương bằng thịt từ Toulouse về đây thăm ta... Ta sẽ mời cậu ta về viện cùng ăn tối.
Thật ra, khi nhân danh viện nói câu ấy, tôi hơi ngượng ngùng. Tôi thấy mình hơi hớ. Phải có uy quyền nào đó mới làm được việc ấy, đằng này mình lại chẳng có gì. Đã thế, Robinson cũng không tạo thêm cho tôi được thuận lợi nào. Trên đường về viện, hắn lại tỏ ra tò mò, nghi ngại, nhất là cứ nhìn chằm chằm vào bộ mặt dài ngoẵng, tái nhợt của Parapine. Hắn tưởng ông ta cũng là một bệnh nhân tâm thần. Từ lúc biết chúng tôi ở đâu tại Vigny, hắn nhìn ai cũng tưởng như gặp người điên.
-Còn cậu, từ khi trở lại đây, cậu đã kiếm được việc gì chưa? tôi hỏi.
-Tớ đang kiếm việc... hắn chỉ trả lời có thế.
-Nhưng mắt cậu đã thật khỏi chưa? Bây giờ nhìn rõ chứ?
-Rõ, nhìn gần rõ như trước...
-Vậy thì hài lòng chứ?
Không, hắn chưa hài lòng. Hắn còn việc khác phải làm hơn là hài lòng. Tôi giữ ý không đả động gì đến Madelon. Đó là chuyện tế nhị giữa chúng tôi. Chúng tôi vui vẻ uống với nhau một chút khai vị, và tôi tranh thủ cho hắn biết nhiều chuyện ở viện cùng một vài chi tiết khác. Tôi vẫn không sao kiềm chế được cái tật huyên thuyên của mình. Đại thể không khác Baryton là mấy. Bữa ăn tối kết thúc trong sự thoải mái. Sau đó, tất nhiên tôi không thể tống khứ Robinson Léon ra đường. Tôi đành bảo người mang một cái giường cũ lên phòng ăn. “Đây, Léon! Cậu tạm nghỉ ở đây trong khi chưa kiếm được chỗ...” tôi bảo – “Cảm ơn” hắn thản nhiên đáp, và từ đó sáng sáng hắn nhẩy tầu điện đi Paris, nói là để kiếm việc làm, một chân đại diện nào đó.
Hắn nói không thích làm nhà máy nữa, mà muốn làm một chân “đại diện”. Có thể hắn đã hết sức chạy vạy thật, nhưng chưa được việc.
Một buổi tối, hắn từ Paris trở về sớm hơn thường lệ. Tôi đang ở ngoài vườn, gần chiếc bể lớn. Hắn gặp tôi tại đó, và mở đầu câu chuyện:
-Này, cậu.
-Tớ nghe đây, tôi trả lời.
-Cậu cho tớ một việc gì đó ở ngay đây được không?... Tớ chẳng tìm đâu ra...
-Đã tìm thật lực chưa?
-Rồi, thật lực rồi...
-Cậu muốn làm việc ở bệnh viện này à? Nhưng việc gì? Không tìm được việc vặt nào ở Paris hay sao? Hay để tớ và Parapine tìm giúp cậu ở một số người quen nhé?
Hắn có vẻ không thoải mái khi tôi để nghị giúp hắn tìm việc. Hắn liền nói tiếp:
-Không hẳn là không tìm được việc. Có thể tìm được... Một việc nho nhỏ... Nhưng cậu sẽ hiểu... Tớ rất cần phải ra vẻ như bị bệnh tâm thần... Cấp bách lắm, cần thiết lắm, tớ phải có cái vẻ của một bệnh nhân tâm thần...
-Được! tôi liền bảo hắn, khỏi phải nói gì thêm nữa!...
-Không, không, Ferdinand, ngược lại, tớ phải nói rõ thêm, để cậu hiểu tớ... Mà cậu thì tớ biết, cậu rất chậm hiểu và quyết định cái gì cũng chậm...
-Ừ thì nói đi, tôi đành chịu, cậu nói đi...
-Nếu tớ không giả điên được thì sẽ lôi thôi to, nhất định như vậy... Cô ta có thể làm cho tớ bị bắt... Giờ cậu hiểu chứ?
-Madelon ấy à?
-Chứ còn ai nữa!
-Hay thật!
-Cậu cứ việc nói...
-Hai người lại giận nhau à?
-Cậu thấy đấy...
-Lại đằng này, nếu cậu muốn cho tớ biết tỉ mỉ! tôi ngắt lời hắn, kéo hắn sang bên. Như thế cẩn thận hơn, vì chung quanh toàn người điên... Họ có thể biết chuyện rồi đi nói lăng nhăng... Họ điên mà...
Chúng tôi lên một phòng cách ly trong viện, và ở đó chẳng mấy lúc tôi đã nắm được đầy đủ đầu đuôi câu chuyện, phần vì tôi đã biết rõ khả năng của hắn, phần vì linh mục Protiste đã hé mở những gì còn lại...
Đến lần thứ hai này quả là hắn đã không thất bại.
-Cậu hiểu cho, bà cụ cứ bám sát tớ... Nhất là từ lúc mắt tớ dở hơn, nghĩa là tớ bắt đầu một mình đi ở ngoài phố được... Tớ đã nhìn thấy lại nhiều thứ từ lúc ấy... Nhìn lại thấy cả bà cụ... Có thể nói, chỉ còn nhìn thấy bà ta! Lúc nào bà ta cũng ở trước mắt tớ!... Như thể bà ta chặn cuộc sống của tớ lại! Tớ tin là bà ta cố tình đứng đó... Chỉ để đầu độc tớ... Không thể giải thích khác đi được!... Mà trong nhà có ngần ấy người, cậu đã biết cái nhà ấy rồi đấy, làm sao mà không hục hặc lẫn nhau? Cái nhà chật chội như thế!... Đến nằm đè cả lên nhau... Phải thế không?
-Còn các bậc thang xuống hầm, cũng không vững lắm, phải không?
Bản thân tôi đã từng nhận thấy các bậc thang ấy là nguy hiểm, khi xuống thăm lần đầu với Madelon, nó rất ọp ẹp.
-Ừ, đúng thế, hắn thừa nhận một cách thẳng thắn.
-Thế còn những người ở đó? tôi lại hỏi. Còn hàng xóm, linh mục, nhà báo... Họ không có nhận xét gì khi sự việc xẩy ra hay sao?
-Hình như không... Với lại, họ không tin rằng tớ lại có thể... Họ coi tớ là một thằng hết hơi, một thằng mù... Cậu hiểu chứ?...
-Nếu vậy, thật may phúc cho cậu, nếu không thì... Còn Madelon? Cô ta có dính líu gì không? Cũng đồng tình chứ?
-Không hoàn toàn... Dù sao cũng dính tí chút, tình thế bắt buộc mà, vì cái căn hầm ấy, cậu hiểu không, sẽ thuộc toàn bộ về hai chúng tớ sau khi bà cụ qua đời... Đã thỏa thuận là thế... Chúng tớ sẽ dọn vào ở trong ấy...
-Vậy thì tại sao chuyện tình của hai người sau đó lại tan vỡ?
-Việc ấy thì thật khó giải thích...
-Cô ấy không muốn cậu nữa à?
-Không đâu, trái lại là đằng khác. Cô ấy vẫn muốn, cả những gì đã dự định cho đám cưới vẫn còn nguyên... Mẹ cô ta cũng muốn, muốn hơn cả trước kia nữa, muốn chuyện cưới xin tiến hành thật sớm. Lý do là những xác ướp của bà cụ Henrouille mà chúng tớ được thừa hưởng, và từ đó cả ba người chúng tớ có đủ phương tiện để sống yên ổn...
-Vậy thì chuyện gì đã xẩy ra giữa các người?
-Hừ, tớ muốn họ hãy mặc xác tớ! Đơn giản thế thôi... Cả hai mẹ con...
-Này cậu, Léon!... nghe đến đấy, tôi liền ngắt lời hắn. Hãy nghe tớ đã... Chuyện của cậu không nghiêm túc tí nào... Hãy thử đặt cậu vào địa vị Madelon hay mẹ cô ta, cậu có bằng lòng như thế không? Sao? Lúc mới đến đó, cậu chẳng là cái gì hết, đến đôi giầy cũng không có mà đi, luôn mồm rên la rằng bà cụ nắm hết cả tiền, vân vân và vân vân... Rồi bà cụ ra đi, cậu khử bà cụ thì đúng hơn, và cậu lại bắt đầu nhăn nhó, làm bộ làm tịch... Cậu hãy đặt mình vào địa vị hai người đàn bà ấy, hãy thử xem!... Không thể chịu được!... Bây giờ cậu lại bảo tôi thu xếp cho cậu!... Cậu đáng để bị họ đá đít một trăm lần! Xin nói thẳng với cậu là thế!
Đó là những gì tôi nói với Robinson. Hắn cũng đốp chát luôn:
-Có thể là thế, nhưng cậu là thầy thuốc, đầy kiến thức và đủ các thứ, mà lại không hiểu gì về bản chất tớ...
-Thôi im đi, Léon ơi! cuối cùng tôi phải nói thế với hắn và để kết luận. Im đi, anh bạn khốn khổ, đừng có giở cái bản chất của cậu ra! Cậu nói năng như một kẻ tâm thần ấy! Tiếc rằng Baryton đang ở tận đâu đâu, nếu không lão ta sẽ giữ cậu lại để điều trị! Như thế có lẽ lại tốt nhất cho cậu! Trước hết phải nhốt cậu lại đã! Nhốt lại, nghe chưa? Rồi lão Baryton sẽ chăm lo đến cái bản chất của cậu!
-Nếu cậu cũng phải nếm trải mùi đời như tớ thì cậu cũng phát ốm lên thôi, hắn phản bác lời tôi. Có khi lại ốm hơn tớ nữa kia!...
Thế rồi hắn cứ lải nhải cự nự tôi, cứ như là hắn có đủ quyền ăn nói như thế.
Tôi nhìn thẳng vào hắn khi hắn cãi lại tôi. Tôi vốn thường bị bệnh nhân điên hành hạ nên đã quen rồi, ăn nói như Robinson đã thấm đâu.
Từ hồi ở Toulouse hắn đã gầy đi nhiều, và có một cái gì đó mà tôi chưa biết như đã hiện lên nét mặt hắn.
Trong các chuyện xẩy ra ở Toulouse, còn có một cái khác, tất nhiên không nghiêm trọng bằng, mà hắn đã ấm ức mãi, nhưng mỗi lần nghĩ đến là lại tức lộn ruột. Đó là việc hắn buộc phải hối lộ bọn đầu cơ mà rút cục xôi hỏng bỏng không. Hắn ấm ức đã phải đút lót hết chỗ này đến chỗ nọ khi tiếp nhận căn hầm đó, nào là ông linh mục và các phó linh mục, nào mụ cho thuê ghế ở nhà thờ, rồi tòa thị chính và khối nơi khác nữa, mà kết cục chẳng ăn thua gì. Hắn gọi họ là quân kẻ cướp.
-Thế nào? cuối cùng thì các cậu lấy nhau chứ? tôi hỏi, để kết thúc.
-Đã bảo không mà! Tớ không muốn nữa!
-Madelon cũng không đến nỗi nào, cậu công nhận thế chứ ?
-Vấn đề không phải là ở đấy...
-Chắc chắn vấn đề là ở đấy. Cậu nói là hai người được tự do cơ mà... Nếu muốn rời khỏi Toulouse, cậu có thể để bà mẹ cô quản lý căn hầm một thời gian, rồi sẽ trở về...
-Về mặt hình thức - hắn nói tiếp, có thể nói cô ấy thật là xinh, tớ công nhận là cậu đã mô tả cho tớ rất đúng. Cậu cứ hình dung mà xem, lúc hai mắt tớ vừa bắt đầu nhìn rõ được thì người đầu tiên tớ được thấy chính là cô ta, trong một tấm gương... Tưởng tượng xem!... Ánh sáng rực rỡ!... Gần hai tháng sau khi bà cụ ngã... Thị giác trở lại với tớ như cùng lúc với Madelon, chỉ để nhìn ngắm cô ta... Thật là kỳ diệu, bất ngờ... Cậu hiểu tớ chứ?
-Thế không thích à?
-Cũng thích... Nhưng đâu chỉ có thế...
-Cậu thật vớ vẩn...
-Đúng, nhưng để tớ nói rõ cho cậu hiểu. Trước hết cô ta cho tớ là kỳ cục... Rằng tớ không còn hăng say nữa... không đáng yêu nữa... Làm điệu làm bộ, õng à õng ẹo...
-Có thể là do cậu đang bị những hối hận nó giày vò chăng?
-Hối hận cái gì?
-Tớ không biết...
-Cậu muốn gọi nó là thế nào cũng được, nhưng tớ chẳng hào hứng gì... Thế thôi... Dù sao thì tớ cũng không nghĩ đó là những hối hận...
-Hay là cậu bị bệnh?
-Có thể đúng thế, đúng là bị bệnh... Ừ mà từ nãy đã gần một giờ đồng hồ, tớ cố làm cho cậu hiểu là tớ bị bệnh mà... Cậu có nhận là cậu chậm hiểu không?...
-Thôi được! tôi trả lời. Cứ coi là cậu bị bênh đi, nếu cậu thấy như thế là cách khôn ngoan nhất...
-Đúng, các cậu giúp tớ, hắn ta lại nằn nì. Vì tớ không thể đảm bảo được về phía cô ta đâu. Cô ta rất có thể tố giác lung tung không còn lâu la gì đâu...
Cứ như là hắn đang ban cho tôi một lời khuyên, mà tôi thì có cần gì đến lời khuyên của hắn. Tôi không ưa gì chuyện này, lại gây lắm thứ rắc rối phức tạp đây.
Tôi hỏi lại cho yên tâm:
-Cậu nghĩ rằng cô ta sẽ tố giác ư?... Nhưng cô ta chẳng đồng lõa với cậu là gì?... Dẫu thế nào thì cô ta cũng phải đắn đo suy nghĩ trước khi bêu xấu người khác chứ?
-Suy nghĩ? hắn lại rẫy nẩy lên. Rõ là cậu không biết gì tính nết cô ta... Cô ta sẽ không do dự lấy một giây!... Tớ nói thật đấy! Cậu mà cũng gần gũi cô ta như tớ, cậu sẽ không còn phải nghi ngờ gì lời tớ đâu! Đó là một cô gái si tình, tớ nhắc để cậu nhớ lấy!... Cậu chưa bao giờ lui tới với các cô gái si tình phải không? Đã là người si tình thì họ dễ điên lắm, đơn giản là thế. Điên! Mà lại si tình với tớ nên cô ta phát điên!... Cậu hiểu chứ? Mà đã điên là dễ bị kích động! Rất đơn giản! Không gì kìm giữ được cô ta! Ngược lại...
Tôi không tiện nói với hắn rằng, dẫu sao thì tôi cũng hơi ngạc nhiên là chỉ có mấy tháng trời mà sao Madelon lại hoảng loạn đến mức độ ấy, vì dù thế nào thì bản thân tôi cũng biết được cô ta ít nhiều... Tôi có suy nghĩ riêng về vấn đề này nhưng không thể nói.
Theo cái cách cô ta lo toan kiếm sống ở Toulouse và những gì tôi nghe thấy khi núp sau cây dương hôm gặp chiếc xuồng, thì thật khó hình dung nổi là cô đã thay đổi đến thế trong một thời gian ngắn ngủi... Tôi thấv cô là người tháo vát hơn là bi thảm, con người phóng khoáng dễ thương và tự bằng lòng trong cuộc sống với những thú vui nho nhỏ và tí chút kênh kiệu... Nhưng lúc này tôi chẳng có gì để nói. Đành để cho qua.
-Thôi được, không sao! Thế còn mẹ cô ta? Bà ấy cũng sẽ làm ồn lên khi biết rằng cậu định chuồn thẳng à?
-Còn phải nói! Bà ấy suốt ngày lải nhải chê bai tớ, nhằm những lúc tớ đang cần những lời dịu dàng tử tế! Rát cả tai!... Nói chung, với bà mẹ cũng không ổn, cho nên tớ đã nói ướm với Madelon là tớ để cho hai mẹ con cô ấy ở căn hầm, còn tớ thì sẽ đi một chuyến, ngao du một mình, thăm lại quê hương...
“- Anh phải đi với em, cô ta liền phản đối... Em là vợ chưa cưới của anh, phải thế không nào?... Léon, anh sẽ đi với em, hoặc không đi đâu hết!... cô ta lại nói tiếp. Anh đã khỏi hẳn đâu...”
“- Không, anh khỏi rồi, anh sẽ đi một mình!” tớ trả lời... Cãi vã mãi không thôi.
“- Vợ thì phải luôn luôn theo chồng chứ. Hai anh chị cưới nhau đi!” Bà mẹ nói để chọc tức tớ. Nghe thế, tớ rất khổ tâm. Cậu biết tớ rồi đây! Tớ đâu có cần đến đàn bà theo mình ra chiến trường! Và thoát ra khỏi chiến tranh! Và lúc ở châu Phi thì tớ cũng có đàn bà đâu? Rồi ở Mỹ tớ có người đàn bà nào?... Dù sao, cứ nghe họ lải nhải như thế hàng giờ liền thì cũng phát ốm! Đau bụng! Tớ biết; đàn bà dùng vào việc gì chứ! Cậu cũng thế, phải không? Chẳng được tích sự gì hết! Mặc kệ, tớ cứ đi! Một buổi tối họ làm tớ bực mình quá, tớ liền nói toạc với bà mẹ những gì tớ nghĩ. Tớ bảo: “Bà chỉ là một mụ lẩm cẩm... Còn tồi tệ hơn cả bà già Henrouille!... Nếu bà hiểu biết được nhiều hơn một chút về con người, về những xứ sở như tôi thì bà đã không vội lên lớp hết người này đến người khác! Bà hãy ra khỏi nhà một tí để mà học hỏi! Hãy đi dạo chơi, chỉ có lợi mà thôi! Cho đầu óc sáng láng ra! Bớt thì giờ cầu kinh đi cho đỡ lẩm cẩm!...” Tớ đã nói với mẹ cô ta như thế đấy! Và xin nói là, những lời ấy vẫn ấm ức trong lòng tớ từ lâu, nay mới được dịp xổ ra, và bà ta rất cần phải nghe... Mà cuối cùng thì người hả dạ nhất vẫn là tớ... Tớ như được ra thoát khỏi tình thế... Có thế nói rằng, mụ đàn bà quái quỷ ấy cũng chỉ chờ có thế để nhục mạ tớ bằng đủ thứ từ ngữ đểu cáng. Mụ gào lên: “Đồ khốn kiếp, đồ ăn cắp, đồ ăn hại, đồ ma cô!... Gần một năm giời nay được mẹ con tao nuôi báo cô! Chẳng được tích sự gì hết!...” Đấy, cậu nghe rõ chưa. Một cơn bão tố gia đình! Mụ ta suy nghĩ một lát rồi hạ thấp giọng, nhưng nói những gì cậu biết không? “Đồ sát nhân! Đồ sát nhân!” Cô con gái nghe thấy thế cuống lên, như sợ tớ sẽ nện cho mẹ cô ta một mẻ. Cô vội lao vào can, bịt chặt lấy mồm mẹ. Cô ấy làm như thế là phải. Nhưng tớ nghĩ thầm: Cả hai cùng một giuộc thôi. Thế là rõ. Cuối cùng, tớ cho qua... Không còn là lúc thô bạo nữa... Vả lại họ có vào hùa với nhau thì tớ cũng cóc cần... Cậu tưởng rằng sau đó họ để tớ yên chăng?... Còn lâu! Nghĩ vậy là ta chưa hiểu được họ... Cô con gái chỉ tạm lui một chút. Cô ta có lửa đốt trong tim và cả trong lỗ trôn nữa, nên không đừng được... “Em yêu anh, Léon, anh biết rõ là em yêu anh!” Cô ta chỉ có nhõn một cái mẹo ấy, “em yêu anh”. Như thể đó là lời giải đáp cho mọi thứ. Mẹ cô ta độp luôn: “Mày vẫn còn yêu được nó à? Mày không thấy nó chỉ là một đứa vô lại ư? Chẳng đáng một xu! Giờ đây nó đã khỏi mắt do công chăm nom của ta, nhưng mày sẽ phải hứng lấy tai họa! Tao thề với mày là như thế! Tao, mẹ mày!...” Để kết thúc, mọi người cùng khóc, cả tớ cũng thế, vì dù sao tớ cũng không muốn lôi thôi với thứ đồ đĩ ấy, tức giận quá làm gì. Tớ liền bỏ ra ngoài. Và đã nói với nhau mất mặn mất nhạt thì tình hình khó mà khá hơn được. Nhiều tuần liền, lúc lúc lại cãi vã, rồi rình mò nhau suốt đêm ngày... Chia tay nhau thì không nỡ, nhưng cũng chẳng còn lòng nào với nhau nữa. Còn dính líu với nhau chẳng qua vì còn e ngại nhau thôi.
“- Anh yêu người khác rồi ư?” thỉnh thoảng Madelon lại hỏi tớ.
“- Đâu có! tớ trấn an cô ta. Đâu có!” Tuy thế rõ ràng là cô ta không tin tớ. Đối với cô ta thì trên đời, ai cũng phải có người yêu, không ai thoát được. Tớ nói: “Anh cần một người đàn bà khác để làm gì?” Nhưng cái tật của cô ta là phải yêu đương. Tớ chẳng biết nói sao cho cô ấy yên lòng. Cô ta giở ra lắm trò mà tớ chưa từng thấy ở cô ấy bao giờ. Tớ cũng không ngờ rằng cô ấy bấy lâu vẫn ẩn giấu trong lòng nhiều điều kỳ quặc. “Anh đã hút mất hồn em!” cô ấy buộc tội tớ, và nghiêm trọng hơn: “Thế mà anh lại định bỏ đi!” Cô ta đe dọa: “Thì cứ đi đi! Nhưng em nói cho anh biết, thiếu anh thì em sẽ chết vì sầu não đấy!” Hóa ra tớ lại là nguyên nhân cái chết có thể xẩy ra vì sầu não của cô ta? Thế là nghĩa làm sao” Tớ hỏi cậu đấy. Tớ lại an ủi: “Không, em không chết đâu! Anh nào có lấy gì của em nào? Hãy nghĩ kỹ xem! Anh chưa có con với em! Anh cũng không đổ bệnh cho em! Phải không nào? Vậy thì, bây giờ anh muốn ra đi, có thế thôi! Như đi nghỉ hè. Thật đơn giản... Em hãy tỏ ra biết điều...” Nhưng càng giải thích quan điểm của tớ, cô ta lại càng không chịu nghe. Tóm lại, hai bên không còn muốn hiểu nhau nữa. Cô ta như điên lên vì không ngờ rằng tớ lại nghĩ trong đầu những điều tớ vừa nói ra, rằng đó là những điều tớ nghĩ thật sự, đơn giản và chân thành.
“Đã thế, cô ta còn cho rằng chính cậu đã thúc đẩy tớ bỏ đi... Biết không thể giữ tớ bằng sỉ vả, cô ta tìm cách khác. Cô ta liền nói:
“- Này Léon, đừng tưởng em cố bám lấy anh chỉ vì chuyện kinh doanh trong cái hầm ấy!... Anh biết thừa rằng, tiền với em chẳng nghĩa lý gì... Điều em muốn là được ở bên anh... Được hạnh phúc... Có vậy thôi... Thật tự nhiên... Em không muốn anh bỏ em... Đã yêu nhau như chúng ta từng yêu mà xa nhau thì không chịu nổi... ít nhất là anh hãy thề là sẽ không đi đâu, có được không?”
“Cuộc khủng hoảng cứ thế kéo dài hàng tuần. Có thể nói cô ta vừa yêu đương đắm đuối vừa gây lắm chuyện bực mình... Cứ tối tối lại ca bài ca tình ái. Cuối cùng, cô ta đồng ý giao cái hầm ấy cho bà mẹ trông coi, với điều kiện là tớ với cô ấy cả hai cùng đi Paris tìm việc làm... Luôn luôn cùng đi! Cậu bảo thế có khổ không! Cô ta sẵn sàng hiểu mọi thứ, ngoại trừ cái việc anh đi đường anh, tôi đường tôi... Việc đó cô không thể nào chấp nhận... Thành ra cô ta càng làm già, tớ càng phát ốm luôn!”
“Khỏi phải mất công để làm cho cô ta biết điều. Tớ nhận ra rằng chỉ tốn thì giờ, mà lại càng làm cho cô ta lồng lộn hơn. Vì vậy tớ phải tìm ra mưu mẹo để thoát khỏi mối tình của cô ta... Từ đó nẩy ra ý định làm cô ta hoảng sợ bằng cách thỉnh thoảng lại nói năng lảm nhảm như mình bị điên... Lúc lúc lại lên cơn, không biết thế nào mà lường... Cô ta lườm nguýt tớ, không rõ đó là thật hay giả... Dù sao thì qua các câu chuyện tớ thường kể trước đây, chuyện chiến tranh, chuyện về bà cụ Henrouille, và cả thái độ kỳ quặc của tớ với mẹ con cô ấy, cũng làm cho cô phải suy nghĩ...”
“Cô suy nghĩ đến hơn một tuần, và để tớ được yên... Chắc cô đã hé ra với bà mẹ về bệnh tật của tớ... Cho nên không còn thấy họ tỏ ra muốn giữ rịt lấy tớ nữa... Tớ nghĩ bụng: Càng hay, ổn rồi! Ta được tự do!... Tớ tưởng tượng đến việc mình lẳng lặng chuồn thẳng đi Paris mà không gây chuyện ầm ĩ... Nhưng khoan đã!... Chẳng qua là tớ quá cẩn thận... Tớ nghĩ mình đã tìm được cách dễ thuyết phục nhất để chứng minh điều tớ nói là đúng... Một hôm tớ bảo Madelon: “Em sờ vào đây mà xem, cái bướu ở sau đầu đây này. Em đã sờ thấy vết sẹo chưa, có thấy đúng là một cái bướu to tướng không nào?...”
“Khi sờ nắn thấy rõ cái bướu, cô ta xúc động tớ không biết tả với cậu thế nào... Hóa ra cô ta đã không có vẻ gì là ghê sợ mà lại càng thương cảm hơn!...”
Anh bị thương ở vùng Flandres, phải mổ ở đấy đấy...
- “Ôi, Léon! cô sôi nổi hẳn lên, em xin lỗi anh, Léon của em!... Trước nay em vẫn không tin, nhưng bây giờ thì em thành thật xin lỗi! Em hiểu rồi! Em đã không phải với anh! Không, không! Em thật là đáng ghét!... Từ nay em sẽ không thế nữa! Em xin thề! Em xin chuộc lỗi lầm! Ngay lập tức! Đừng ngăn trở em chuộc lại lỗi lầm, anh nhé... Em sẽ đem lại hạnh phúc cho anh! Em sẽ săn sóc anh thật chu đáo! Ngay từ hôm nay! Em sẽ hết sức kiên nhẫn với anh! Sẽ thật dịu dàng! Rồi anh xem! Em sẽ thật thông cảm với anh đến mức anh không thể xa rời em được! Em lại xin dâng trọn trái tim em cho anh, em thuộc về anh!... Tất! Tất cả cuộc đời em, em dâng cho anh! Nhưng anh nói đi, ít nhất anh cũng tha thứ cho em nhé, Léon...”
“Tớ không nói gì hết, không một lời. Cô ấy nói hết cả, như vậy là cô ấy đã tự trả lời... Làm thế nào để cô ấy ngừng nói cho được?”
“Sờ thấy cái sẹo và cái bướu trên đầu tớ, cô ấy bỗng như bị bỏ bùa mê thuốc lú vì tình! Hai tay cô ấy ôm lấy đầu tớ không chịu buông ra nữa, như muốn cho tớ được sung sướng đến tận cõi Vĩnh hằng, tớ có nhận hay không cũng kệ! Từ lúc đó trở đi, bà mẹ không còn quyền gì mở mồm quát mắng tớ nữa. Madelon không để bà ta nói. Cậu không thể nhận ra cô ta nữa, cô ta muốn bảo vệ tớ đến cùng!”
“Cân phải chấm dứt trò ấy thôi! Tớ muốn chia tay nhau như những người bạn tốt... Nhưng bây giờ có cố sức cũng vô ích... Cô ấy càng gắn bó với tình yêu lại càng bị va vấp. Một buổi sáng, thừa lúc hai mẹ con đi mua bán, tớ làm như cậu đã làm, gói các thứ vào một bọc, rồi chuồn luôn... Nào, bây giờ cậu có còn bảo rằng tớ không kiên trì nữa không? Tớ xin nhắc lại rằng, trong việc ấy tớ không còn có thể làm gì được nữa... Bây giờ chắc cậu đã hiểu cả... Tớ đã nói là cô ta dám làm mọi thứ, có thể lao đến đây tìm tớ bất cứ lúc nào, cậu đừng nghĩ là tớ nói mê sảng đâu! Tớ còn tỉnh chán, tớ biết rõ cô ta mà! Chúng ta sẽ yên ổn hơn, nếu cô ta thấy tớ bị nhốt ở đây cùng với những người điên... Tớ sẽ thoải mái giả vờ làm người ngây dại không còn hiểu biết gì... Với cô ta, phải làm thế... Không hiểu gì”.
Hai ba tháng trước mà nghe những gì như Robinson vừa kể thì họa may tôi còn quan tâm, chứ bây giờ đầu óc tôi bỗng như cằn cỗi đi rồi.
Trong thâm tâm, càng ngày tôi càng giống Baryton, cũng cóc cần... Tất cả những gì Robinson vừa kể về cuộc phiêu lưu của hắn ta ở Toulouse, đối với tôi chẳng còn là hiểm họa ghê gớm nữa; tôi cố gây cho mình một sự xúc động trước cái ca này của hắn nhưng vô ích, chỉ thấy sặc một mùi hôi hám ẩm mốc trong đó. Nói gì thì nói, thế gian đã bỏ rơi chúng ta ngay từ rất sớm, trước khi chúng ta vĩnh viễn ra đi.
Những thứ ta coi trọng nhất, bỗng đến ngày nào đó lại càng ít muốn nói đến, hoặc có muốn thì phải ráng lắm mới nói ra được. Cứ nghe nói mãi cũng phát ngán rồi... Ta rút ngắn lại... Từ bỏ nó đi... Đã ba chục năm rồi, nói mãi... Không cần biết phải trái nữa. Cả đến chút ít khoái lạc cỏn con cũng không còn chỗ trong ham muốn của mình nữa... Ngán lắm rồi... Chỉ muốn cho vào mồm chút gì rồi đắp chăn cho ấm và đánh luôn một giấc thật đã trên con đường chẳng ra quái gì cả. Muốn giành lấy chút lợi lộc thì phải biết tìm cách nhăn nhó mới khác trước mặt mọi người... Nhưng còn hơi sức đâu mà thay đổi tiết mục. Ấp a ấp úng. Cố tìm cách và tìm lý do để ở lại với bạn bè, nhưng cái chết cũng đã kề bên, luôn luôn hiện diện, bỉ ổi nhưng ít bí ẩn hơn chơi tú lơ khơ. Chỉ còn những mối sầu vặt vãnh là quý hiếm với anh, mối sầu của kẻ còn sống sờ sờ mà không có được lấy tí thì giờ đi thăm ông chú già ở Bois de Colombes [144*] mà tiếng than nho nhỏ đã mãi mãi tắt ngấm vào một tối tháng hai. Đó là tất cả những gì ta lưu lại được từ cuộc sống. Sự nuối tiếc nhỏ mà thật là đau xót ấy. Còn lại những gì thì ta đã ít nhiều ói mửa ra ở dọc đường với biết bao cố gắng, nhọc nhằn. Ta chỉ còn là một cái cột đèn cũ kỹ làm kỷ vật ở góc một đường phố đã chẳng còn mấy ai qua lại.
Còn như muốn buồn chán một cách đỡ mệt nhất, thì chỉ còn cách là rơi vào những công việc đơn điệu hằng ngày. Tôi giữ nghiêm kỷ luật là mọi người trong viện đều phải đi ngủ lúc mười giờ. Chính tôi tự tay tắt điện. Mọi việc cứ thế mà làm.
Hơn nữa chúng tôi không muốn chi phí tốn kém cho những trò tưởng tượng. Cái phương thức của Baryton “cho bọn trẻ con ngớ ngẩn đi xem chiếu bóng” [145*] chúng tôi lo đủ. Việc tiết kiệm, viện không thực hiện chặt chẽ lắm. Chúng tôi bảo nhau cứ hoang phí thì có khi lại buộc ông chủ phải lo lắng mà quay về.
Chúng tôi mua một cái ắc-coóc để Robinson kéo cho bệnh nhân nhảy ngoài vườn vào mùa hè. Ở Vigny thật khó mà khuây khỏa ngày đêm cho các bệnh nnân. Chẳng lẽ lúc nào cũng đưa họ đi nhà thờ thì họ ngán lắm.
Chúng tôi không còn nhận được tin tức gì từ Toulouse, cha xứ Protiste cũng không còn thấy trở lại gặp tôi. Cuộc sống ở viện trôi qua đơn điệu, vội vã. Về mặt tinh thần, chúng tôi không thoải mái. Đó đây quá nhiều hồn ma.
Nhiều tháng trôi qua. Robinson thần sắc đã khá hơn. Đến kỳ Phục sinh, đám bệnh nhân điên của chúng tôi nhộn nhạo hơn một chút. Các nữ bệnh nhân mặc áo quần mỏng lượn lờ ngoài vườn. Mùa xuân đến sớm. Cho uống bromure.
Ở rạp Tarapout, so với hồi tôi còn đóng những vai phụ, đã thay đổi nhiều trong số các nhân viên. Các cô gái Anh đã bỏ đi rất xa rồi, người ta cho tôi biết là sang tận Úc. Sẽ chẳng còn bao giờ gặp lại họ. Từ dạo có chuyện giữa tôi với Tania, tôi không còn được bén mảng đến khu hậu trường. Tôi cũng chẳng kèo nài.
Chúng tôi bắt đầu viết thư đi nhiều nơi, nhất là đến các lãnh sự quán của các nước Bắc Âu để xem liệu có tin tức gì về Baryton qua các nơi đó không. Nhưng không có hồi âm nào đáng kể.
Parapine cần mẫn và âm thầm làm trọn những nhiệm vụ kỹ thuật của ông cùng với tôi. Từ hai mươi bốn tháng nay, ông ta không hé miệng nói quá hai mươi câu. Thành ra tôi là người duy nhất phải lo thu xếp các công việc hành chính và vật chất mà tình hình đòi hỏi hằng ngày. Cũng có lúc tôi sai nhưng Parapine vẫn chẳng nói gì. Chúng tôi dửng dưng hợp tác với nhau. Vả lại bệnh nhân lui tới khá đông, đủ để bệnh viện của chúng tôi đứng vững về mặt kinh tế. Sau khi trang trải tiền nhà và các khoản, còn đủ tiền để sinh sống, tất nhiên là kể cả tiền phải chu cấp cho bà cô của Aimée để trông nom con bé.
Tôi thấy Robinson giờ đây ít lo lắng hơn lúc mới đến. Khí sắc khá hơn và nặng thêm ba ký. Nói tổng quát, hình như gia đình nào có người hơi điên điên, là họ rất mừng tìm đến chúng tôi, được thuận tiện vì gần kề ngay thủ đô. Riêng khu vườn của viện cũng đáng được đến thăm rồi. Nhiều người cất công từ Paris đến chỉ để ngắm những giỏ hoa và bồn hoa hồng của chúng tôi vào những ngày hè đẹp trời.
Chính vào một ngày chủ nhật tháng sáu, lần đầu tiên tôi nhận ra hình như có Madelon trong số người đi dạo chơi như thế; cô ta đứng im lặng một lát ngay trước cổng.
Thoạt tiên tôi không muốn báo cho Robinson biết làm gì về sự xuất hiện ấy, để hắn khỏi lo lắng. Nhưng suy nghĩ lại, mấy ngày sau, tôi dặn hắn ít nhất là trong một thời gian chớ nên tha thẩn đi dạo ra xa các vùng xung quanh như hắn vẫn thường làm lâu nay. Lời dặn dò ấy khiến hắn lo lo. Tuy nhiên hắn cũng không gặng hỏi gì thêm.
Khoảng cuối tháng bẩy, chúng tôi nhận được mấy tấm bưu ảnh của Baryton, lần này từ Phần Lan gửi về. Chúng tôi rất mừng, song không thấy lão nói gì đến ngày về, chỉ một lần nữa chúc chúng tôi “may mắn” và nhiều điều hữu ái khác.
Hai tháng trôi qua, rồi mấy tháng nữa... Đường sá mùa hè bụi lầm. Khoảng lễ Các Thánh, một trong những bệnh nhân tinh thần của chúng tôi gây chuyện ầm ĩ ngay trước cửa Viện. Thường ngày anh chàng này hiền lành và đúng mực, bỗng bị kích động bởi không khí ngày lễ cầu nguyện cho các tín đồ qua đời. Hắn đứng ở cửa sổ hét ầm lên rằng hắn không bao giờ còn muốn chết nữa. Những người đi dạo ngoài phố để ý mãi không thôi anh chàng kỳ cục buồn cười này. Đúng lúc xẩy ra chuyện om xòm ấy, tôi lại có cảm giác rất khó chịu, mà lần này càng rõ ràng hơn lần trước, là nhận ra Medelon ngay trên hàng đầu một đám người xúm quanh trước cổng, vẫn chỗ cũ.
Đêm hôm đó, tôi thao thức không sao ngủ được vì lo âu. Cố quên đi những gì mình thấy ban ngày mà không được. Thà rằng không ngủ nữa cho xong.
Đã lâu tôi không trở lại Rancy. Nhân chuyện gặp cơn ác mộng này, tôi tự hỏi nên chăng ta đi dạo một vòng về phía ấy, nơi đã xẩy ra đủ mọi chuyện bất hạnh, sớm hay muộn... Tôi cũng đã từng để lại đó bao cơn ác mộng... Cứ thử đến đối mặt với chúng có thể tạm coi là một thứ phòng xa đấy. Con đường ngắn nhất từ Vigny sang Rancy là đi dọc bến sông đến cầu Gennevilliers, chiếc cầu phẳng lì bắc qua sông Seine. Những đám sương mù lờ lững trên sông, sà xuống các mé nước, tụ lại, rồi trôi đi, vươn cao lên, ngập ngừng để rồi lại sà xuống bên kia cầu quanh những ngọn đèn dầu. Cái xưởng máy kéo nằm bên tả ngạn chìm trong màn đêm rộng lớn. Các khung cửa sổ nhà máy mở toang bởi một vụ hỏa hoạn vẫn còn cháy âm ỉ bên trong không biết đến bao giờ mới tắt. Đi qua nhà máy, tôi chỉ còn lại một mình trên bến... Nhưng không lo gì lạc đường... Cứ bao giờ thấy mỏi là biết được mình đến nơi. Rồi chỉ cần rẽ trái qua phố Bournaires và thế là chẳng còn bao xa nữa. Nhận ra đường không khó gì, vì đã có cụm đèn xanh đỏ lúc nào cũng thắp sáng ở chỗ chắn tầu. Ngay giữa đêm đen, nhắm mắt lại, tôi cũng vẫn tìm được nhà Henrouille. Ngày trước tôi đã qua lại đấy luôn...
Vậy mà đêm hôm ấy, đến đúng trước cửa nhà họ, tôi vẫn đứng đó suy nghĩ chứ không tiến bước...
Tôi nghĩ bụng, bây giờ chỉ có một mình mụ con dâu ấy ở trong ngôi nhà này... Họ chết cả rồi, tất cả... Chắc hẳn mụ phải biết, hoặc ít ra thì cũng đã nửa tin nửa ngờ về cung cách kết liễu bà cụ ở dưới Toulouse như thế nào rồi... Mụ đã phản ứng ra sao?
Cây đèn đường rọi vào cái mái lợp kính trắng xóa như phủ tuyết trên bậc thềm. Tôi dừng mãi ở góc phố chỉ để nhìn sang rất lâu. Tôi rất có thể bấm chuông và chắc chắn là mụ sẽ ra mở cửa cho tôi. Dù sao thì tôi với mụ cũng chẳng giận dỗi gì nhau. Chỗ tôi đứng đã bắt đầu giá lạnh...
Phố sá vẫn lồi lõm sũng nước như hồi trước. Người ta đã hứa sửa chữa nhưng có làm gì đâu... Chẳng còn ai qua lại.
Chẳng phải vì tôi sợ gì mụ ta, mụ con dâu nhà Henrouille ấy. Chỉ vì bất thần tôi không muốn gặp mụ nữa. Tôi đã lầm khi định đến đây tìm mụ. Bây giờ, trước cửa nhà mụ, tôi mới đột nhiên khám phá ra rằng mụ chẳng còn gì để cho tôi biết nữa... Chuyện trò với mụ bây giờ chỉ thêm phiền. Giữa mụ với tôi bây giờ là thế đó.
Lúc này, trong đêm tối, tôi đã đi xa hơn mụ, xa hơn cả bà cụ Henrouille đã chết... Không còn cùng với nhau nữa... Đã chia tay hẳn đi rồi... Không chỉ vì cái chết mà ngay trong cái sống... Số phận đã run rủi thế rồi... Ai biết phận nấy! tôi tự nhủ... Và tôi bỏ đi, quay lại Vigny.
Mụ con dâu nhà Henrouille không đủ kiến thức để đi theo tôi lúc này... Tính cách thì mụ có đấy... Nhưng kiến thức thì không! Vấn đề là thế. Không kiến thức! Mà kiến thức là mấu chốt. Dù độc ác và ương ngạnh, mụ cũng không còn có thể hiểu được tôi, hiểu được những gì xẩy ra xung quanh chúng tôi... Tính cách không đủ được đâu... Phải có cả tấm lòng và hiểu biết thì mới đi xa hơn được người khác... Qua phố Sazillons, tôi quay về phía sông Seine, rồi qua hẻm Vassou. Thế là giải quyết xong nỗi phiền muộn! Nhẹ cả người! Hài lòng, vì tôi đã hiểu ra chẳng nên mất công gặp mụ con dâu bà Henrouille làm gì, thế là tôi đã bỏ rơi được mụ tàn ác ấy trên đường!... Được đấy chứ! Chúng tôi đã từng ăn ý với nhau theo cách của mình... Trước đây tôi cũng đã từng hiểu mụ con dâu ấy là người thế nào... Trong thời gian khá lâu... Nhưng bây giờ thì, đối với tôi, mụ quá thấp kém, không còn thấp hơn được nữa... Mụ không có kiến thức mà cũng không có sức lực thì làm sao theo kịp được tôi. Mụ không còn đi lên được, mà chỉ đi xuống. Nhưng cũng không còn xuống nổi đến ngay chỗ tôi đang đứng đây... Vì quá nhiều bóng tối phủ quanh tôi, mụ làm sao thấy được.
Khi ngang qua ngôi nhà chị gác cổng cô thằng Bébert, tôi đã định vào, chỉ để xem bây giờ những ai ở ngôi nhà này, đó là nơi tôi đã từng chữa chạy cho thằng Bébert và cũng là nơi nó đã chết. Có thể vẫn còn tấm ảnh học trò của nó treo trên đầu giường... Nhưng đã quá khuya để mà đánh thức mọi người. Tôi đi qua thật lẹ để không ai nhận ra mình.
Xa hơn một chút, ở ngoại ô Tự do, tôi lại thấy cửa hàng đồ cũ của Bézin vẫn còn sáng đèn... Tôi không ngờ lão để đèn khuya đến thế... Nhưng cũng chỉ là một ngọn đèn lửa ga ở giữa gian hàng. Lão Bézin này biết khối ngóc ngách, khối tin tức trong khu phố, vì hay la cà các quán rượu, từ Chợ Rận cho đến Cửa Maillot.
Nếu còn thức, hẳn là lão sẽ kể cho tôi nghe lắm chuyện. Tôi liền gõ cửa nhưng chẳng ai thưa. Tôi biết lão ngủ tận phía trong cửa hàng, tít chỗ phòng ăn... Đã có lần, căn phòng tối thui, lão gục đầu xuống bàn, gối lên hai tay, ngay cạnh bữa ăn tối đã nguội tanh nguội ngắt, với đĩa đậu còn chờ lão. Lão mới đi về, bắt đầu ăn thì mệt quá ngủ thiếp đi. Lão ngáy rất khỏe. Cũng đã nốc nhiều rượu nữa. Tôi còn nhớ rõ hôm ấy là một ngày thứ năm, đúng vào phiên chợ hoa cà...
Tôi luôn luôn thấy lão Bézin là con người dễ chịu, chứ không đến nỗi ti tiện như kẻ khác. Không có gì phải nói. Rất hay chiều lòng người khác, không phải người khó khăn. Tôi thấy không nên vì tò mò muốn biết mấy cái chuyện vặt mà đánh thức lão ta dậy...
Tôi liền quay trở ra sau khi đã đóng chốt ga.
Trong cái nghề buôn ấy, chắc lão phải vất vả để bảo vệ lấy mình. Nhưng ít ra thì lão cũng không đến nỗi mất ngủ.
Dù sao thì trên đường quay về Vigny, tôi cũng thấy buồn buồn khi nghĩ đến tất cả những con người ấy, những ngôi nhà ấy, những thứ đồ vật bẩn thỉu và tẻ nhạt ấy không nói được với tôi điều gì, đi thẳng vào lòng tôi như xưa, và mặc dầu tôi là kẻ tinh ranh, thì cũng không còn đủ sức để tiếp tục đi xa hơn nữa, và đi một mình giữa đêm khuya.