Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối

Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12

❊ ❊ ❊

Làm công ở cái Công ty Pordurière Tiểu Congo này, cùng thời với tôi, như đã kể ở trên, có số lớn dân da đen và những chú nhóc da trắng giống tôi, hì hà hì hụi trong các kho hàng hay trên các nông trường. Đám người bản xứ lao động dưới dùi cui và họ tuân theo cái đó. Còn đám da trắng nhờ được tu dưỡng khoản giáo dục công dân nên tự mình hành động.

Cái dùi cui dẫu sao cũng còn làm cho người sử dụng phải mệt mỏi, chứ nhồi vào đầu những thằng da trắng cái hy vọng được trở thành kẻ quyền thế và giầu có thì chẳng tốn kém gì, tuyệt đối chẳng phải tốn kém. Họ chẳng phải đến với chúng tôi để ngợi ca xứ Ai Cập cổ đại hay những tên bạo chúa Tạc-ta! Không cần đến những nhà tài tử cổ sơ ấy để những tên con buôn khờ khạo tầm thường nhưng tự phụ trong cái nghệ thuật cao vời này làm cho con vật đứng thẳng hai chân có được cái nỗ lực đẹp đẽ nhất trong công việc của mình. Những con người nguyên thủy ấy đâu đã biết gọi con vật đứng thẳng kia là “Ngài” nô lệ và thỉnh thoảng đưa nó đi bầu cử, cho nó tờ báo, nhất là chưa biết đưa nó ra chiến trường để cho nó quên đi mọi sự đam mê. Một tín đồ đạo Thiên chúa hai mươi thế kỷ, theo như tôi biết đôi điều, không còn nhớ được cái lúc một trung đoàn hành quân trước mặt hắn ta [76*]. Cái đó gây cho hắn nhiều ý kiến.

Cho nên, tôi quyết định từ nay phải giữ mình cho kỹ, phải học cách giữ mồm cẩn thận, phải giấu kín nỗi khát khao tếch khỏi đây, cuối cùng là phải ra sức kiếm chác bằng mọi cách trong khi làm việc tại Công ty Pordurère. Không để mất một giây một phút nào.

Dọc theo các kho tàng, sát bờ sông lầy bùn, từng đàn cá sấu xảo quyệt, thường trú rình mồi. Chúng là loài sắt thép nên chúng thỏa thuê cuồng nhiệt trong cái nóng này. Hình như cả những người da đen cũng thế.

Người ta tự hỏi không biết làm thế nào giữa buổi trưa nóng như rang mà cái mớ hỗn độn những người da đen ấy lại có thể vừa lao động quần quật suốt dọc bến sông vừa phấn hứng hò reo om sòm đến thế.

Trước ngày vào rừng nhận việc, tôi phải giữ chân đếm từng bao hàng chuyển lên chuyển xuống tầu. Vấn đề đặt ra là phải tập dần cho quen với hơi nóng ngột ngạt trong kho trung tâm của Công ty cùng với các tay thương lái, giữa hai cái bàn cân to tướng, kẹt vào giữa cái mùi mồ hôi nồng nặc của những người da đen rách rưới, mình đầy mụn nhọt nhưng miệng vẫn hát hò. Mỗi người kéo theo một đám bụi mù, bay lên theo nhịp bước của họ. Tiếng dùi cui nện đôm đốp xuống những tấm lưng trần tuyệt diệu ấy không gây một sự phản kháng hay một tiếng than vãn nào. Một sự thụ động của những kẻ ngơ ngác. Nỗi đau phải chịu đựng cũng đơn giản như không khí hừng hực của cái lò nung bụi bậm này.

Lão Giám đốc thỉnh thoảng lại đảo tới, luôn luôn hung hăng, để đảm bảo rằng tôi có tiến bộ thật sự trong kỹ thuật cân đong đo đếm man trá.

Lão khua dùi cui, rẽ đám sóng người bản xứ, mở lối đến thẳng mấy cái cân. Một buổi sáng lão cao hứng trò chuyện với tôi:

- Bardamu này, những đứa mọi đen quanh ta đấy, cậu thấy chứ?.... Này, thế mà thấm thoát đã ba mươi năm, lúc tớ mới đến Tiểu Togo [77*]. Khi ấy những đứa khốn kiếp này chỉ còn sống bằng săn bắn, bắt cá và tàn sát nhau giữa các bộ lạc... Ban đầu tớ chỉ là một nhân viên ghi hóa đơn, mắt tớ trông thấy, mỗi lần chiến thắng về làng, chúng nó vác hàng trăm sọt thịt người còn nhễu máu me để cùng nhau ních đầy bụng!.... Cậu hiểu chứ, Bardamu?.... Còn nhễu máu những kẻ địch! Có thể coi đó là một bữa ăn đêm giao thừa!... Bây giờ thì chẳng còn những chiến thắng nữa! Chúng ta đã có mặt! Không còn các bộ lạc! Không còn õng ẹo! Không còn phô phang! Chỉ còn nhân công và lạc hột! Vào việc! Không còn săn bắn! Không còn súng ống! Chỉ còn lạc và cao su!... Để nộp thuế! Nộp thuế để có nhiều cao su và lạc đem đến cho chúng ta! Đó là cuộc sống mà, Bardamu! Lạc! Lạc và cao su!... Mà này, vừa đúng lúc tướng Tombat đang đến kia kìa.

Người đang đi về phía chúng tôi là một ông già lụ khụ nặng nề dưới cái khối nóng rẫy ánh mặt trời.

Ông tướng ấy chẳng còn gì là quân nhân nhưng cũng chưa hẳn là một dân thường. Người tin cẩn của “Pordurière”, ông ta làm cầu nối giữa ban Quản trị và ban Thương vụ. Một cầu nối cần thiết, mặc dầu cả hai ban này luôn luôn hục hặc và ở vào trạng thái chống đối nhau thường trực. Tướng Tombat xử lý rất tài. Trong khá nhiều vụ. Vừa rồi ông ta lại giải quyết thêm một số vụ mua bán bẩn thỉu tài sản của dịch mà ngay cấp trên cũng cho là khó xong.

Hồi đầu chiến tranh, tướng Tombat bị xẻ một miếng tai, đủ để ông được nghỉ ngơi trong danh dự, sau trận Charleroi. Ông liền dành ngay sự nghỉ ngơi ấy vào việc phục vụ “nước Pháp lớn hơn”. Và mặc đầu trận Verdun [78*] đã qua lâu rồi mà ông vẫn còn canh cánh trong lòng. Ông lục lọi tin tức “vô tuyến” trong lòng bàn tay. “Những chú lính của ta, chúng nó nhất định sẽ cầm giữ được! Nhất định giữ được!” Trong kho hàng, trời nóng hừng hực, mà trận mạc thì ở tít tận bên Pháp, nên người ta cũng bỏ qua để tướng Tombat tha hồ mà đoán định tình hình. Nhưng rồi, cuối cùng, vì lịch sự, mọi người, lão giám đốc và bọn chúng tôi, cũng đồng thanh phụ họa: “Họ đáng phục thật!”. Còn ông già Tombat, tạm biệt chúng tôi, bên tai văng vẳng những lời ngợi ca đó.

Sau đó chốc lát, lão giám đốc hùng hổ rẽ đám người mình trần chen chúc, mở một con đường khác và đến lượt lão cũng biến vào cát bụi mịt mù.

Cặp mắt rực lửa như hai hòn than, sự hối hả mong chiếm lĩnh cái Công ty này đang bào mòn con người ấy. Lão làm cho tôi sờ sợ. Giáp mặt một mình lão là tôi rất lúng túng. Tôi chưa hề nghĩ rằng trên đời này lại có một bộ xương người chịu đựng nổi sự căng thẳng tột độ của lòng thèm khát đến thế. Hầu như lão chưa bao giờ to tiếng với chúng tôi. Chỉ toàn những lời đầy ẩn ý. Có thể nói rằng lão ta sống và nghĩ một cách si mê toàn những âm mưu, những dò xét, những phản trắc. Có thể cầm chắc rằng một mình lão ăn cắp, lừa lọc, biển thủ còn nhiều hơn tất cả những nhân viên khác hợp lại, mà họ cũng chẳng phải là những đồ vô tích sự đâu nhé. Tôi chẳng có khó khăn gì để mà tin được những cái đó.

Trong thời gian tập sự ở Fort-Gono, tôi cũng có thú tiêu dao trong cái thứ thành phố này, nhưng cũng chỉ có một nơi tôi thích đến, đó là Nhà thương.

Ngay sau khi đến một nơi nào đó, người ta phát hiện liền những tham vọng của anh. Nhưng với tôi thì rõ nhất là cái thiên hướng bệnh tật, chỉ có bệnh tật thôi. Mỗi người mỗi vẻ mà. Tôi dạo quanh những căn nhà nhà thương đầy hứa hẹn, nhưng ảo não, ẩn dật, né tránh, và tôi rời những căn nhà ấy với lòng lưu luyến, lưu luyến những căn nhà ấy và cả cái mùi thuốc sát trùng quanh quất đó. Vây quanh cái khu an dưỡng này là những bãi cỏ xanh rì, từng đàn chim non ríu rít bay nhảy, những con thằn lằn e ngại và mình đầy mầu sắc. Quả là một loại “thiên đường dưới hạ giới”.

Còn với đám người da đen, cũng mau quen với họ thôi, quen cái kiểu chậm rãi hớn hở của họ, những cử chỉ rất kéo dài, những cái bụng tràn trề của các mụ vợ. Tự bản thân người da đen đã sặc lên cái khốn khổ, cái hư ảo, cái nhẫn nhục; tóm lại hoàn toàn giống như những người nghèo ở nước Pháp ta nhưng tại lắm con hơn và ít áo quần, ít rượu vang đỏ hơn.

Sau khi tôi đã hít thở ở nhà thương, đánh hơi thật sâu như thế, tôi đi theo đám đông bản xứ, đứng yên một lúc trước một thứ chùa chiền do một tay bán hàng ăn dựng lên gần Fort để làm vui đám kiều dân với những trò khiêu dâm.

Những tay da trắng giầu có ở Fort-Gono thường có mặt ở đây vào lúc đêm hôm, vùi đầu vào các canh bạc, đèn đóm sáng trưng, vừa ngáp vừa ợ thỏa thích. Bỏ ra hai trăm quan là có thể ngủ luôn với mụ chủ xinh đẹp. Mấy cái quần của họ thì thật tức cười, gây cho họ cái khó chịu kỳ lạ cứ phải luôn tay luồn vào mà gãi, thành thử mấy cái dải đeo quần cứ tuột lên tuột xuống.

Đêm đến, tất cả đàn ông đàn bà già trẻ lớn bé rời khỏi những túp lều ở cái thị xã bản xứ kéo nhau đến tụ tập ở trước cửa ngôi chùa, xem và nghe không biết chán đám da trắng nhảy nhót quanh chiếc đàn piano máy, dây gỉ sét, chơi một cách khó nhọc những điệu van-xơ sai toét. Thế mà nhạc nổi lên là mụ chủ làm điệu quýnh cà kê như muốn được ai đó mời nhảy.

Sau khá nhiều ngày tìm cách làm quen, tôi cũng đã trò chuyện được với mụ đôi câu chớp nhoáng. Mụ tâm sự rằng kinh nguyệt bị rút xuống còn không đầy ba tuần lễ. Tác động của vùng Xích đạo mà. Đám khách nhậu lại còn làm cho mụ thêm kiệt sức. Chẳng những họ thường làm tình mà, hình như để bù lại cái giá rượu ở Chùa này đắt hơn, họ còn gỡ gạc bằng những cú véo mông chết điếng trước khi cuốn xéo. Chính những trò ấy mới làm cho mụ mệt mỏi hơn cả.

Mụ con buôn này thông thạo đủ mọi chuyện của đám kiều dân ở đây, kể cả những mối tình tuyệt vọng giữa những tay sĩ quan bị sốt rét giày vò với những mụ vợ viên chức hiếm hoi, cũng đang tan chảy vì chuyện thấy tháng kéo dây không dứt, ngao ngán duỗi dài trên những chiếc ghế bành ngoài hiên.

Những con đường, những văn phòng, những cửa hiệu ở Fort-Gono tràn ngập những ham muốn què quặt. Hình như nỗi ảm ảnh chính yếu của những kẻ cuồng điên này là làm tất cả những gì đã quen làm ở châu Âu, thỏa mãn, giả dối bằng mọi giá, bất chấp cái khí hậu tồi tệ và sự uể oải ngày càng tăng, không chịu nổi.

Cỏ cây rậm rạp trong vườn không làm sao giữ nổi, thả sức hung hãn mọc lấn lên các bờ rào, đâm chồi nẩy lộc sum sê với những bụi rau diếp mọc bừa bãi xung quanh mỗi ngôi nhà tôi tàn như cái lòng trắng trứng luộc teo tóp, trong đó anh chàng người Âu vàng bủng đang hoàn thành quá trình thối rữa của mình. Suốt dọc đường phố Fachoda, náo nhiệt nhất, nhộn nhịp nhất của Fort-Gono, có bao nhiêu trò hổ lốn là có bấy nhiêu viên chức.

Mỗi tối trở về chỗ trú chân, có lẽ sẽ chẳng bao giờ xây dựng xong, tôi đã được cậu bồi tai quái dựng sẵn cho cái giường khẳng khiu như bộ xương người bé nhỏ. Cu cậu này đã nhiều lần định gài tôi vào bẫy. Cậu ta lả lướt như một con mèo, ra sức gạ gẫm tôi. Nhưng tôi đang có những người khác lui tới và những mối bận tâm gay cấn hơn, nhất là cái dự định ẩn náu trong nhà thương một thời gian nữa, đó là sự ngưng chiến duy nhất hợp với khả năng của tôi trong cơn quay cuồng nóng rẫy này.

Trong hòa bình cũng như trong chiến tranh, tôi chẳng hề sẵn sàng cho những chuyện phù phiếm. Ngay cả những chuyện mời mọc của tay đầu bếp của lão chủ, rất ư chân thật và cực kỳ tục tĩu, dường như cũng nhạt nhẽo đối với tôi.

Tôi đi thăm một lần cuối các chú nhỏ đồng sự ở công ty Pordurière để cố tìm hiểu về tay nhân viên không trung thành kia, người mà tôi được lệnh bằng mọi giá thế chân hắn ở trong rừng. Nhưng cũng chỉ rặt chuyện tán gẫu vô bổ.

Quán cà phê Faidherbe, ở đầu phố Fachoda cứ vào khoảng chiều hôm là ồn ĩ đủ thứ chuyện xoi mói, vu cáo, nói xấu nhau, cũng chẳng đem lại cho tôi được điều gì ích lợi. Chỉ toàn những ấn tượng, ở cái nơi tranh tối tranh sáng loáng thoáng mấy chiếc đèn xếp nhiều mầu này thì ấn tượng có mà đầy các sọt rác. Gió thôi xào xạc những tàu lá cọ to tướng, thổi dạt luôn cả những đàn muỗi đông đặc xuống các chén bát. Ngài Toàn quyền, giọng nói rất hào hứng, đúng điệu một người giữ chức vụ cao. Những lời lẽ thô lỗ tuôn ra không dứt của ngài tạo nên cái nền cho cuộc đàm thoại khai vị mà cái lá gan thuộc địa, muốn ói mửa lên được, cũng dịu bớt trước bữa ăn tối.

Tất cả những xe ô tô Fort-Gono, cộng lại chừng chục chiếc, vào lúc này cứ chạy qua chạy lại phía trước thềm. Hình như mấy cái ô tô ấy chưa bao giờ đi xa hơn. Quảng trường Faidherbe có cái quang cảnh mạnh mẽ lắm, trang trí tỉ mỉ, lại thêm sự thừa thãi về sinh vật cảnh cũng như về ngôn ngữ theo kiểu quận huyện miền Nam [79*] đang cơn động cỡn. Mười cái ô tô ấy chỉ rời quảng trường Faidherbe để rồi sẽ quay trở lại năm phút sau, để một lần nữa làm cuộc hành trình như cũ với một lô những người Âu thiếu máu vàng vọt, bọc trong những tấm vải xám nâu, những sinh vật mảnh dẻ và dễ vỡ như những cây kem dưới trời nắng nóng.

Cứ thế, tuần này sang tuần khác và năm này sang năm khác, những tay thực dân ấy, anh nọ qua mặt anh kia, cho đến lúc không còn muốn nhìn nhau cũng như đã chán ngấy cả cái việc ghen ghét nhau. Một vài tay sĩ quan đưa gia đình đi dạo, chăm chú vào những cái chào của đám quân sự và dân sự, mụ vợ thì vướng víu vì cái khố vệ sinh đặc biệt, còn mấy đứa nhỏ cũng ậm ạch như những con dòi lớn châu Âu bải hoải vì cái nóng và ỉa chảy thường trực.

Để chỉ huy ở đây, không phải cứ đội mũ kê-pi vào là xong, mà phải có quân đội. Với khí hậu Fort-Gono, các cán bộ người Âu còn tan chảy tệ hơn cả bơ. Một tiểu đoàn ở đây trở thành một cục đường bỏ vào tách cà phê, càng nhìn lại càng thấy nó tan biến. Phần lớn cái đội quân ấy luôn luôn phải nằm nhà thương vì ủ bệnh sốt rét, rận chấy bám khắp người, nách bẹn, lông tóc chỗ nào cũng có. Từng tiểu đội một nằm ườn ra giữa đống thuốc lá với ruồi muỗi, thủ dâm trên những tấm mền mốc thếch, lừa lọc móc túi nhau, kích thích, chăm chút chu đáo những cơn sốt rét. Những cái đó làm cho các gã trai, đám người hổ thẹn này, càng khốn khổ trong cái tranh tối tranh sáng êm dịu sau những tấm cửa chớp màu xanh, những tay tái đăng sớm bị ruồng rẫy, sống lẫn lộn với đám mậu dịch viên cấp dưới - vì nhà thương này chung cho cả quân sự và dân sự - bọn họ đều tránh né rừng xanh và né tránh các ông chủ vây dồn họ.

Trong trạng thái mê man của những giấc ngủ trưa kéo dài vì sốt rét, trời lại nóng bức đến mức ruồi muỗi cũng không buồn vo ve. Mấy cuốn truyện cáu ghét toòng teng trên những cánh tay mất máu và đầy lông lá ruỗi thẳng đuỗn hai bên mép giường; cuốn nào cũng xộc xệch và mất đến nửa số trang vì các bệnh nhân kiết lỵ không bao giờ được cung cấp đủ giấy cho họ dùng, lại còn vì các bà xơ khó tính ở đây đã kiếm duyệt theo cách của các bà những cuốn sách không tôn trọng ý Chúa. Những con chấy con rận của mấy gã bệnh binh ấy không ngớt quấy rầy các bà. Để tiện cho việc gãi đúng chỗ ngứa, các bà tốc cao váy lên sau những tấm bình phong, nơi mà anh chàng mới chết buổi sớm chưa lạnh hẳn mà anh ta vẫn còn nóng, cũng như thế.

Chẳng nơi nào sầu thảm hơn nhà thương, nhưng ở xứ thuộc địa thì đấy lại là nơi duy nhất có thể giúp người ta cảm thấy đôi chút quên đời, né tránh được những người ở bên ngoài, những ông sếp. Đó là dịp nghỉ ngơi của những thân phận nô lệ, tóm lại đó là cái cốt tử, là hạnh phúc độc nhất trong tầm tay tôi.

Tôi dò hỏi các điều kiện nhập viện, những thói quen của các thầy thuốc, những sở thích của họ. Còn chuyện vào rừng thì tôi thấy nó vừa đáng thất vọng vừa đáng phẫn nộ. Tôi đã tự nhủ mình phải làm sao mắc lấy mọi thứ bệnh sốt rét càng sớm càng tốt, càng nặng càng tốt, để lúc trở ra Fort-Gono, mình chỉ còn là một thằng ốm đau, gầy đét, đáng ghét, đến mức họ chẳng thèm giữ mình lại mà còn muốn tống khứ mình về nước. Cái gì chứ những thủ thuật để trở thành một thằng ốm đau thì tôi có thừa, tôi lại còn học được thêm nhiều thuật mới, đặc biệt, để thích ứng với các xứ thuộc địa.

Tôi sẵn sàng vượt qua trăm nghìn gian khó, bởi vì các tay giám đốc công ty Pordurière cũng như thủ trưởng tiểu đoàn có tay nào buông lơị việc vây dồn những con mồi gầy guộc của họ tái tê đờ đẫn giữa những chiếc giường khai khắm.

Họ sẽ thấy tôi quyết tâm làm mọi cái cần làm để chết gí ở nơi này. Hơn nữa, nói chung, thì cũng chỉ nằm nhà thương ít lâu, ít ra thì cũng hoàn thành ởđó cái sự nghiệp thuộc địa chỉ một lần thôi. Trong số những thằng sốt rét, thằng nào khôn khéo, ranh ma, gai ngạnh nhất đôi khi lại lọt được xuống một con tầu để về mẫu quốc. Đó là một phép lạ êm đềm. Phần lớn các bệnh nhân nằm nhà thương thú nhận đã tìm hết mọi phép nhưng cũng chịu thua các luật lệ ở đây, đành trở về rừng để tiêu đi cái trọng lượng cuối cùng của mình. Nếu như thuốc kí ninh cũng bỏ mặc họ cho dòi bọ chừng nào họ còn trong chế độ nhà thương, thì công việc của lão thầy tu sẽ đơn giản là vuốt mắt họ trong vòng mười tám tiếng, và bốn tay người Xê-nê-gan phục vụ sẽ bọc gói những cái thân tàn hết máu ấy đưa đến bãi tha ma bọc đất sét đỏ gần nhà thờ Fort-Gono khá là nóng, dưới những mái tôn lượn sóng, không ai dám vào đến hai lần liền nhau, vì nóng hơn cả vùng Xích đạo [80*]. Vào nhà thờ là chỉ còn nước đứng thở hổn hển như một con chó.

Rõ ràng thân phận của những con người ấy là cật lực ra mà làm đầy đủ những gì người ta đòi hỏi ở họ: là con bướm trong tuổi thanh xuân và con dòi khi kết thúc.

Tôi vẫn cố thu lượm chỗ này chỗ nọ một vài chi tiết, một vài chỉ dẫn để có một khái niệm. Điều mà lão giám đốc mô tả về Bikomimbo, dẫu sao tôi thấy có vẻ khó tin. Tóm lại thì đó là một chi nhánh thương mại thử nghiệm của công ty, một toan tính luồn sâu vào nội địa, cách bờ biển ít ra cũng mười ngày đường, biệt lập giữa đám dân bản xứ, giữa rừng rậm của họ, mà người ta ít giới thiệu với tôi như một kho dự trữ mênh mông nhung nhúc những súc vật và bệnh tật.

Tôi tự hỏi không biết có phải chỉ đơn giản là chuyện ganh tị với số phận của tôi, mà những cậu bạn nhóc con ở công ty Pordurière chuyển sang cái thế nước đôi giữa sự rã rời chán ngán với sự hung hăng gây gổ. Cái ngu dại của các cậu ta (mà các cậu cũng chỉ có thể) tùy thuộc vào chất lượng của rượu vừa nốc vào miệng, vào những bức thư vừa đến tay, vào sự mất đi khối lượng lớn hay nhỏ hơn những tia hy vọng trong ngày hôm đó. Theo quy tắc chung, chúng càng héo hắt đi bao nhiêu thì chúng càng vênh váo lên bấy nhiêu. Là những bóng ma (như Ortolan trong chiến tranh) chúng có thể có gan làm tất cả mọi sự.

Bữa rượu khai vị của chúng tôi kéo dài suốt ba tiếng đồng hồ. Luôn luôn là chuyện về ngài Toàn quyền, trụ cột của mọi cuộc trò chuyện, rồi đến các vụ ăn cắp vật dụng thành công và không thành công, cuối cùng đến chuyện tình dục: ba màu sắc trên lá cờ thuộc địa. Các viên chức có mặt tố cáo không úp mở đám quân sự đằm mình trong hối lộ và lộng quyền, nhưng đám quân sự cũng trả miếng đích đáng. Đám thương nhân, về phía họ, coi tất cả các quan chức đầy bổng lộc đó đều là những tên bịp bợm, là bọn kẻ cướp. Còn ngài Toàn quyền thì suốt mười năm nay, sáng nào cũng có tiếng xì xào về việc ngài sắp bị triệu hồi, tuy nhiên bức điện lý thú về sự thất sủng ấy cứ mãi chẳng đến cho, bất chấp mỗi tuần hai bức thư nặc danh là ít được gửi đến địa chỉ của ngài Bộ trưởng, vạch rất chính xác cơ man nào là những việc ghê tởm của tên bạo chúa địa phương đó.

Dân da đen có cái may được có lớp da giống như vỏ củ hành, còn dân da trắng thì tự đầu độc, khép mình trong cái áo sơ mi vải tổ ong đẫm mồ hôi chua loét. Khốn khổ cho ai lại gần anh ta. Tôi đã được luyện cho quen từ hồi còn ở trên tầu Đô đốc Bragueton.

Chỉ trong vòng vài ngày tôi đã được biết chuyện về lão giám đốc của tôi! Về cái quá khứ của lão chứa đầy những trò hèn hạ bất lương còn hơn cả một nhà tù quân cảng. Người ta phát hiện ra đủ cả trong cái quá khứ của lão và, theo tôi, có cả những sai sót kỳ diệu về pháp lý. Quả là cái đầu lão nó đã chống lại lão, không còn chối cãi được, một bộ mặt sát nhân dễ sợ, hay đúng hơn, để khỏi phải buộc tội ai, thì đó là bộ mặt một người không thận trọng, quá mải miết vội vã làm giàu, thì cũng thế cả thôi.

Qua lại chốn này vào giờ nghỉ trưa, có thể thấy ngả ngốn chỗ này chỗ kia, dưới bóng râm những ngôi nhà trên đường phố Faidherbe, mấy người đàn bà da trắng, vợ các tay sĩ quan hay quan chức thực dân, mà khí hậu đã khiến họ phải hở hang hơn cả bọn đàn ông, những giọng nói nhỏ nhẹ rụt rè duyên dáng, những nụ cười rộng mở khoan dung, trát phấn lên tất cả cái xanh tái của họ như những kẻ hấp hối mãn nguyện. Những nữ trưởng giả di cư ấy tỏ ra kém nhiệt tình nhưng tư thế chững chạc đoan trang, mà mụ chủ quán Chùa chỉ còn biết dựa vào mình thôi. Về phía Công ty Pordurière, họ ngốn khá nhiều những loại tiểu nhân viên như tôi, mỗi mùa có đến chục anh chàng tiện dân đi toi trong các chi nhánh ở trong rừng, cạnh những đầm lầy. Đó là những kẻ đi tiên phong.

Mỗi buổi sáng, Quân đội và Thương vụ đến khóc than tới tận Văn phòng nhà thương về đội ngũ của mình. Chẳng ngày nào là vắng mặt một tay quan ba đến đe dọa và réo trời đổ sấm sét xuống lão quản lý nhà thương, đòi lão phải mau mau trả về cho đơn vị ba tay đội sốt rét ngã nước và hai tay cai tim la, đó là những cán bộ cần gấp để hoàn chỉnh biên chế đại đội. Khi người ta trả lời rằng những thằng lười nhác trốn nghĩa vụ ấy của đơn vị đã chết rồi, thì tay quan ba mới để cho ban quản trị nhà thương được yên, và tay ấy quay về uống nhiều hơn một chút ở quán Chùa.

Chẳng có bao nhiêu thì giờ mà nhìn xem những con người, những ngày tháng và những sự vật tan biến vào cái màu xanh này, cái khí hậu này, cái nóng và những đàn muỗi. Tất cả đều biến vào đấy, thật là kinh tởm, từng mẩu từng câu, từng bộ phận, từng sự hối tiếc, từng huyết cầu, tất cả mất biến vào ánh mặt trời, tan biến vào dòng thác ánh sáng và màu sắc, kéo theo cả khẩu vị và thời gian, tất cả biến vào đấy. Chỉ còn có nỗi kinh hoàng lấp lánh trong không khí.

Cuối cùng thì chiếc tầu hàng nhỏ mà tôi sẽ được chở theo dọc bờ biển, đến tận gần trụ sở của tôi, đã thả neo, từ trong Fort-Gono cũng trông thấy. Tên con tầu là Papaoutah. Vỏ tầu nhỏ, rất phẳng, chủ yếu dùng vào việc đi lại những cửa sông. Tầu Papaouiah chạy bằng củi. Là người da trắng độc nhất trên tầu, tôi được dành một chỗ ở giữa nhà bếp và khu vệ sinh. Tầu chạy chậm rì rì trên mặt biển, tôi nghĩ trước hết là nó thận trọng để ra khỏi vụng. Nhưng rồi cũng chẳng thấy đi nhanh hơn được chút nào. Con tầu Papaoutah sức yếu không tưởng tượng được. Chúng tôi đi như thế, trông rõ bờ biển, một dải dài vô tận mầu xám um tùm những lùm cây nho nhỏ mọc trong cái nóng bốc hơi trên sóng nước lăn tăn. Một cuộc dạo chơi mới hay làm sao! Papaoutah rẽ nước một cách cực nhọc như bản thân nó đổ mồ hôi. Nó lần lần gỡ từng đợn sóng nhỏ, tỉ mẩn như người băng bó vết thương. Tay hoa tiêu, tôi trông từ xa, hình như là một tay da đen lai trắng; tôi nói “hình như” là bởi tôi không hề thấy tay này hào hứng trong cái việc lẽ ra phải làm, là lên cầu tầu để hỏi han tìm hiểu tôi thế nào. Tôi cứ loanh quanh với đám người da đen, những hành khách duy nhất trên tầu, núp bóng râm của hành lang chừng nào còn chói nắng trên boong, cho đến tận khoảng năm giờ chiều. Để tránh cho khỏi bị ánh nắng thông qua hai con mắt thiêu đốt cái đầu, cứ phải chớp mắt liên hồi như con chuột cống. Sau năm giờ chiều thì tha hồ mà ngắm nhìn ra khắp chân trời, ngắm nhìn cái mặt tốt của đời. Trong bờ, những lùm cây mọc lan ra sát mặt nước, thành một dải diềm màn tua rua xam xám như thể miếng lót nách áo đã rách bung, chẳng cho tôi thấy cái gì đáng giá cả. Thở hít không khí ở đây rất khó chịu, ban đêm cũng thế, nó cứ nồng nồng tanh tanh khó ngửi. Tất cả cái nhạt nhẽo vô vị ấy xộc vào tâm can với cái mùi máy tầu thêm vào đó và ban ngày thì phía bên này các ngọn sóng rực đỏ mầu son, phía bên kia sóng lại xanh lè. Thật là tồi tệ hơn cả trên tầu Đô đốc Bragueton, tất nhiên phải không kể đến những thằng sát nhân mặc áo lính trên ấy.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng sắp tới được đến cảng nơi tôi đến. Người ta nhắc cho tôi nhớ cái tên: “Topo”. Ho hắng, khạc nhổ, run rẩy trong suốt ba lần cái thời gian của bốn bữa ăn toàn đồ hộp, trên những vũng nước đục ngầu như nước rửa bát, tầu Papaoutah, kết cục cũng sắp vào bờ.

Ba túp lều to tướng lợp mái rạ nổi lên giữa cái bãi rậm rạp. Thoạt nhìn từ xa, cảnh đó đã ít nhiều hấp dẫn. Cửa con sông lớn lắm cát, con sông “của tôi”, như người ta giải thích, tôi sẽ phải đi đò từ đó ngược lên đến chính giữa khu rừng “của tôi”. Như đã thỏa thuận, tôi sẽ chỉ phải nán lại trong đồn Topo này vài ngày để có đủ thời gian mà định đoạt lấy những mong muốn cao nhất của mình đối với cái thuộc địa này.

Chúng tôi hướng mũi tầu vào một bến đậu không lấy gì làm kiên cố, và con tầu Papaoutah với cái bụng to đùng, trước khi cặp bến, phải cất bánh lái của nó đi. Tôi nhớ rất rõ ràng cái bến đậu ấy bằng tre. Nó cũng có lịch sử hẳn hoi. Tôi được biết, mỗi tháng người ta phải thay hẳn một bến mới, vì ở đây có giống ốc biển rất tinh quái và nhanh nhậy, chúng kéo nhau hàng nghìn con đến bám vào các khúc tre mà gặm dần gặm mòn. Cho nên viên trung úy Grappa, chỉ huy đồn Topo và các vùng lân cận, phải gánh một trong những trọng trách tuyệt vọng là việc xây cất vô cùng tận cái bến tầu này. Tầu Papaoutah, mỗi tháng bất quá chỉ lui tới đây có một lần, nhưng những con ốc biển này thì không cần phải đến một tháng mới xơi hết cả cái bến tầu ấy!

Tôi vừa đến là trung úy Grappa nhận luôn các giấy tờ của tôi, kiểm tra xem thực hư thế nào, ghi chép vào quyển sổ còn trắng tinh, xong rồi mời tôi nhấm nháp chút rượu khai vị. Anh ta tâm sự, từ hơn hai năm nay Topo mới lại được đón một người khách. Vì chẳng ai có cơn cớ gì để mò đến đây cả. Dưới quyền trung úy Grappa có trung sĩ (đội) Alcide. Trong cái cảnh đìu hiu này mà họ cũng chẳng yêu thương được nhau. “Tớ cứ luôn luôn phải canh chừng thằng cha cấp dưới của tớ”, vừa gặp tôi, trung úy Grappa đã cho biết ngay như vậy, tay này tỏ ra ít nhiều muốn làm thân đây!

Ở cái chốn hoang vu này lẽ ra phải tưởng tượng đủ thứ sự kiện thật là huyễn hoặc khó tin, không phù hợp với môi trường, thì cậu trung sĩ Alcide lại đưa vào báo cáo chuẩn bị sẵn toàn những mục: “Không có gì mới lạ” và buộc Grappa ký ngay lập tức để kịp cho tầu Papaoutah đem về nộp quan Toàn quyền!

Giữa những đầm phá quanh vùng và trong rừng sâu còn đọng lại một vài bộ tộc mốc meo, tan tác, u mê vì cái bệnh ngủ tệ hại và cái nghèo khổ kinh niên; dẫu sao thì các bộ tộc này cũng phải đóng khoản thuế nho nhỏ và tất nhiên bằng dùi cui. Người ta cũng tuyển mộ trong số thanh niên của các bộ tộc vài cậu dân vệ để thay họ sử dụng vẫn cái dùi cui ấy. Quân số dân vệ lên đến một tá.

Tôi có thể nói về việc đó, tôi đã hiểu được họ khá kỹ. Trung úy Grappa trang bị cho các cu cậu số đỏ này theo cách của anh ta và nuôi họ đều đều bằng cơm gạo. Một khẩu súng trường cho mười hai cậu, đó là một biện pháp! và một lá cờ nhỏ cho tất cả mọi người. Không có giầy dép. Nhưng ở cái thế giới này, mọi cái đều tương đối và đều có so sánh, những cậu người nguyên quán được tuyển mộ đều coi Grappa đã làm tốt mọi việc. Ngày ngày có lắm người đến xin tình nguyện nhưng Grappa đều không nhận những kẻ hăng hái, những đứa con chán cảnh rừng xanh.

Săn bắn xung quanh làng chẳng ăn thua gì, ăn uống chẳng bằng một bà cụ cố ăn cả tuần, vì thiếu loài linh dương. Sáng ra, cứ khoảng bẩy giờ là các chú lính dân vệ của Alcide lại bắt đầu tập. Tôi nằm trong góc lều, do cậu ta nhường chỗ, nên cứ như người được ngồi lô mà xem các kỵ sĩ Ả rập biếu diễn. Chưa một quân đội nào trên thế giới lại có được những binh sĩ có ý chí tuyệt hảo như vậy. Theo hiệu lệnh của Alcide, họ lăn lê bò toài hàng tư, hàng tám rồi hàng mười hai trên bãi cát, những con người mông muội ấy tiêu hao sức lực ghê gớm trong lúc cứ tưởng tượng như trên người họ được trang bị đủ cả nào là ba lô, nào là giầy dép, lại cả lưỡi lê và ghê hơn nữa, họ còn làm bộ như đang sử dụng những thứ đó. Vừa thoát thai từ một thiên nhiên mãnh liệt và gần gũi, thật ra thì trên người họ chỉ nhõn có một cái giống như cái quần cộc bằng vải karki. Còn tất cả những cái khác chỉ là họ tưởng tượng ra và chỉ thế thôi. Theo lệnh chỉ huy không được cãi lại của Alcide, những chiến sĩ tài tình ấy đặt những chiếc ba lô tưởng tượng xuống đất, chạy hùng hục và phóng nắm đấm vào khoảng không nhằm vào những kẻ thù hão huyền. Giả bộ như cởi khuy, họ làm điệu cùng gác súng lại với nhau và lại theo lệnh mới say sưa lấy súng nhằm bắn. Cứ trông họ tản ra rồi chụm lại, tỉ mẩn trong những động tác đứt khúc điên dại như vậy mà chẳng ích lợi gì, ai cũng phải phát chán. Nhất là ở Topo cái nóng lại càng gay gắt vì cát bỏng thì chớ lại còn nằm giữa một bên là biển một bên là sông, ánh nắng đã từ trên rọi xuống lại từ dưới hắt lên, nóng nực ngột ngạt khủng khiếp, đặt đít xuống đâu cũng phải la làng, tưởng như mình bị người ta ấn xuống cái miếng gì vừa từ mặt trời rơi xuống.

Ngược lại, trong những điều kiện không sao chịu được như thế, vẫn không ngăn cản được Alcide gắt gỏng, thét lác. Tiếng la hét của cậu ta tới tấp trong cuộc tập luyện hư ảo ấy và vang lên tận các ngọn cây thông uy nghi trên bìa rừng nhiệt đới. Ở phía xa ấy liệu có giật nẩy lên vì nhưng tiếng hô “Nghiêm!” như sấm dậy của cậu ta.

Trong khi ấy trung úy Grappa chuẩn bị việc xử án của mình. Ta sẽ trở lại việc này sau. Trung úy cũng vẫn từ xa và dưới bóng râm trong lều của mình giám sát công việc xây cất vội vã cái bến tầu đáng nguyền rủa ấy. Cứ mỗi chuyến tầu Papaoutah đến là anh ta lại khấp khởi chờ đợi vừa lạc quan vừa hoài nghi về những đồ trang bị toàn bộ cho số phận của mình. Từ hai năm nay anh ta hoài công yêu cầu những trang bị toàn bộ. Là dân đảo Corse, Grappa cảm thấy bị sỉ nhục hơn ai hết những lúc đứng nhìn các dân vệ của mình trần như nhộng.

Trong lều của chúng ta, tức lều Alcide, thì cậu này tiến hành việc buôn bán nhỏ, cũng là lén lút thôi, toàn những thứ vặt vãnh, thừa thãi bỏ đi. Thế nhưng mọi việc buôn bán ở Topo đều phải qua tay Alcide, vì cậu ta nắm giữ một cái kho nhỏ, độc nhất, thuốc lá nguyên cành và thuốc gói, vài lít rượu và vài mét vải sợi bông.

Mười hai chú dân vệ ở Topo có cảm tình thật sự với Alcide, mà điều này thì rõ lắm, mặc dầu cậu ta cáu gắt với họ không còn giới hạn nào và thường đá đít họ khá là vô lý. Nhưng những quân nhân ở truồng ấy lại thấy được rằng ở cậu ta có những nhân tố không thế chối cãi về mối quan hệ thân thuộc rộng lớn, còn hơn là cứ phải sống trong cảnh nghèo khổ bẩm sinh, không phương cứu chữa. Thuốc lá làm cho họ gần nhau, mặc dầu các chú dân vệ toàn là dân đen, sức mạnh vật chất mà. Tôi có mang theo mấy tờ báo từ châu Âu. Alcide đọc lướt với sự thích thú quan tâm đến các tin tức, nhưng dẫu đã giở đi giở lại đến ba lần và chú mục vào những cột báo táp nham ấy, cậu ta vẫn không sao đọc cho hết. Cậu ta thú thật: “Tớ bây giờ xét cho cùng thì cũng cóc cần gì tin với tức. Đã ba năm nay tớ ở cái xó rừng này rồi!” Điều đó không hề có ý nói rằng Alcide tính chuyện gây ngạc nhiên cho tôi là cậu ta định ẩn dật nơi này. Không đâu. Nhưng sự thô bạo và sự thờ ơ rất rõ của mọi người đối với cậu ta buộc cậu ta, ở cảnh một trung sĩ tái đăng, phải xử sự với mọi người, trừ mảnh đất Topo này, toàn là loại sống trên cung trăng.

Vả lại, Alcide là một người có bản chất tốt, tử tế và độ lượng và tất cả. Sau này tôi mới hiểu cậu ta, hơi quá muộn. Sự cam chịu kinh khủng đã đè nặng lên cậu ta, đó là cái đức tính cơ bản khiến cho những kẻ hèn mọn trong quân đội hay ngoài đời dễ dàng giết người cũng như cứu sống người. Chưa bao giờ, hay hầu như thế, những kẻ thấp cổ bé họng đó hỏi đến nguyên nhân của mọi cái họ phải chịu đựng. Họ ghen ghét nhau, thế cũng đủ rồi.

Quanh túp lều của chúng tôi, vẫn có một loài hoa mọc rải rác ngay trong đầm phá cát bỏng không chịu nổi, hoa tươi nhưng chóng tàn, mầu xanh, mầu hồng và cả mầu đỏ tía, mà ở châu Âu ta chỉ thấy trong tranh hoặc trên vài thứ đồ sứ, một thứ hoa bìm bìm sơ khai nhưng chẳng man dại chút nào. Những bông hoa ấy phải chịu đựng suốt một ngày dài kinh khủng, cụp lại trên cuống rồi tiếp tục nở và rung rinh trong hơi gió thoảng nhẹ lúc bóng chiều buông xuống.

Một hôm thấy tôi lúi húi hái mấy bông hoa bó thành bó nhỏ, Alcide bảo: “Hái thì cứ hái, nhưng chớ có tưới nước mà chết hoa đấy... Cái loài hoa chết tiệt này không giống như hoa mặt trời ta trồng cho thiếu sinh quân ở Rambouillet đâu! Tha hồ đái lên cũng chẳng làm sao!... Nó hút hết!... Hoa cũng như người ấy mà... Càng to thì càng ngốc!” Cái này rõ ràng là ám chỉ trung úy Grappa, to xác nhưng như cây sậy, hai tay ngắn ngủn, đỏ gay khủng khiếp. Những bàn tay chẳng bao giờ biết được cái gì. Mà Grappa cũng chẳng bao giờ gắng sức để hiểu biết.

Tôi ở Topo hai tuần, trong thời gian đó tôi không chỉ chia sẻ cuộc sống và công việc bếp núc với Alcide, những con rệp của cậu ta trên giường và trên cát (hai giống khác nhau), mà còn chia sẻ cả thuốc kí ninh và nước ở cái giếng gần đó, lúc nào cũng âm ấm và dễ gây ỉa chảy.

Cũng có ngày trung úy Grappa nổi hứng tình thân mật lên mời tôi sang lều của anh ta uống cà phê, đây là chuyện ngoại lệ. Anh chàng Grappa có máu ghen nên không bao giờ cho ai thấy mặt cô vợ bé người bản xứ của mình. Thế là anh ta phải lựa ngày cô da đen kia về làng thăm bố mẹ mới mời tôi đến. Và cũng là ngày mở phiên xử án của Grappa. Anh ta muốn làm tôi ngạc nhiên.

Xung quanh cái lều của Grappa, ngay từ sáng sớm, những người đi kiện nhau đã chen chúc thành từng đám đông mặc xà lỏn đủ mầu sắc và ô hợp cùng các nhân chứng chuyện trò eo éo. Bên nguyên bên bị và công chúng bình thường đứng lẫn với nhau, người nào cũng sặc mùi tỏi, mùi tinh dầu hăng hắc, mùi mỡ rán khét lẹt, mùi mồ hôi nghệ. Giống như mấy chú dân vệ của Alcide, đám người này cũng múa may quay cuồng trong hư ảo, họ giơ cao qua đầu những chiếc sênh tiền vừa múa vừa reo hò inh ỏi.

Trung úy Grappa ngập sâu vào chiếc ghế bành bằng song kẽo kẹt rền rĩ, anh ta mỉm cười trước cái cử tọa rời rạc ấy. Anh ta giao cho người phiên dịch của đồn xử lý và người này dịch lại những thỉnh cầu khó mà tin được của dân chúng trong giọng lúng túng nhưng sang sảng theo thói thường của mình.

Có thể đó là chuyện một con cừu chột mắt mà ông bố bà mẹ không được hoàn lại, trong khi cô con gái đã gả bán rồi mà không chịu cho về nhà chồng cô ta, chỉ vì người anh cô ta đã phạm tội giết cô chị của chú rể là người giữ con cừu ấy. Còn lắm chuyện khiếu kiện rắc rối phức tạp hơn nhiều.

Ngồi ngang tầm với chúng tôi, hơn trăm khuôn mặt say sưa với những vấn đề lợi ích và tục lệ nhe những hàm răng trắng ỏn và xì xào những câu tiếng Phi gợp gợp như tiếng những con gà tây.

Cái nóng đã lên đến tột độ. Người ta ngước nhìn bầu trời để xem liệu sắp có tai họa gì chăng. Không có lấy cả một cơn giông.

Thời tiết và những cuộc bàn cãi dài dòng đã đi đến hồi phải phân giải. Cuối cùng thì Grappa quyết định:

-Để đấy, ta sẽ làm cho họ thỏa thuận với nhau ngay thôi mà. Bố cô dâu đâu?... Dẫn lại đây nào!

-Ông ấy kia! hai chục tay cò mồi đẩy một lão già da đen thịt da đã nhẽo, mặc cái quần xà lỏn màu vàng chứng chạc nghiêm chỉnh ra dáng. Lão già dứ dứ nắm đấm lên ngắt đoạn những lời bàn tán về lão. Lão không có vẻ gì là đến đây để thưa kiện, mà đúng hơn là để có dịp giải khuây chút ít ở phiên xử án lão đã chờ đợi từ lâu cái kết quả chắc chắn là tích cực đối với lão.

Grappa ra lệnh:

- Nào! Hai mươi roi! cho tiệt cái trò này đi! Hai mươi roi da cho lão già ma cô này! Để cho lão chừa cái tội suốt hai tháng trời thứ năm nào cũng đến quấy rầy ta vì cái con cừu chết tiệt ấy!

Lão già thấy bốn tay dân vệ lực lưỡng tiến về phía mình. Thoạt đầu lão cũng không hiểu người ta muốn gì ở lão nhưng rồi lão đảo mắt nhìn, hai con mắt đỏ ngầu như một con thú già kinh khủng vì từ trước đến giờ chưa từng bị ai đụng tới. Thật ra lão không tìm cách kháng cự, nhưng lão cũng chẳng biết giữ mình thế nào để cho đỡ được nỗi đau trước cái trò công lý này.

Các tay dân vệ túm quần ông già mà giật. Hai đứa cứ khăng khăng bắt ông già phải quỳ gối nhưng những đứa khác lại đòi ông ta phải nằm sấp xuống. Cuối cùng thì chúng nó đồng ý với nhau là cứ miễn ông già nằm xuống đất là được, kéo tụt cái quần xuống, thế rồi cái lưng và hai cái mông nhẽo nhận lấy một trận roi quất xuống tới tấp khiến cho đến con bò cái khỏe mạnh cũng phải rống lên suốt tám ngày là ít. Ông già quằn quại, cát bám đầy quanh bụng cùng với máu, cát vào đầy mồm vừa kêu rú vừa khạc nhổ, tưởng chừng như một con chó cái lùn có chửa đang bị người ta hành hạ cho sướng tay.

Những người chứng kiến im thin thít. Chỉ còn nghe tiếng roi và tiếng la hét. Trận đòn kết thúc, ông già lóp ngóp bò dậy, quờ tay nhặt cái quần như tàu lá diếp. Máu ứa ra mồm, cả mũi và nhất là suốt sống lưng. Đám đông dìu ông già đi xa dần, rầm rì bàn tán với giọng đưa đám.

Trung úy Grappa châm lại điếu xì gà. Trước mặt tôi, anh ta làm vẻ lạnh lùng về các chuyện đó. Không phải cho rằng tôi nghĩ anh ta tàn ác hơn kẻ khác, mà chỉ do anh ta không thích để ai buộc mình phải suy nghĩ. Cái đó làm anh ta khó chịu. Trong công việc xét xử, cái làm anh ta dễ cáu bẳn là chuyện hỏi han vặn vẹo anh ta.

Cùng ngày hôm đó chúng tôi còn chứng kiến hai vụ trừng phạt khác cũng đáng ghi nhớ, liên quan đến những chuyện rối mù, nào là của hồi môn bị đòi lại, chuyện cá mú đã hứa với nhau... những lời hứa khả nghi, những đứa con không biết được đích xác của ai...

“Chà! giá mà họ biết tất cả rằng tớ mặc thây những chuyện tranh chấp của họ thì họ đã không rời bỏ rừng xanh để đến đây kể lể những chuyện ngốc nghếch và quấy rầy tớ!... Liệu tớ có phải thông báo cho họ biết cả những chuyện vặt vãnh của mình? Grappa kết luận. Tuy vậy, anh ta nói tiếp, tớ tin rằng lũ ngốc ấy đã quen cái mùi công lý của tớ rồi... Từ hai năm nay, tớ ra sức làm cho họ chán ngán chuyện này nhưng thứ năm nào họ cũng cứ kéo nhau đến... Cậu có tin tớ hay không là tùy, nhưng hầu như vẫn chỉ những tay đã nhẵn mặt!... Những kẻ hư hỏng cả mà!...”

Rồi câu chuyện xoay qua Toulouse, nơi Grappa về nghỉ phép hằng năm và cũng là nơi anh ta dự tính sáu năm nữa sẽ về nghỉ hưu. Đồng ý là thế đi! Chúng tôi đang vui vẻ cạn ly can-va-đốt [81*] thì lại bị một tay da đen đến quấy. Tay này phạm một tội gì đó tôi không biết, đã đến trễ giờ chịu hình phạt. Hắn tự ý đến sau những kẻ khác hai tiếng đồng hồ để nhận những roi đòn. Đã phải vất vả đi suốt hai ngày hai đêm từ trong làng qua rừng qua rú đến đây chỉ nhằm mục đích đó thôi, hắn không chịu về không. Nhưng đã trễ giờ, mà Grappa thì kiên quyết giữ nghiêm giờ giấc chịu hình phải thật đúng. “Kệ thây hắn! Hắn cứ phải đi thêm một lần cuối!... Hôm thứ năm tuần trước tớ đã tuyên phạt thằng chó chết ấy năm mươi roi mà!”

Nhưng vị khách thì phản đối vì hắn ta có lý do chính đáng: hắn phải mau mau trở về làng để chôn cất mẹ hắn. Một mình hắn có ba hoặc bốn bà mẹ. Những cuộc tranh cãi...

“Việc này giải quyết trong phiên tòa sau!”

Nhưng hắn ta làm gì có đủ thì giờ để về làng rồi lại trở ra đây vào thứ năm sau. Hắn phản đối. Hắn khăng khăng đòi. Phải tống cổ cái thằng thích được hành hạ này ra khỏi doanh trại bằng những cú đá thật đau vào hai mông đít. Nhưng thế cũng đã làm cho hắn ta thỏa thích nhưng chưa đủ... Hắn tạt vào lều của Alcide, cậu này thừa cơ bán luôn cho hắn cả một lô các thứ thuốc lá, cả thuốc cành, thuốc gói lẫn thuốc say thành bột để hít.

Được giải khuây khá đủ bởi lắm thứ chuyện đó, tôi cáo lui cũng vừa lúc đến giờ nghỉ trưa, để Grappa rút vào trong tận cuối lều với cô nội trợ người bản xứ đã ở quê ra và đang nằm chờ. Cặp vú tuyệt trần của cô gái da đen được các bà xơ ở Gabon nuôi dưỡng tốt. Cô gái trẻ ấy không chỉ nói đớt, phát âm sai tiếng Pháp, mà cô còn biết đưa cho anh thuốc kí ninh trong mứt quả và bắt những con rận hút máu trong gan bàn chân của anh. Cô ta biết có đến hàng trăm cách làm cho anh chàng thuộc địa được khoan khoái mà không mệt mỏi hoặc mệt mỏi theo sự lựa chọn của anh ta.

Alcide đang chờ tôi. Cậu ta hơi phật ý. Có thể việc trung úy Grappa mời mọc tôi vừa rồi khiến cho cậu ta quyết định bộc lộ những chuyện thầm kín. Mà toàn những chuyện bẩn thỉu. Chẳng đợi phải yêu cầu, cậu ta cố tình phác họa cho tôi một chân dung của Grappa như cục cứt bốc hơi. Tôi trả lời rằng đó cũng đúng là ý kiến của mình. Cái nhược điểm của Alcide là ở chỗ cậu ta bất chấp kỷ luật nhà binh, mà ngược lại, còn làm chuyện buôn bán lén lút với đám da đen trong các khu rừng xung quanh và cả với mười hai tay dân vệ. Cậu ta bán chịu thuốc lá cho cái thế giới bé nhỏ này, hết sức nhẫn tâm. Mấy chú dân vệ được phần thuốc thì hết phần lương, tất cả ra khói hết. Cứ việc hút trước cho đã rồi tính sau. Cái trò làm ăn láu vặt này khiến cho tiền nong ở trong vùng vốn đã hiếm hoi lại càng ảnh hưởng xấu đến thuế má mà Grappa dự kiến thu.

Trung úy Grappa thận trọng, không muốn gây một sự bê bối trong việc cai quản của mình ở Topo, nhưng có lẽ cũng ganh tị, anh ta nhăn nhó khó chịu. Anh ta muốn rằng tất cả những món tiền nhỏ nhoi sử dụng được của dân bản xứ phải dành để đóng thuế. Mỗi người mỗi kiểu và mỗi người có những tham vọng nhỏ bé của mình.

Ban đầu, cái lối bán chịu trừ lương xem ra có vẻ kỳ lạ và cứng nhắc đối với mấy chú lính dân vệ lao động vất vả chỉ để hút thuốc của Alcide và quen dần với những cú đá đít. Bây giờ họ chẳng thèm đi lĩnh lương nữa, cứ việc bình tĩnh mà hút thuốc trước ngay bên cạnh lều của Alcide, bên những bông hoa nhỏ nhưng sống dai, giữa hai buổi tập tành tưởng tượng.

Tóm lại là ở cái xứ Topo tí hin ấy cũng có chỗ cho những hai hệ thống văn minh, một của trung úy Grappa, theo kiểu văn minh La mã, nghĩa là quất roi những kẻ phục tùng đơn giản để moi cống vật, và theo Alcide khẳng định, thì anh ta giữ lấy một phần đáng hổ thẹn cho riêng mình; và một nữa là của bản thân Alcide, phức tạp hơn, trong đó đã phân định được những triệu chứng của giai đoạn hai của kẻ đi khai hóa, sự ra đời ở mỗi chú dân vệ một khách hàng, tóm lại đó là cái tổ hợp thương mại - quân sự, hiện đại hơn, đạo đức giả hơn cái của chúng ta.

Về mặt địa lý thì trung úy Grappa cũng chỉ ương ước, theo mấy cái bản đồ vẽ phỏng chừng của Bưu điện, những vùng lãnh thổ rộng lớn giao cho anh ta trông nom. Anh ta cũng chẳng bao giờ có ý muốn hiểu biết thêm làm gì. Cây cối, rừng rú, rút cục thì ai mà chẳng biết và ai chẳng thấy được từ tít tận đằng xa.

Lẩn vào trong những rừng cây um tùm và náu mình sau những trận đòn vô hạn như vậy, một vài bộ lạc hết sức tản mát đọng lại đây đó giữa những đàn chấy rận và ruồi muỗi, u mê đần độn bởi những vật tổ, tọng vào mồm chỉ độc một thứ sắn hà đen sì... Những bộ tộc hết sức hồn nhiên, man rợ một cách ngây thơ, ngơ ngác trong đói khổ, suy mòn vì hàng nghìn cơn địch hạch. Không có gì đáng để người ta phải lại gần. Không có gì để biện bạch cho một cuộc chinh phạt hành chính đau đớn và chẳng một tiếng vang. Khi cuộc làm luật đã dứt, Grappa quay ra phía biển, dõi nhìn phía chân trời, nơi đã từng có một ngày nào đó anh ta xuất hiện và nơi ngày nào đó anh ta sẽ ra đi, nếu mọi việc đều trôi chảy...

Những nơi đây cuối cùng trở nên thân quen và dễ chịu đối với tôi, tuy nhiên cũng phải nghĩ đến việc rời bỏ Topo để đến cái cửa hàng đã được hứa hẹn với tôi chỉ trong mấy ngày đò và đi miết trong rừng.

Với Alcide, hai đứa chúng tôi ngày càng rất ăn ý nhau. Chúng tôi rủ nhau câu cá đao, một loài cá mập nhung nhúc ngay phía trước lều. Cậu ta cũng vụng về như tôi trong cái trò này. Hai đứa chẳng bắt được con nào.

Căn lều của cậu ta chỉ được trang bị có chiếc giường gấp của cậu ta và chiếc của tôi cùng vài chiếc hòm rỗng hay đầy. Tôi đoán là cậu ta phải dành dụm được kha khá tiền nhờ món buôn bán nhỏ ấy.

Nhiều lần tôi hỏi cậu ta:

- Cậu để ở đâu, giấu ở đâu cái khoản xìn bẩn thỉu ấy? Và để chọc tức cậu ta tôi còn đùa: Cậu dùng cái của đó để mai kia vẽ làm một thần lưu linh chăng?[82*] Và có đến hai chục lần là ít, mỗi lúc chúng tôi chọc vào cái “hộp cà chua hộp” không thể thiếu đó là tôi tưởng tượng đến cái khoái trá của cậu ta khi về nước được thấy những biến đổi của Bordeaux qua những cuộc dạo quanh các nhà thổ trong thành phố. Cậu ta không trả lời gì cả. Chỉ cười thôi, như thể thích thú được nghe tôi nói về những chuyện đó.

Ngoài chuyện tập tành của mấy chú dân vệ và những phiên xử án, quả thật ở Topo chẳng còn chuyện gì, bởi thế tôi đành cứ phải lặp đi lặp lại cái trò đùa ấy, vì chẳng còn đề tài nào khác.

Trong thời gian sau này, một lần tôi có ý muốn viết cho ông Puta để bòn tiền. Alcide sẽ giúp tôi gửi bức thư qua chuyến tầu Papaoutah sắp tới. Giấy bút để viết, Alcide để trong cái hộp bánh bích quy y hệt cái hộp tôi đã thấy của Brandelore, hoàn toàn giống. Thì ra các cậu trung sĩ tái đăng đều có thói quen như nhau. Nhưng khi thấy tôi định mở cái hộp thì Alcide có ý ngăn tôi lại với một cử chỉ là lạ. Tôi phát ngượng. Không hiểu vì sao mà cậu ta lại không cho tôi mở, tôi bèn đặt cái hộp xuống.

-À mà cậu cứ mở ra đi chứ! Không có chuyện gì đâu, cứ mở ra đi! cậu ta giục.

Ngay lập tức tôi thấy phía trong nắp hộp dán ảnh một đứa con gái nhỏ. Chỉ có cái đầu, nét mặt rất hiền lành với những dọn tóc xoăn như người ta thường uốn thời đó. Tôi lấy tờ giấy, cái bút và đậy mạnh nắp hộp lại. Tôi rất lúng túng về chuyện không có ý tứ của mình, nhưng cũng tự hỏi tại sao chuyện đó lại tác động cậu ta đến thế.

Tôi tưởng tượng ngay rằng đó là một đứa con của cậu ta mà bấy lâu nay cậu ta giấu không cho tôi biết. Tôi chẳng hỏi gì thêm, nhưng hiểu rằng sau lưng tôi, cậu ta đang định kể cho tôi biết xung quanh tấm ảnh đó, với một giọng nói lạ lẫm tôi chưa nghe thấy ở cậu ta bao giờ. Cậu ta ấp úng. Bản thân tôi cũng không biết xử sự thế nào. Tất nhiên tôi phải giúp cậu ta thổ lộ được niềm riêng của mình. Tuy vậy cũng chưa biết làm ra sao. Có thể đây là một chuyện riêng tư đau buồn cho cả người nghe đây, tôi chắc thế. Thật ra tôi cũng không muốn biết chuyện ấy làm gì.

-Chẳng có gì đâu! cậu ta nói. Đó là con gái của một chú em tớ.... Hai vợ chồng chết cả rồi...

-Hai bố mẹ con bé?...

-Ừ, bố mẹ nó...

-Vậy ai nuôi nó bây giờ? Mẹ cậu à? tôi hỏi như vậy để biểu thị sự quan tâm.

-Mẹ tớ cũng chẳng còn...

-Thế thì ai?

-Tớ đấy thôi!

Cậu ta cười khẩy, mặt đỏ gay như vừa làm một việc không thích hợp chút nào. Cậu vội vàng nói tiếp:

-Tức là, để tớ nói cho cậu rõ... Tớ phải gửi nó vào các bà xơ ở Bordeaux... Nhưng không phải các bà xơ nuôi trẻ con nhà nghèo đâu, cậu, cậu hiểu tớ chứ!... Ở chỗ các bà xơ “khá” cơ... Chính tớ lo chuyện ấy, cậu có thể yên tâm. Tớ muốn con bé không thiếu gì!

Tên nó là Ginette... Con bé ngoan lắm... Thật giống như mẹ nó... Nó viết thư cho tớ, nó tiến bộ lắm, chỉ có điều, cậu hiểu đấy, gửi nội trú như thế là đắt tiền... Hơn nữa, nó đã lên mười... Tớ muốn cho nó học luôn cả piano nữa? Cậu thấy học piano thế nào? Học piano tốt chứ nhỉ, nhất là với con gái... Cậu không tin à? Và học cả tiếng Anh nữa... Tiếng Anh cũng có ích chứ?... Cậu biết tiếng Anh chứ?...

Tôi bắt đầu phải ngó nhìn thật sát cái cậu Alcide này khi cậu ta tự cho mình là không đủ bao dung, với hàng ria mép xức dầu, cặp lông mày lệch, nước da cháy nắng. Chà, cái cậu Alcide kín đáo này. Cậu ta đã phải dành dụm bằng số lương eo hẹp... số tiền thưởng khốn khổ và món buôn nhỏ nhoi lén lút... trong những tháng, những năm, ở cái địa ngục Topo này!... Tôi không còn biết trả lời cậu ta thế nào nữa, tôi chẳng tinh thông gì, cậu ta đã vượt hẳn qua tôi bằng một trái tim, tôi thật hổ thẹn... Bên cạnh Alcide, tôi chỉ là một đứa thô lỗ bất lực, trì độn, vô tích sự... Thật đấy chẳng phải giả bộ đâu. Rõ ràng là thế.

Tôi không còn dám nói gì với cậu ta, bỗng nhiên tôi cảm thấy không xứng đáng nói năng với cậu ta. Tôi, kẻ mới hôm qua còn xem nhẹ, thậm chí còn hơi miệt thị Alcide.

Không biết rằng những điều tâm sự của cậu ta đang làm tôi bối rối, cậu ta tiếp tục:

-Tớ thật không may. Cậu thử nghĩ xem, cách đây hai năm, con bé lại bị bại liệt nữa chứ... Cậu hình dung xem... Cậu có biết bệnh bại liệt trẻ con là thế nào không?

Cậu ta giảng giải cho tôi rằng chân trái con bé bị teo lại và phải cho chạy điện ở Bordeaux, tại một thầy chuyên khoa. Cậu vẫn băn khoăn:

-Cậu có tin là khỏi được không?

Tôi bảo đảm với cậu ta là với thời gian và trị bằng điện, bệnh ấy sẽ chữa được, sẽ khỏi hoàn toàn. Cậu ta hết sức đắn đo khi nói về bà mẹ đã quá cố và thương tật của đứa nhỏ. Dẫu ở xa xôi thế này, cậu vẫn sợ làm cho con bé đau đớn.

-Từ khi con bé bị bệnh, cậu đã thăm nó chưa?

-Không... tớ vẫn ở đây.

-Sắp tới cậu có về thăm không?

-Tớ nghĩ rằng khó có thể về ít ra là ba năm nữa... Cậu biết đấy, ở đây tớ còn buôn bán kiếm thêm được chút ít... Còn giúp đỡ được con bé. Tớ mà đi phép lúc này thì trở lại là mất chỗ luôn... nhất là với cái thằng cha độc ác đó...

Vậy thì Alcide liệu có xin tăng gấp đôi cái thời hạn của mình, ở luôn một mạch sáu năm liền ở Topo, chứ không chỉ có ba, vì đứa cháu gái mà anh ta chỉ có trong tay mấy bức thư và tấm ảnh con con.

Hai đứa đã đi nằm, cậu ta vẫn tiếp:

-Cái tớ đang lo bây giờ là ở đấy chẳng có ai đưa nó đi nghỉ hè... Với một đứa trẻ nhỏ, như thế là gay lắm!...

Tất nhiên là trong việc làm cao thượng của mình Alcide rất thoải mái, có thể nói là bình dị nữa, đến thánh thần thì cậu ta cũng gọi bằng anh hết, chẳng có gì là quan trọng. Vì một đứa cháu gái nhỏ mà cậu ta sẵn sàng chịu đựng những năm tháng đầy đọa, tiêu ma cuộc sống khốn khổ trong cái đơn điệu nóng như thiêu này, không đòi hỏi điều kiện, không mặc cả, không lợi lộc mà chỉ vì lòng tốt. Cậu ta trao cho đứa con gái nhỏ xa xôi ấy khá đủ âu yếm để tái tạo cả một thế giới và cái đó thì không thấy được.

Vừa đặt mình, cậu ta đã ngủ liền, bên ngọn nến leo lét. Tôi nhỏm dậy ngắm nhìn kỹ nét mặt cậu ta dưới ánh nến. Cậu ta ngủ như mọi người, vẻ mặt rất bình thường. Tuy nhiên chẳng có gì là tệ nếu như ở cậu ta có cái gì đó để phân biệt được những con người tốt và những kẻ độc ác.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.