Duy nhất chỉ vì những lý do tiền bạc, nhưng lại khẩn trương và cấp bách biết bao, tôi phải bỏ công ra tìm Lola! Ngoại trừ sự cần thiết thảm hại ấy ra, có lẽ tôi kệ xác cô ta già khọm và biến luôn, không bao giờ còn gặp lại cô bạn nhỏ điếm đàng ấy nữa! Tóm lại, đối với tôi, cô ta đã xử sự xấc xược quá xá, càng nghĩ càng thấy điều đó hình như không còn gì phải nghi ngờ.
Cái tính vị kỷ của những con người sống lẫn với mình, đến lúc về già, ta ngồi nghĩ lại, mới thấy nó bộc lộ hiển nhiên, cũng như gang như thép, như bạch kim, và có thể nó còn tồn tại lâu hơn cả chính thời gian nữa.
Trong lúc đang còn thanh xuân, với những sự vô tình khô khan nhất, những điều thô lỗ trơ trẽn nhất, thì người ta cũng còn tìm được cho mình những lý do của những ngông cuồng vì tình ái và rồi tôi cũng chẳng biết đó là những biểu hiện gì của một thứ chủ nghĩa lãng mạn chưa thành thục. Nhưng sau này, khi cuộc sống đã chỉ cho anh thấy rõ tất cả những gì nó có thể đòi hỏi về tính xảo quyệt, tính tàn bạo, tính ranh ma chỉ cốt làm sao tàm tạm duy trì được cái thân nhiệt 37 độ, thì ta mới biết được, mới cố định được cái chỗ đứng thích hợp với mình, để mà hiểu được tất cả những trò dơ dáy của một quá khứ. Tất cả là, chỉ cần soi kỹ vào bản thân mình và soi vào cái đã làm cho mình thực tế trở thành rác rưởi. Chẳng còn gì bí mật, chẳng có gì là ngớ ngẩn, người ta ngốn đi hết cả những gì là thi vị là tình cảm bởi người ta đã sống đến tận lúc đó. Và đời thế là tong.
Cuối cùng thì, với khá nhiều vất vả, tôi cũng tìm ra được cô bạn bé nhỏ thô lỗ, tại tầng lầu thứ hai mươi ba, phố 77. Kể cũng thật lạ lùng, những con người ở đây sao mà đáng ghét khi ta định hỏi nhờ họ một chút. Nhà cô em thuộc loại sang trọng và đúng với kiểu cách tôi dự đoán.
Được thấm đẫm trước những liều lượng lớn về chiếu bóng, tôi cảm thấy gần như sảng khoái về mặt tinh thần, ngoi được lên khỏi nỗi chán chường tôi phải chống chọi suốt từ khi đổ bộ lên New York, và cái tiếp xúc đầu tiên đã không đến nỗi khó chịu như tôi dự kiến. Lola hình như không chút nào tỏ ra bất ngờ khi gặp lại tôi, chỉ có ái ngại khi nhìn kỹ tôi.
Tôi cố khơi mào bằng câu chuyện vô thưởng vô phạt dựa vào những đề tài có sẵn trong quá khứ của hai đứa và tất nhiên là cũng phải cân nhắc trong từ ngữ được chừng nào tốt chừng ấy, trong đó có nhắc nhưng không quá nhấn mạnh về thời kỳ chiến tranh. Song đây lại là một lỗi lầm nghiêm trọng của tôi. Tôi không biết rằng cô không còn muốn nghe nói tí gì đến chiến tranh nữa. Nó đã làm cho cô già đi. Phật ý, cô đốp chát luôn, rằng nếu cô gặp tôi ngoài đường phố có lẽ đã chẳng nhận được ra, vì tuổi tác đã làm cho tôi có những nếp nhăn, phị ra và trông đến buồn cười. Cái xã giao lịch sự của chúng tôi lúc ấy là thế đó. Hình như cô nhỏ đĩ đàng này tưởng có thể đã trúng tôi bằng những luận điệu lập đi lập lại như thế. Tôi chẳng thèm đáp lại những lời xấc xược ti tiện ấy làm gì.
Đồ đạc trong nhà không có vẻ gì là duyên dáng lạ lẫm cả mà phóng khoáng, chịu được, ít nhất là đối với tôi, từ khi rời khỏi khách sạn Laugh Calvin.
Cái phương pháp và những chi tiết của một cơ ngơi phất lên mau chóng thường cho anh ấn tượng của một trò ảo thuật. Từ chuyện phất lên của Musyne và của mụ Herote, tôi hiểu ra rằng cái lỗ trôn quả là một mỏ vàng nho nhỏ của đám nghèo. Những chuyện đột nhiên thay lông đổi lốt của cánh đàn bà ấy làm cho tôi có thể, giả dụ như, đưa đồng đô la cuối cùng cho mụ gác cổng của Lola chỉ để được nghe mụ kể mọi chuyện.
Nhưng nhà cô không có mụ gác cổng. Toàn thành phố này thiếu các mụ gác cổng. Một thành phố mà không có các mụ gác cổng thì chẳng có chuyện gì nói, chẳng có mùi vị gì, nhạt nhẽo như bát súp không muối, không tiêu, một thứ ra gu chẳng ra làm sao. Ôi! một thứ mùn thớt ngon lành! Rác rưởi, rãi rớt trong các phòng the, nhà bếp, gác lửng tuôn ra ri rỉ từ phòng mụ gác cổng, tràn trề cuộc sống, một thứ địa ngục thú vị làm sao! Một số mụ gác cổng bên xứ mình không cưỡng nổi nhiệm vụ, ta thấy các mụ cộc lốc, ho hắng, khoái trá, sửng sốt, đó là vì các mụ đã bị u mê vì Chân lý của những nỗi thống khổ đó, suy mòn vì cái Chân lý đó.
Chống lại sự ghê tởm của nghèo nàn, ta phải thừa nhận đó là một nghĩa vụ, muốn thế phải thử bằng mọi cách, say sưa bằng bất cứ cái gì, bằng rượu mà phải thứ rượu rẻ tiền, bằng thủ dâm, bằng chiếu bóng. Mà cũng chẳng nên khó tính, chẳng nên “đặc thù” như người ta nói ở Mỹ. Mấy mụ gác cổng bên mình cung cấp, lúc hơn bù lúc kém, cứ đồng ý là thế đi, cho những ai biết cách nhận lấy và ấp ủ ngay vào sát trái tim mình cái mối hờn căm làm tất cả và chẳng để làm gì cả nhưng cũng đủ để nổ tung một thế giới. Ở New York, người ta thiếu một cách tồi tệ cái chất kích thích cốt tử ấy, rất tầm thường mà lại rất sinh động, không thể bác bỏ được, không có nó thì trí tuệ sẽ bị tắc nghẽn, chỉ còn biết bâng quơ nói xấu người khác và lắp bắp mấy câu vu khống nhạt phèo. Không có mụ gác cổng thì chẳng ai dễ gì mà cắn câu, dễ gì bị tổn thương, bị rạch ra, bị xáo trộn, bị ám ảnh, và tất nhiên là mụ còn thêm thắt vào cái mối hận phổ biến đó, thắp sáng bừng lên hàng nghìn chi tiết không còn ai chối cãi được.
Huống hồ đầu óc tôi lại rối bời vì bắt gặp Lola trong môi trường của cô ta, càng làm tôi thêm nỗi chán chường, tôi muốn nôn mửa lên cái tầm thường trong sự thành công, trong sự ngạo mạn của cô ta, toàn những cái sáo rỗng và tởm lợm, nhưng bằng cái gì đây? Do tác động của sự lây lan tức thời, ngay liền đó xuất hiện trong tôi cái ký ức về Musyne, cũng thù nghịch và đáng tởm như vậy. Một mối căm hận nảy sinh đối với hai người đàn bà này, mối hận ấy vẫn còn đó và đã hòa vào lẽ sống của tôi. Tôi thiếu mọi nguồn tư liệu để có thể giải thoát đúng lúc và cho dứt hẳn tất cả sự khoan dung hiện nay và sau này đối với Lola. Không ai làm lại đời mình.
Lòng dũng cảm không phải là ở chỗ xá lỗi, người ta luôn luôn xá lỗi quá mức rồi! Mà cũng chẳng giúp được gì, chứng cớ đã rõ. Sau tất cả mọi sinh linh, ở hàng cuối cùng, người ta xếp cái Tốt đẹp! Chẳng phải không nhằm gì cả đâu. Ta chớ bao giờ quên cái đó. Một tối nào đó, ta ru cho họ ngủ thật say, những kẻ hạnh phúc ấy, rồi trong lúc họ ngủ, tôi xin nói với các bạn, ta hãy kết liễu luôn cho xong dứt đi cả bản thân họ lẫn cái hạnh phúc của họ. Ngày hôm sau, không còn ai nhắc đến cái hạnh phúc ấy nữa và thế là chúng ta sẽ được tự do sống khổ sở tùy thích của ta cùng lúc với cái “Tốt đẹp” kia. Nhưng tôi cũng xin kể thêm rằng: cô gái Lola lúc ấy đi đi lại trong nhà, ăn mặc sơ sài và thân hình cô lồ lộ trước mắt tôi dù sao vẫn gợi tình lắm. Một thân hình diễm lệ luôn luôn là một cái gì gợi khả năng cưỡng hiếp, một sự bẻ khóa quý giá, trực tiếp, thầm kín vào tận cốt lõi của kho báu, của sự sang trọng, và không còn sợ gì đến việc đòi lại.
Có thể cô ta chỉ chờ hành động ấy của tôi để đuổi cổ tôi đi. Cái đói cồn cào gợi cho tôi trước hết phải thận trọng. Phải đánh chén cái đã. Thế rồi cô không ngớt kể lể những chuyện phù phiếm trong cuộc sống của cô. Có lẽ phải đóng cửa cái thế giới này lấy vài ba thế hệ họa chăng mới kể cho hết được những chuyện hư cấu ấy. Người ta có thể chẳng còn gì mà nói với nhau hay cũng gần như thế. Rồi thì cô cũng đi đến việc hỏi tôi suy nghĩ thế nào về nước Mỹ của cô. Tôi thổ lộ thực lòng với cô rằng tôi đã tới chỗ suy nhược và kinh hoàng với bất cứ ai, bất cứ cái gì khiến tôi phải ngờ vực đến thế, còn đất nước của cô thì nó thật sự gây cho tôi ghê sợ hơn tất cả mọi sự đe dọa trực tiếp, thần bí và không thể nào ngừa trước được mà tôi đã từng gặp, nhất là cái thái độ thờ ơ quá đáng đối với tôi ở nơi này.
Tôi thú nhận thêm rằng, tôi cần giành cho mình lấy miếng ăn, và bây giờ thì trong một thời hạn ngắn ngủi, tôi phải làm sao vượt qua được hết các thói ủy mị ấy. Về chuyện này, tôi cảm thấy đã quá muộn vì vậy tôi đảm bảo với cô rằng tôi sẽ biết ơn cô sâu sắc nếu như cô vui lòng giới thiệu tôi với ai đó đang cần người làm... trong số những người cô quen biết... Và càng sớm càng tốt... Tiền lương dẫu có ít ỏi thì tôi cũng hoàn toàn thỏa mãn... Tôi còn tuôn ra với cô hàng tràng những lời dịu dàng vô vị khác. Cô có vẻ khó chịu nhưng kín đáo trước đề nghị khiêm tốn ấy của tôi. Ngay tức khắc, cô tỏ ra buồn phiền vì cô không biết được ai có thể có việc làm hoặc có thể giúp đỡ được gì cho tôi. Chúng tôi đành quay lại chuyện đời sống nói chung và cuộc sống riêng của cô.
Chúng tôi đang thăm dò nhau cả về tinh thần lẫn vật chất thì có tiếng chuông gọi cửa. Rồi thì ào luôn vào bốn người đàn bà phấn hoa, sồn sồn, núng nính, đầy những bắp thịt và trang sức, không cần hỏi han chờ đợi gì cả, rất là thân mật. Giới thiệu qua loa, Lola gượng gạo (điều này thấy rõ) muốn đẩy họ đi, nhưng họ lại muốn nhân cơ hội được tôi tỏ vẻ quan tâm, thế là tuôn ra ông ổng mọi chuyện họ biết về châu Âu, cái mảnh đất cũ kỹ phì nhiêu mà họ cho là nhung nhúc những kẻ điên loạn cố lỗ, dâm bôn và tham tàn. Họ nói vanh vách những gì họ biết về Chabanais và Invalides. Về phần mình, tôi chưa hề đặt chân đến hai nơi này. Chỗ thứ nhất thì quá tốn tiền, chỗ thứ hai thì quá xa [92*]. Nhưng nghe họ chê bai như thế thì cái máu yêu nước tất yếu và mệt mỏi cũng cứ tràn dâng trong tôi, ắt phải đối đáp lại thế nào chứ! Tôi đập lại rằng chính cái thành phố này của họ mới làm cho tôi ngao ngán. Tôi bảo đó là một thứ hội chợ lụn bại đến lộn mửa mà người ta cứ gân cổ cãi rằng nó thành công.
Trong khi dông dài giữa cái giả và cái thực, tôi vẫn cảm thấy càng lúc càng rõ những lý do mới đang làm cho bệnh sốt rét và bệnh trầm uất cả thể chất lẫn tinh thần đè nặng lên mình. Vả lại đó cũng có thể chỉ là chuyện thay đổi tập quán, môi trường. Một lần nữa tôi lại phải tìm hiểu những khuôn mặt mới trong một môi trường mới, học cách nói năng và dối trá mới. Cái sự lười biếng xem ra cũng khá mạnh như cuộc sống vậy. Sự nhàm chán trong vai hề mới nghiền nát anh và buộc anh phải hèn nhát hơn là dũng cảm để mà bắt đầu lại cuộc đời. Chuyện lưu vong là thế, ngoại nhân là thế, sự quan sát khắc nghiệt về cuộc sống đúng như bản thân nó, trong những khoảnh khắc tỉnh táo, ngoại lệ của đời người, khi mà những tập quán của đất nước cũ đã rời bỏ anh nhưng những tập quán khác, mới mẻ, lại chưa đủ làm cho anh u mê. Trong những khoảnh khắc ấy, sự khốn quẫn nhơ nhớp của anh lại còn dồn nén thêm, buộc anh vốn đã bị suy nhược lại còn phải phân biệt cho được mọi vật, mọi người hiện tại và tương lai của chính họ, tức là những bộ hài cốt sau này, hoàn toàn là những số không, thế mà cứ phải tỏ ra yêu quý, thương mến, gìn giữ nâng niu, làm cho họ có đủ sinh khí như vẫn đang còn sống thật vậy.
Xung quanh mình là một đất nước khác, những con người khác, hành động hơi kỳ kỳ, vài cái khoe khoang tí chút vặt vãnh, phóng túng, một vài cái tự hào không duyên cớ, ảo ảnh hay tiếng vang quen thuộc, mà cũng không nên kể thêm nữa làm gì kẻo bạn lại điên đầu lên mất, rồi lại bị hút vào toàn những chuyện ngờ vực và một khoảng không vô tận mở ra cho một mình bạn, một cái vô tận bé nhỏ kỳ cục hút bạn rơi tõm vào đó.
Cuộc hành trình này là sự tìm tòi cái vô tích sự, cái cám dỗ nhỏ nhoi đối với những thằng ngốc...
Bốn cô khách của Lola càng cười hô hố khi nghe tôi thổ lộ tâm can và làm trò ngố trước mắt các cô. Các cô gọi tôi bằng đủ thứ tên mà tôi không làm sao hiểu nổi vì những biến dạng Mỹ, vì những ngôn từ nhơm nhớp, sỗ sàng của họ. Mấy con mèo cái động đực đây.
Chúng tôi im tiếng khi tay gia nhân người da đen vào tiếp trà.
Một cô trong số có nhận xét tinh hơn các cô kia, nói tướng lên rằng tôi đang run cầm cập vì lên cơn sốt và có thể là do khát nước ghê gớm khác thường. Tuy vậy, trong cơn sốt run bần bật, tôi vẫn thấy vừa ý hoàn toàn về bữa ăn nhẹ do họ mời. Mấy miếng bánh xăng uých đó đã cứu sống tôi, có thể nói như vậy.
Câu chuyện tiếp theo xoay quanh những giá trị so sánh của các nhà điếm ở Paris mà tôi không khó nhọc gì trong việc tham gia. Mấy cô gái này còn nhâm nhi sành sỏi các món rượu mùi phức tạp và rồi men rượu ngấm dần, tất cả đều rực nóng lên và dốc hết bầu tâm sự, cô nào cũng bừng bừng về chuyện “hôn nhân”. Tuy rất say sưa trong bữa nhậu, tôi vẫn đủ tỉnh để nghe ra đó là những chuyện hôn phối giữa các cặp trai gái còn nhỏ tuổi, thậm chí còn con nít mà mấy cô này mối manh ăn hoa hồng.
Lola thấy tôi tò mò chăm chú theo dõi các chuyện đó, cô nhìn tôi chòng chọc với vẻ khó chịu. Cô thôi không uống nữa. Những người đàn ông cô quen biết ở đây, những người Mỹ, không bao giờ có cái thói xấu tò mò hư hỏng như tôi. Tôi cố khuôn mình trong phạm vi kiểm soát của cô, mặc dầu có đến hàng nghìn câu hỏi muốn đặt ra với mấy người đàn bà này.
Cuối cùng thì khách khứa cũng đứng dậy ra về, họ đi đứng nặng nề, hừng hực hơi men và phớn phở về mặt tình dục. Họ ba hoa chuyện tếu với nhau bằng một thứ kiểu khiêu dâm vừa lịch sự lại vừa trơ trẽn đến kỳ. Tôi cảm thấy ở đó có cái gì mang hơi hướng nữ hoàng Elisabeth [93*] mà tôi cũng cảm thấy rung động, tất nhiên là rất quý và rất tập trung ở đầu cái bộ phận ấy của tôi. Nhưng cái sự hòa hợp sinh học ấy, một sự hòa hợp quyết định trong cuộc hành trình, cái bức thông điệp sống ấy, tôi chỉ cảm thấy được thôi, trong những nuối tiếc và trong nỗi buồn càng lớn hơn. Mối u sầu vô phương cứu chữa.
Sau khi mấy cô bạn ra khỏi cửa, Lola liền bực bội ra mặt. Cô không chút nào bằng lòng cái màn kịch nhỏ vừa rồi. Tôi không hé răng.
Mấy phút sau cô mới lên tiếng sỉ vả:
-Mấy con mụ phù thủy!
Tôi hỏi:
-Cô biết họ từ đâu?
-Chỉ là mấy con bạn thường ngày...
Cô không sẵn sàng tâm sự với tôi lúc này. Theo cái cách ăn nói sống sượng của họ đối với cô, tôi đoán có thể là mấy mụ này nắm được thóp Lola, thậm chí có uy thế gì đó không chừng. Tôi chẳng muốn tò mò về chuyện đó làm gì.
Lola nói cô ra phố nhưng mời tôi cứ ở lại chờ cô về và nếu còn đói thì cứ việc ăn thêm. Giã từ Laugh Calvin quỵt tiền và không còn quay lại đó nữa, tất nhiên tôi rất bằng lòng việc cô cho phép tôi có thêm được thời gian ấm cúng trước khi lại phơi mặt ngoài đường phố, mà đường phố nào hở ông bà ông vải ơi!...
Liền sau khi còn lại một mình, tôi đi theo hành lang vào nơi thoáng thấy anh chàng da đen phục vụ. Vừa được mấy bước thì gặp ngay cậu ta, tôi chìa tay bắt tay. Thấy tin nhau được rồi, cậu ta dẫn tôi vào bếp, khá đẹp đẽ ngăn nắp, có phần còn bảnh hơn cả ngoài phòng khách.
Lập tức, cậu ta nhổ toẹt một cái ngay trước mặt tôi, trúng một viên gạch hoa rất đẹp. Nhổ kiểu này thì chỉ người da đen mới làm được, vừa xa vừa nhiều mà lại tuyệt nữa. Vì xã giao, tôi cũng nhổ một cái, nhưng chỉ trong cái tầm của mình thôi. Chúng tôi tâm sự với nhau liền. Cậu ta cho biết, Lola có một chiếc ca-nô làm phòng khách nổi trên sông, hai chiếc xe hơi chạy trên đường, một hầm rượu với đủ thứ rượu từ khắp các nước trên thế giới. Các nhà hàng lớn ở Paris luôn luôn gửi catalô sang cho cô. Thế đó. Cậu ta không ngừng lặp đi lặp lại những điều sơ lược đó. Tôi không nghe nữa. Ngủ gà ngủ gật ngay cạnh cậu ta, tôi mơ mơ màng màng những chuyện đã qua, cái thời Lola rời bỏ tôi ở Paris trong chiến tranh; những cuộc săn đuổi, vây hãm, phục kích; những chuyện dài dòng, dối trá, xảo quyệt; chuyện Musyne, những tay Ác-giăng-tin, những con tầu chở đầy thịt của họ; rồi Topo, rồi bầy đàn trên quảng trường Clichy, Robinson, những đợt sóng, biển cả, khổ cực, gian bếp trắng toát của Lola, anh chàng gia nhân da đen của cô, rồi chẳng có gì nữa, ngay cả tôi trong đó mà như một anh chàng nào vậy. Tất cả mọi cái đều có thể cứ thế tiếp tục. Chiến tranh thiêu đốt những kẻ này nhưng lại sưởi ấm cho kẻ khác, lửa hành hạ anh hay tăng lực cho anh là tùy anh đứng ở phía nào. Phải tự xoay xở lấy, tất cả là thế thôi.
Đúng như cô ta nói, tôi đã thay đổi đi nhiều. Cuộc sống làm méo mó và đè nghiến lên khuôn mặt mình. Cô ta cũng vậy. Khuôn mặt cô cũng bị đè nghiến, nhưng chỉ sơ sơ thôi, rất ít. Với đám nghèo kiết thì chuyện ấy chẳng nhằm nhò gì, vì cái nỗi khổ là nó to nó lớn lắm, nó như một cái khăn rửa mặt có thể lau sạch rác rưởi của thiên hạ vấy bẩn lên mặt anh. Nó dừng lại đó.
Tôi đã tưởng còn ghi nhận thêm được ở Lola một vài cái gì mới mẻ, những lúc trầm uất, u sầu, những hẫng hụt trong cái lạc quan ngớ ngẩn của cô, những lúc phải điềm tĩnh lại để đẩy cao lên nữa những thành đạt trong đời cô? Những năm tháng của cô, dù cho đã quá nặng nề đối với cái đà tiến thủ mà cô còn có được, cái chất nhậy cảm tồi tệ của cô.
Bỗng anh chàng người ở da đen của Lola múa may ngọ nguậy. Có được bạn mới, cậu ta hứng chí nhồi nhét ga tô và tống đầy xì gà cho tôi. Cuối cùng, cậu ta rút một cái ô kéo, rón rén nhấc ra một cục gì tròn tròn nằng nặng.
Cậu ta hùng hùng hổ hổ cho tôi biết: “Bom đấy!”
Tôi giật mình, lùi lại. Cậu ta khoái trá hét toáng lên: Libertá! Libertá! [94*]
Rồi lại đặt các thứ vào chỗ cũ và lại nhổ một bãi nữa rất cừ. Mới xúc động làm sao! Cậu ta hớn hở ra mặt. Cái cười của cậu ta lây cả sang tôi, không sao nín nhịn được. Thêm một cử chỉ hay bớt đi một cử chỉ, chẳng có gì là quan trọng, tôi nhủ thầm trong bụng. Vừa lúc Lola đi mua sắm đã về. Cô thấy chúng tôi ngồi với nhau trong phòng khách khói thuốc lá mù mịt, tiếng cười vang nhộn, nhưng làm ra bộ không để ý gì cả.
Tay da đen lỉnh rất mau, còn tôi, cô đưa tôi đi theo vào phòng. Tôi thấy cô đượm buồn, xanh tái và run rẩy. Cô đi đâu về thế này? Trời đã bắt đầu về khuya. Vào giờ này, người Mỹ thường lúng túng bối rối vì cuộc sống xung quanh họ không còn hối hả mà chỉ rung rung chậm lại. Một trong hai chiếc xe nằm trong ga-ra. Đây là thời điểm của những trò tâm sự nửa vời. Phải mau mau tranh thủ đi thôi. Chuẩn bị đưa tôi vào chuyện, cô hỏi ít câu về cuộc sống của tôi ở châu Âu với cái giọng rất khó chịu.
Cô không hề giấu giếm sự đánh giá của cô đối với tôi mà cô cho là kẻ có thể làm mọi việc đê hèn. Giả thuyết ấy của cô không làm tôi mếch lòng mà chỉ gây khó chịu. Cô cảm thấy rõ rằng tôi tìm đến cô chỉ cốt để moi tiền, chỉ một việc ấy thôi cũng đủ tạo mối ác cảm rất tự nhiên giữa chúng tôi. Những cảm giác ấy dễ đưa đến giết chóc. Chúng tôi dừng lại trong những chuyện nhạt phèo và tôi cố giữ để không xảy ra cãi vã quyết liệt. Trong câu chuyện, Lola bỗng chú ý tìm hỏi tỉ mẩn những hành động ngông nghênh của tôi về mặt sinh dục, xem trong cuộc đời lang bạt tôi có để rơi vãi đâu có một đứa con nhỏ để cô có thể tìm về nuôi. Quả là một ý nghĩ kỳ cục: cô mong được có một đứa con nuôi. Cô nghĩ khá đơn giản rằng một kẻ hư hỏng như tôi ắt phải lén lút vãi con ra hầu khắp gầm trời. Cô thổ lộ rằng tuy sẵn tiền sẵn của nhưng cô héo hắt vì nỗi không thể có một đứa con nhỏ để mà dành cả tình thương và lòng tận tụy của cô vào đó. Cô đã tìm đọc mọi thứ sách vở về khoa nuôi trẻ, nhất là những sách mà sự sinh đẻ được trữ tình hóa đến ngây ngất, đến mức mình tự buông thả đến chỗ hoàn toàn như thèm khát chuyện giao cấu. Ôi, mỗi nền đạo đức có thứ văn chương tởm lợm của riêng nó.
Thật bất hạnh cho tôi là cô chỉ mong muốn được chuyên chú vào sự hy sinh cho một “sinh vật nhỏ”, trong khi tôi lại là một sinh vật lớn mà cô thấy hoàn toàn đáng ghét. Tóm lại, chỉ có những cảnh tượng khốn khổ được trình bầy cho tốt, chuẩn bị kỹ càng bằng đủ thứ tưởng tượng thì may ra mới thành công. Câu chuyện đã đến lúc tàn, cuối cùng cô bảo tôi:
-À này, Ferdinand, chuyện trò thế đủ rồi. Tôi đưa anh sang bên kia New York, thăm một đưa nhỏ được tôi bảo trợ. Chăm sóc thằng bé thì cũng hay hay, nhưng chỉ bực mình về mẹ nó.
Khi ấy đã vào cái giờ kỳ cục. Trên đường, ngồi trong xe, chúng tôi nói chuyện về anh chàng da đen thảm hại của cô. Cô hỏi tôi:
-Cậu ta đã cho anh xem mấy quả bom chưa?
Tôi thú nhận là đã được qua thử thách ấy.
-Cậu ta chẳng có gì nguy hiểm đâu, Ferdinand ạ, gàn gàn tí thôi. Mấy quả bom ấy toàn nhồi bằng những tờ hóa đơn cũ của tôi thôi mà... Trước kia, ở Chicago, cậu ta đã có một thời... Hồi ấy cậu ta tham gia một hội kín rất đáng sợ nhằm mục đích giải phóng người da đen... Đó là tôi được nghe người ta kể lại, những người đáng khiếp.... Một nhóm bị chính quyền giải tán, và cậu da đen của tôi thì vẫn cứ nhớ đến mùi bom... Cậu ta không nhồi thuốc vào đấy bao giờ... Với cậu ta, ý chí là đủ rồi. Xét cho cùng thì cậu ta chỉ là một anh chàng nghệ sĩ... Cậu ta sẽ không bao giờ hết chuyện làm cách mạng đâu... Nhưng tôi vẫn giữ lại vì cậu ta là một gia nhân rất tuyệt! Và nói chung thì cậu ta có thể lương thiện hơn những kẻ khác không làm cách mạng...
Rồi cô lại quay về với chuyện kiếm con nuôi.
- Thật không may là anh không có đâu đó lấy một đứa con gái, Ferdinand ạ, loại người mơ mộng như anh thì dễ hợp với đàn bà, chứ với đàn ông chắc chẳng hay ho gì.
Trời đổ trận mưa như trút càng làm cho đường sá tối thêm, xe chúng tôi lướt trên dải đường dài bằng xi măng nhẵn nhụi. Mọi cái đều thù nghịch và lạnh lẽo với tôi, ngay cả bàn tay cô mà tôi vẫn nắm chặt trong tay. Ở đâu thì chúng tôi cũng cách biệt. Xe dừng lại trước một ngôi nhà bề ngoài khác hẳn ngôi nhà chúng tôi vừa rời khỏi. Trong một căn hộ trên tầng một, một đứa con trai chừng mười tuổi đứng dón sẵn cùng mẹ nó. Đồ đạc trong phòng theo kiểu thời vua Louis XV [95*], còn thoang thoảng mùi ninh hầm của một bữa ăn mới cất dọn. Thằng bé sán ngay vào lòng Lola và hôn rất âu yếm. Người mẹ cũng tỏ ra thích được vuốt ve Lola. Thế là trong lúc Lola chuyện trò với thằng bé, tôi thu xếp cùng người mẹ sang phòng bên.
Khi chúng tôi trở ra thì thằng bé đang còn diễn lại cho Lola xem một điệu nhảy nó mới học trong một lớp của nhạc viện. Lola bảo:
-Phải cho nó học thêm ngoài giờ, tôi có thể đưa nó đến nhà hát Thế giới, giới thiệu với chị bạn Véra của tôi! Thằng bé này có thể có tương lai!
Nghe những lời đầy khích lệ ấy, người mẹ vừa khóc vừa cảm ơn rối rít. Đồng thời chị ta cũng chìa tay đón nhận một tệp đô la xanh, nhét luôn vào ngực áo như một bức tình thư.
Ra ngoài đường rồi, Lola mới kết luận:
-Thằng bé này có thể vừa ý tôi, nhưng mẹ nó thì quá tinh quái, không thể cùng một lúc gánh chịu cả hai như thế. Hơn nữa, thằng bé cũng không ngoan lắm đâu... Tôi muốn có một tình cảm mẹ con thật sự... Anh có hiểu tôi không, Ferdinand?
Để có chỗ mà ăn thì tôi sẵn sàng hiểu mọi cái người ta muốn tôi hiểu. Đó không còn là sự đồng cảm mà là một thứ cao su.
Với điều ước muốn trong trắng của mình, cô không muốn đưa việc đó đi xa thêm nữa. Khi chúng tôi đã qua mấy dẫy phố xa xa, cô hỏi tôi đêm nay ngủ ở đầu rồi xuống đi bộ với tôi mấy bước. Tôi trả lời, nếu lúc này không kiếm đâu ra lấy vài đô la thì cũng chẳng có nơi nào mà ngủ. Cô bảo:
-Vậy thì anh cùng tôi về nhà, tôi sẽ cho anh ít tiền rồi anh muốn đi đâu thì đi.
Rõ ràng là cô có ý tống khứ tôi ngay trong đêm tối, càng nhanh càng tốt. Đó là chuyện bình thường. Tôi bảo thầm mình: Đã đến nước này, giữa đêm tối, thì dù thế nào cũng phải cố mà đạt được đâu hay đó. Một sự an ủi! “Dũng cảm lên nào, Ferdinand, tôi tự nhắc nhở, tự trấn an mình, đến đâu mày cũng bị xua đuổi, thì mày cũng phải tìm cho ra một ngón chơi nào đó để làm cho tất cả bọn chúng, bọn đểu cáng ấy phát khiếp lên như thể chúng cũng đang và sẽ phải lâm vào chỗ tận cùng đêm tối. Chính vì cái đó mà chúng không tới tận cùng đêm tối đâu!”
Sau đó, hoàn toàn lạnh lùng giữa hai chúng tôi ở trong xe của cô. Phố phường chúng tôi băng qua như đe dọa với cái im lặng được vú trang từ hòn đá dưới chân lên tận cõi vô cùng vô tận, một thứ đại hồng thủy đang lơ lửng. Một thành phố đầy cạm bẫy, một con quỷ đang rình rập, nhẽo nhoẹt trong nhựa đường và trong mưa. Cuối cùng, xe chạy chậm lại. Lola đi trước về phía cửa nhà cô. Cô mời tôi:
- Anh lên đi, anh lên với tôi!
Lại vào phòng khách của cô. Tôi tự hỏi không biết cô ta sẽ cho mình bao nhiêu để kết thúc cuộc gặp và tống khứ mình đi. Cô lục tìm những tờ bạc trong chiếc ví con đặt trên bàn. Tôi nghe tiếng đếm tiền sột soạt khá rõ. Vài giây đồng hồ! Cả thành phố này chỉ còn có tiếng đó. Trong khi ấy, tôi vẫn còn ngần ngại, cũng chẳng biết vì sao, trong việc định hỏi cô về sức khỏe của bà mẹ cô mà tôi quên khuấy đi mất.
Thấy tôi gợi đến chuyện ấy, cô quay ngoắt lại nhìn thẳng mặt tôi:
-Mẹ tôi đang ốm.
-Vậy bà đang ở đâu bây giờ?
-Ở Chicago.
-Bà ốm bệnh gì vậy?
-Ung thư gan... Tôi đang nhờ các bác sĩ hạng nhất của thành phố chữa chạy cho mẹ tôi... Việc này tốn kém lắm, nhưng các bác sĩ bảo là sẽ chữa được khỏi bệnh. Họ đã hứa với tôi điều đó.
Cô vội vã kể cho tôi biết nhiều chi tiết khác về bệnh tình bà mẹ cô ở Chicago. Bỗng nhiên cô trở nên rất dịu hiền, thân mật và không ngân ngại chờ mong ở tôi một vài điều an ủi. Tôi cầm tay cô.
-Thế nào anh Ferdinand, anh cũng tin được rằng họ sẽ chữa khỏi cho mẹ tôi chứ?
Tôi trả lời cô rõ ràng, dứt khoát:
-Không đâu. Ung thư gan là tuyệt đối không chữa khỏi được đâu.
Chính vì thế mà cô xanh tái đến tận lòng trắng mắt. Lần đầu tiên tôi thấy cô gái này bối rối đến mức ấy.
-Nhưng, Ferdinand ơi, tuy thế các bác sĩ chuyên khoa vẫn đảm bảo với tôi rằng mẹ tôi sẽ khỏi mà! Họ đã chứng minh với tôi... Họ toàn là các thầy thuốc danh tiếng, anh biết không?...
-Vì đồng tiền thì, Lola ơi, lúc nào mà chẳng có những thầy thuốc rất nổi tiếng... Ở vào địa vị họ, tôi cũng có thể hứa như thế với cô... Và cả cô nữa, Lola, cô cũng có thể làm như thế...
Cô như bỗng thấy những gì tôi nói là không chối cãi được, là hiển nhiên quá đi, nên cô cũng không dám tranh luận thêm nữa.
Đây là lần đầu tiên, lần duy nhất trong đời mà cô thấy là mình sắp bị nhụt chí.
-Ferdinand ơi, anh có biết anh đang gây cho tôi nỗi đau buồn vô hạn? Tôi yêu mẹ tôi lắm, anh biết là tôi yêu mẹ tôi nhiều chứ?...
Thế là đúng lúc đây! Khốn kiếp! Thiên hạ cần cóc gì bận tâm đến chuyện cô yêu hay không yêu mẹ cô!
Cô khóc nức nở một mình. Rồi giận dữ nói tiếp:
-Ferdinand, anh là một người hư hỏng thảm hại, không gì khác hơn là một người độc ác ghê tởm!... Để trả thù hèn hạ nhất cho cái tình cảnh bẩn thỉu của mình, anh đến đây để nói với tôi những chuyện khủng khiếp đó... Tôi chắc chắn rằng anh gây nhiều đau đớn cho mẹ tôi với những điều anh vừa nói!...
Cơn kích động của cô không hề làm cho tôi sợ hãi như đối với các tay sĩ quan trên tầu Đô đốc Bragueton, những tay định hãm hại tôi để làm trò vui cho mấy con mụ ăn không ngồi rồi.
Tôi chăm chú nhìn Lola trong khi cô gọi tôi bằng đủ thứ tên, còn tôi thì ngược lại lại có đôi chút tự hào khi nhận ra rằng cô ta càng nguyền rủa thì mình càng dửng dưng, càng vui thích hơn. Người ta vẫn tử tế ở phần bên trong mà.
Tôi tính toán: Muốn giũ bỏ được mình thì bây giờ cô ta phải đưa cho mình ít nhất là hai chục đô la... cũng có thể là hơn...
Tôi tấn công ngay:
-Lola ơi, cô làm ơn cho tôi vay tiền như cô đã hứa hay là cô để tôi ngủ luôn ở đây và cô sẽ được nghe tôi nhắc lại tất cả những gì tôi biết về bệnh ung thư, những biến chứng, những di truyền của nó, vì ung thư là một bệnh di truyền đấy, Lola ơi. Ta chớ quên điều ấy!
Tôi càng phân tích rõ ràng tỉ mỉ về căn bệnh của bà mẹ cô bao nhiêu thì càng thấy Lola tái mặt thêm bấy nhiêu, càng yếu lả mềm nhũn ra. Tôi nghĩ thầm: “Chà, con điếm, ta phải nắm lấy cho nhắc. Ferdinand, mày chỉ có một dịp này lần ra được đầu dây, chớ có buông tay... Còn lâu nữa thì mày cũng khó mà vớ được sợi thừng chắc như thế này đâu!...
Trong cơn bực bội tột độ, cô hét lên:
-Thôi đây, một trăm đô la của anh đây, cầm lấy, giữ lấy, và cút ngay đi, đừng bao giờ vác mặt đến đây nữa. Nghe cho rõ: đừng bao giờ! Out! Out! Out! [96*] Đồ con lợn bẩn thỉu!...
-Thì ta cũng hôn nhau cái đã chứ, nào Lola!... Chúng mình có giận gì nhau đâu! tôi đề nghị như vậy để xem cô ta căm ghét mình đến mức nào. Thế là cô rút luôn trong ô kéo ra khẩu súng lục và không để cười đâu nhé. Tôi lao vội ra cầu thang, không chờ gọi thang máy nữa.
Ấy thế mà nhờ cuộc xỉ vả dữ dội ấy, tôi lại khôi phục được cái ham thích lao động và ngập tràn dũng khí. Ngay hôm sau, tôi đáp xe lửa đi Detroit [97*], nơi mà người ta đảm bảo với tôi rằng sẽ dễ kiếm việc làm với nhiều công việc vặt không bấn bíu lắm mà lương lậu lại khá.
Những người qua đường nói với tôi cũng giống như tay trung sĩ đã nói với tôi ở trong rừng. Họ bảo rằng:
-Đấy! Cứ thẳng đường ấy anh không lạc được đâu. Nó ở ngay trước mặt anh đấy!
Quả là tôi đã thấy mấy ngôi nhà to lù lù nhưng thấp tịt, gắn kính kín mít, giống như những cái lông bẫy ruồi nối tiếp nhau vô tận, trong đó có thể nhận ra những con người động đậy nhưng như chẳng động đậy gì cả, đúng ra thì họ đang cựa quậy còn dưới cả mức yếu ớt để cố chống lại một cái gì đó vượt hẳn sức mình. Nhà máy ô tô Ford đây ư? Khắp tứ phía và trên đầu thì đến tận trời xanh cứ oang oang lên một thứ tiếng động nặng nề rất khó phân biệt, đinh tai nhức óc bởi những tiếng máy ầm ì như thác đổ, quay cuồng, rền rĩ, lúc nào cũng như sắp sửa phá phách nhưng lại chẳng phá phách cái gì bao giờ.
-Vậy là nó đây rồi, tôi tự nhủ... Chẳng có gì hứng thú cả. Thậm chí còn tồi tệ hơn tất cả những gì còn lại.
Tôi sáp lại gần hơn, đến tận cửa nhà máy, nơi treo tấm bảng đá đen viết rằng họ đang cần người.
Không chỉ có mình tôi đứng chờ. Một người trong số kiên trì chờ đợi ở đây nói rằng anh ta đã xếp hàng từ hai ngày nay rồi mà vẫn không nhích thêm được bước nào. Con người hiền hậu này từ Nam Tư sang kiếm việc làm. Một anh chàng khốn khổ khác ngỏ lời với tôi rằng anh ta kiếm việc làm ở đây chỉ cốt lấy vui thôi, xem ra anh chàng này là một tay gàn dở, bịp bợm đây.
Cái đám đông này hầu như không ai nói được tiếng Anh. Họ dò xét nhau như những con vật đa nghi và thường bị đánh đập. Từ đám đông ấy bốc lên mùi khai khắm lặm như ở nhà thương. Khi nghe họ nói là phải tránh xa miệng họ ra vì miệng kẻ nghèo vốn mang sẵn mùi chết chóc.
Trời lại đổ mưa xuống đám đông chúng tôi. Các hàng người dồn ép lại dưới những ống máng. Đã là những người đi kiếm việc làm thì dồn ép có gì khó đâu. Trong lúc tâm sự, một tay người Nga giải thích cho tôi rằng ở nhà máy Ford này có cái tốt là họ không kén chọn gì ghê gớm, bất kể là ai, bất kể ra sao, họ đều mướn tuốt. Nhưng tay ấy cũng nói thêm để tôi liệu bề cư xử:
- Chỉ có cái là cậu phải coi chừng, chớ có huênh hoang ở nhà máy này, cậu mà lên mặt ta đây là họ tống cổ ra rất nhanh, và người ta sẽ mau chóng lấy máy móc thay thế cậu, cái gì chứ máy móc thì ở đây họ luôn luôn có sẵn và câu sẽ nhận được lời chào buổi tối nếu cậu còn muốn quay lại đó.
Tay người Nga này nói sõi tiếng Pháp như dân Paris vì cậu ta đã từng chạy xe taxi nhiều năm và bị rỗng ruột sau một vụ bạch phiến ở Bezons, rồi đem xe đi đánh thò lò với một người khách ởBiarritz [98*] và anh ta đã thua nhẵn túi canh bạc này.
Đúng như lời giải thích của anh ta, nhà máy Ford thuê mướn bất cứ ai thật. Anh ta nói không sai. Tôi xưa nay là thằng vốn hay nghi ngờ, vì mấy anh chàng khốn khổ thường dễ hoang tưởng lắm. Trong cơn khốn khó, có lúc trí tuệ không còn đi đôi với thể xác, trí tuệ khó chịu với một cái thể xác như thế. Cho nên có lắm lúc anh tưởng như nói chuyện với một linh hồn, mà linh hồn thì làm gì có trách nhiệm.
Việc đầu tiên là họ lột truồng chúng tôi ra, tất nhiên là thế. Công việc khám sức khỏe tiến hành trong một thứ phòng xét nghiệm. Chúng tôi từ từ diễu đi. Một tay y tá nhòm kỹ tôi rồi buông lời nhận xét:
- Cậu này sức khỏe tồi lắm đây, nhưng chẳng sao.
Tôi lo không được họ nhận vào làm vì bệnh sốt rét Phi Châu, lỡ mà họ khám hai lá gan mình thì gay đấy! Nhưng ngược lại, hình như đã có những người còn tồi tệ hơn mà còn được họ nhận vào, thậm chí cả những người khuyết tật trong chuyến hàng này.
Lão y sĩ phòng khám nói luôn cho tôi yên lòng rằng:
-Đối với công việc anh sẽ được giao ở đây thì anh có tồi thế chứ tồi nữa cũng chẳng có gì quan trọng!
-Càng hay! tôi trả lời. Nhưng thưa ông, tôi có học thức và trước đây cũng có ít nhiều theo học ngành y...
Vừa nghe thấy vậy, lão ta nhìn thẳng vào mặt tôi với con mắt khó chịu. Tôi thấy mình lại hố thêm một vố nữa rồi, hại quá.
-Này chàng trai ơi, ở đây thì những cái học hành ấy chẳng giúp được gì cho cậu đâu. Cậu đến đây không phải để suy tư mà để động tác theo lệnh người ta ra cho cậu... Nhà máy này không cần đến những anh chàng giầu tưởng tượng. Chúng tôi chỉ cần những con vượn thôi... Thêm một lời khuyên nữa cho cậu, chớ bao giờ nhắc đến cái thông minh của cậu. Sẽ có người khác nghĩ cho cậu! Câu cứ tin chắc là thế đi!
Lão ta có lý trong việc phòng ngừa trước cho tôi như thế. Tốt nhất là tôi phải biết giữ gìn trước những tập quán của nhà máy này. Chuyện sai quấy thì trong thành tích của tôi kể đã có thừa cho mười năm nữa là ít. Nhưng từ nay tôi phải giữ mình như một kẻ bình thản nhỏ nhoi.
Sau khi mặc lại áo quần, chúng tôi được ghép lại với nhau thành từng hàng và ngập ngừng tiến bước vào những chỗ ầm ầm chát chúa tiếng máy chạy. Cả tòa nhà rộng lớn rung lên, ai cũng cảm thấy suốt từ chân lên tận hai màng nhĩ cứ rùng rùng như đang trong cơn động đất. Tiếng rung từ các ô kính, từ nền nhà và từ những đống sắt thép, dồn dập như từ trên trời dội xuống. Ngay cả con người cũng biến thành máy móc, từng thớ thịt rung rung trong cái tiếng động điên điên dại dại ghê gớm ấy, nó hút anh vào, quấn lấy đầu anh, xô đẩy lục phủ ngũ tạng anh, dồn lên tận hai con mắt bằng những cú nhỏ nhưng dồn dập, vô tận, không mỏi. Càng đi sâu vào thì bạn đồng hành cũng rụng dần. Chỉ đủ thì giờ hé với nhau nụ cười nhỏ trong giây phút chia tay tự coi như suôn sẻ cả. Không còn nói gì, nghe gì được lời nào của nhau. Sau mỗi cái chia tay chỉ còn lại ba bốn người đứng quanh cỗ máy.
Tuy thế cũng vẫn cứ muốn cưỡng lại, vứt bỏ cái thực thể mình đi đâu có dễ gì, người ta muốn hãm lại tất cả để suy nghĩ thêm cái đã, và để nghe tim mình đập, nhưng không còn được nữa rồi. Cái đó không còn chấm dứt được nữa rồi. Nó đang trong tai họa, cái nhà máy sắt thép này và bọn chúng tôi thì quay cuồng trong đó với các cỗ máy và với đất cát. Tất cả quay cuồng với nhau! Và hàng nghìn cái bánh lăn cùng những chiếc chày máy không bao giờ rơi xuống cùng lúc nhưng cái nọ đập lên cái kia và có những cái quá dữ dội gây ra quanh chúng những thứ chấm lặng khiến cho anh được dễ chịu đi một chút.
Chiếc xe goòng nhỏ chở đầy sắt thép luồn lách ngoằn ngoèo giữa các cỗ máy công cụ. Ai cũng phải thu mình lại, nhảy qua né tránh chiếc xe cuồng loạn ấy. Ê ếp! chiếc xe điên rồ đã quẫy xa hơn giữa những dây cua roa và những chiếc vô lăng, mang đến cho những con người ở đó thêm những suất lao động cưỡng bách.
Những người thợ gò lưng xuống lo sao thỏa mãn được hết mức những cỗ máy chán ngấy này, tra bu loong cho đúng loại hết cái này đến cái khác, tưởng đâu chỉ một lần là xong, với mùi dầu mỡ, với cái hơi nước đọng rát bỏng hai màng nhĩ, chọc vào tai xuống tận cổ họng. Không phải vì xấu hổ mà họ cúi đầu xuống đâu. Họ không cưỡng được tiếng ồn cũng như không cưỡng được chiến tranh. Họ đành buông trôi theo máy móc với ba cái ý nghĩ còn lại chập chờn lơ lửng trong đầu phía sau trán. Thế là xong. Bất kỳ chỗ nào họ nhìn đến, tất cả những gì họ mó vào, bây giờ đều là vật rắn hết, Và tất cả những gì họ còn nhớ lại được chút ít cũng đều cứng lại như sắt thép không còn ý vị gì trong suy tư nữa.
Chỉ thoáng một cái, người ta đã già đi ghê gớm.
Phải phá bỏ cuộc sống bên ngoài thôi, làm cho nó cũng trở thành sắt thép, thành cái gì đó có ích. Chính vì thế mà người ta không yêu lắm cái cuộc sống như nó đang có. Phải làm cho nó thành một vật dụng, bền chắc, đó là Quy tắc.
Tôi cố nói vào tai lão đốc công, nhưng lão càu nhàu trả lời như một con lợn và bằng những cử chỉ khá kiên nhẫn lão làm hiệu chỉ dẫn cho tôi thao tác đơn giản nhất mà từ nay tôi sẽ phải tiếp tục làm mãi. Những giờ, những phút, cả thời gian còn lại của tôi cũng như của những người ở nơi này đều trôi đi trong việc vặn bu loong vào những cái chốt nhỏ không cần phải suy nghĩ gì cả, như lão đốc công đã từng làm trong nhiều năm, cũng những cái chốt ấy. Tôi bắt tay vào việc nhưng làm rất dở. Không ai quở mắng gì, chỉ có là sau ba ngày làm công việc ban đầu ấy, tôi bị chuyển sang việc ì ạch đẩy một chiếc xe rùa chở đầy những rông đen qua hết máy này sang máy khác. Chỗ kia, tôi đưa ba cái, chỗ này một tá, đằng nọ chỉ năm cái thôi. Không ai nói với tôi một lời. Người ta như chỉ còn tồn tại trong sự ngập ngừng giữa ngất ngây và hoang tưởng. Không có gì quan trọng hơn là sự ồn ĩ liên tục của hàng nghìn, hàng nghìn cỗ máy đang làm chủ con người.
Sáu giờ, mọi cái dừng lại nhưng người ta vẫn còn mang trong đầu cái tiếng động ấy, suốt cả đêm tôi vẫn thấy tiếng động và mùi dầu mỡ như là người ta đã thay cho tôi một cái mũi mới, một bộ não mới.
Thế là tự mình buộc phải quên mình đi, dần dần tôi như biến thành một người nào khác... Một Ferdinand mới. Chỉ có mấy tuần lễ thôi. Tuy nhiên cái thèm muốn được thấy lại những con người ngoài kia lại đến với tôi. Tất nhiên không phải những người bạn cùng phân xưởng, họ cũng chỉ còn là những tiếng vang, những mùi vị của máy móc như tôi, những tảng thịt rung rung lên đến tận cõi vô cùng vô tận. Tôi muốn được sờ mó vào một thân hình thật, một thân hình hồng hồng của cuộc sống thật, yên lặng và mềm mại.
Tôi không quen biết ai ở thành phố này, đàn bà lại càng không. Với khá nhiều vất vả, cuối cùng tôi cũng kiếm được địa chỉ hú họa của một “Nhà”, một nhà thổ lậu ở khu Bắc thành phố. Mấy tối liền, sau giờ tan tầm, tôi đi dạo về phía ấy để thăm dò. Phố ấy cũng giống phố khác, có lẽ được giữ gìn sạch sẽ hơn phố tôi đang ở.
Tôi đã mò ra ngôi nhà nhỏ, nơi làm cái việc ấy, có vườn bao quanh. Muốn vào đó, phải phóng cho nhanh, không để lọt vào mắt tên cớm quanh quẩn đứng gác gần cửa. Đây là nơi đầu tiên ở Mỹ tôi được đón tiếp không thô bạo, mà còn tử tế nữa, với năm đồng đô la của tôi. Toàn là đàn bà trẻ đẹp, múm mĩm, phây phây, duyên dáng, hơn nữa có lẽ cũng đẹp chẳng kém đám các cô ở Laugh Calvin.
Mà những cô này thì chí ít mình cũng còn thật sự sờ mó được. Tôi không thể không trở thành khách quen của nhà này. Lương lậu còn bao nhiêu dốc sạch vào đây. Tối đến, để làm lại tâm hồn, tôi lại phải tìm đến những cuộc chung đụng tình dục với mấy cô gái niềm nở xinh đẹp này. Chiếu bóng không còn đủ nữa rồi, chỉ còn là liều thuốc giải độc không công phạt, không hiệu quả thật sự để chống lại sự hành hạ vật chất tàn bạo ở nhà máy. Muốn kéo dài sức chịu đựng thì phải dùng đến những liều thuốc bổ thật mạnh, những liều thuốc xổ chính yếu. Nhà chứa này lấy tôi nhè nhẹ thôi, đối đãi thân tình, vì tôi đem từ Pháp sang cho những cô gái ấy những khóe chơi, những trò lạ. Chỉ vào tối thứ bẩy, tạm xếp những trò ấy lại, để họ còn làm ăn, và tôi phải dành chỗ cho họ tiếp các đội bóng chày đi chơi gái. Bọn này khỏe khoắn, lực lưỡng, cái món “hạnh phúc” đến với họ cũng đơn giản như hít thở không khí.
Trong khi các cô gái tiếp các đội bóng thì tôi chui vào bếp, cao hứng viết vài mẩu truyện ngắn cho riêng mình. Sự hăng say của các nhà thể thao đối với các cô gái ở đây tất nhiên không tác động gì đến cái nhiệt tình có phần vô hiệu của tôi. Các tay lực sĩ ấy yên chí trong thể lực của họ, ỷ vào sự hoàn hảo vật chất. Sắc đẹp, cũng giống như rượu cồn hay sự tiện nghi, càng quen thì người ta càng không còn để ý gì nữa.
Họ đi nhà thổ cũng chỉ cốt đùa nghịch. Thường khi họ còn đánh nhau ra trò đến nỗi cảnh sát phải kéo đến tóm cổ cả lũ tống lên những chiếc cam nhông nhỏ.
Trong số các cô gái trẻ ở đây, tôi có ngay một tình cảm đặc biệt tin cậy đối với Molly, một thứ tình cảm mà những người ủy mị coi là tình yêu. Tôi còn nhớ rõ, như mới hôm qua, những lời lẽ cử chỉ dễ thương của cô, đôi chân dài, hồng nhạt và tuyệt nhất là thon thả, rắn chắc, một đôi chân quý phái. Có thể nói là một thứ quý tộc nhân bản chân chính. Đôi chân ấy đã phong tước cho cô, không lầm đâu.
Chúng tôi trở nên thân thiết với nhau cả thể xác lẫn tinh thần và hai đứa đưa nhau đi dạo thành phố mỗi tuần vài giờ. Cô bạn có nguồn thu khá dồi dào, vì ở nhà đó cô kiếm mỗi ngày chừng một trăm đô la, còn tôi, ở nhà máy Ford, chỉ được có sáu. Cái thứ ái tình cô phải thực hành để kiếm sống không làm cho cô mệt mỏi bao nhiêu. Dân Mỹ làm chuyện ấy giống như chim thôi mà.
Buổi chiều, sau những giờ lao động với chiếc xe rùa chở nặng, tôi buộc phải làm cho bộ mặt của mình trở nên dễ thương hơn để đến tìm cô sau bữa ăn tối. Ít nhất trong những buổi ban đầu mình cũng phải vui vẻ với phụ nữ. Tôi bị ám ảnh bởi một thèm muốn lớn mơ hồ là định để nghị với cô một vài cái gì, nhưng không còn sức nữa. Cô hiểu rõ việc làm hư con người của công nghiệp. Molly đã quen tiếp xúc với cánh thợ.
Một tối, chẳng vì chuyện gì cả, bỗng cô đưa tôi năm chục đô la. Trước hết tôi nhìn cô. Tôi không dám. Tôi nhớ đến lời mẹ tôi trong một trường hợp tương tự. Và rồi tôi nghĩ đến mẹ tôi, một người nghèo, chẳng bao giờ cho tôi được nhiều đến thế. Để Molly vui lòng, tôi đi mua ngav một bộ com-lê đẹp màu phấn hồng (four piece suit) [99*] theo mốt mùa xuân của năm ấy. Chưa bao giờ người ta thấy tôi đi nhà thổ mà quần áo bảnh bao như thế. Mụ chủ cho chạy cái máy hát lớn, chỉ để tôi học khiêu vũ.
Sau đó, chúng tôi đi xem chiếu bóng với Molly để ăn mừng bộ quần áo mới của tôi. Dọc đường, cô hỏi tôi có hay ghen không, vì bộ com lê khiến tôi có vẻ buồn, và có vẻ không muốn trở lại nhà máy nữa. Một bộ quần áo mới, nó làm đảo lộn các ý niệm của anh. Cô gắn lên bộ quần áo của tôi những nụ hôn tha thiết, khi không thấy người đi đường nhìn vào chúng tôi. Tôi thì đang nghĩ đến chuyện khác.
Dẫu sao Molly cũng là một người đàn bà lạ thật! Rộng lượng làm sao! Làn da mới đẹp sao! Tuổi thanh xuân tràn ngập! Một bữa tiệc thịnh soạn của những ham muốn đã bầy ra! Và tôi lại băn khoăn, tôi nghĩ: ma-cô chăng?
Vả lại, Molly lại còn khuyến khích tôi:
- Đừng đến nhà máy Ford nữa anh ạ! Tốt hơn hết là kiếm một việc gì ở văn phòng nào đó... Như dịch thuật chẳng hạn, hợp với anh đấy... Anh yêu thích sách lắm mà...
Cô khuyên nhủ tôi rất tử tế, cô muốn tôi được hạnh phúc. Lần đầu tiên có một người quan tâm đến tôi, có thể nói là từ đáy lòng, theo cái vị kỷ của tôi và đặt vào địa vị của tôi chứ không chỉ đánh giá theo địa vị của cô, như tất cả những người khác.
Chà, giá mà tôi được biết Molly sớm hơn, khi còn đủ thời giờ để lựa chọn cho mình đường này hay đường khác! Trước khi tôi bỏ mất lòng hăng say của mình vào cái con điếm Musyne và vào cục cứt Lola! Nhưng đã quá muộn để tôi làm lại tuổi xanh cho mình. Tôi không còn tin vào chuyện đó nữa. Người ta già đi quá nhanh và không thể cứu vãn được nữa. Người ta nhận ra điều đó bằng cái cách đã từng dùng để bất đắc dĩ yêu lấy cái nghèo cái khổ của mình. Chính do thiên nhiên mạnh hơn anh, tất cả là thế. Thiên nhiên đã thử thách chúng ta vào đó rồi thì chẳng còn lối nào thoát được đâu. Tôi thì tôi đã ra đi theo chiều hướng lo âu khắc khoải. Người ta lặng lẽ coi là thực cái vai trò và số phận của mình mà không hay biết, đến khi quay lại, có muốn thay đổi, thì đã quá muộn mất rồi. Thế là đâm ra lo âu và mãi mãi đành lòng vậy thôi.
Molly cố sức một cách đáng yêu giữ lấy tôi lại bên cô, cố sức can ngăn tôi...
- Ferdinand ơi, anh nên biết là cuộc sống ở đây cũng khá tốt như bên châu Âu! Chúng ta sẽ không phải khổ với nhau đâu. Chúng ta sẽ dành dụm... rồi mua lấy một tiệm buôn... Chúng ta sẽ như mọi người...
Cô nói những điều ấy để làm dịu các đắn đo suy tính của tôi. Những dự định. Để cô phải tiếp tục hiến thân để nuôi tôi thì nhục nhã cho tôi quá. Tôi rất yêu cô, chắc chắn là thế, nhưng tôi cũng còn yêu hơn nữa cái tật xấu của tôi, tức là cái ham muốn được lang bạt khắp nơi, để đi tìm cái gì tôi cũng không biết, có lẽ bởi một niềm tự hào ngốc nghếch, bởi niềm tin vào một sự cao cả nào đó.
Tôi tránh không muốn làm mếch lòng cô, cô hiểu và đã đoán trước được băn khoăn của tôi. Cô thật là tử tế, tôi thú nhận với cô cái tật giang hồ đây đó luôn luôn giày vò tôi. Cô lắng nghe tôi ngày này qua ngày khác phô trương, kể lể những chuyện chán ngấy, bàn cãi những ảo ảnh và những kiêu hãnh, và cô không hề sốt ruột, mà ngược lại. Cô chỉ ra sức giúp tôi khắc phục được mối lo lắng vô ích và ngây thơ ấy. Cô không hiểu được hết tôi muốn đi đến đâu với những lời lảm nhảm đó, nhưng dù vậy cô cũng cứ cho tôi cái lý lẽ để chống lại những bóng ma hay đi theo những bóng ma, tùy tôi lựa chọn. Chỉ với sự dịu dàng âu yếm đầy sức thuyết phục, thì lòng tốt của cô đối với tôi cũng đã trở thành gần gũi và gần như riêng tư. Và hình như cũng bởi thế mà tôi bắt đầu tìm cách giấu biến cái số phận không bình thường, cái lý do tồn tại theo cách gọi của tôi, từ đó tôi bỗng thôi không kể cho cô nghe những gì tôi suy nghĩ. Tôi lại chỉ mình với mình thôi, tự bằng lòng cảnh cô đơn với một phong cách cùng quẫn mới, và với cái gì đó tương tự một thứ tình cảm thật.
Tất cả đều tầm thường sáo rỗng. Nhưng Molly lại được Trời phú cho một đức tính kiên nhẫn thánh thiện. Cô tin vững như sắt thép vào những xu hướng tự nhiên. Chẳng hạn như chuyện thấy đứa em gái út ở Đại học Arizona mê chụp ảnh những con chim trong tổ và những con thú trong hang. Thế là, để giúp em tiếp tục theo đuổi các lớp huấn luyện thứ kỹ thuật đặc biệt kỳ cục ấy, hàng tháng cô gửi cho em bốn mươi đô la.
Thật là một trái tim bao là vô tận, với cao cả thật ở bên trong, trái tim ấy có thể biến hóa thành tiền bạc, chứ không lòe loẹt vờ vĩnh như trái tim tôi và nhiều trái tim khác. Đối với tôi, Molly không hỏi han gì hơn là sự quan tâm đến vấn đề tiền nong cho cuộc phiêu lưu tồi tệ của tôi. Tuy rằng lúc lúc tôi lại thể hiện trước mặt cô như một gã trai rối trí, nhưng cô cảm thấy niềm tin của tôi là có thật và đáng khuyến khích. Cô chỉ yêu cầu tôi làm cho cô một bản kê nhỏ để cô dành một khoản trợ cấp cho tôi. Nhưng tôi thì không sao tự giải quyết được việc tiếp nhận món quà này. Cái hơi hướng tế nhị cuối cùng ấy đã ngăn tôi đừng hưởng trước như thế nữa và đừng đắn đo suy tính nữa đối với con người thật là đạo đức, thật là tử tế này. Chính vì thế mà tôi càng suy nghĩ càng thấy lo lo trước ông Trời.
Hồi ấy, thật hổ thẹn là tôi còn đôi lần tìm cách trở lại nhà máy Ford. Đó chỉ là thói anh hùng rơm không có hậu. Tôi mò đến đúng trước cổng nhà máy, nhưng dừng lại ở chỗ từng đến hôm đầu, và nhìn cái cảnh tượng tất cả những cỗ máy đang quay và chờ đợi kia đã thấy nó dứt khoát triệt tiêu những ý định lao động chớm nở trong tôi.
Tôi đứng yên trước tấm kính lớn ở khu máy phát điện trung tâm, cái cỗ máy khổng lồ đa dạng gầm rú bơm bơm đẩy đẩy không biết từ đâu, không biết thế nào, qua hàng nghìn đường ống bóng loáng, nhằng nhịt, quanh co như những sợi dây rừng. Một buổi sáng, tôi cũng đang đứng như thế ngắm nghía đến sùi bọt mép thì gặp tay người Nga lái taxi đi ngang qua. Tay ấy bảo tôi:
- Chà, trông cậu cũng ra dáng đấy chứ nhỉ... Đã ba tuần nay không thấy cậu đến... Họ đã thay cậu bằng cái máy rồi... Tớ đã bảo trước mà...
Tôi nhủ thầm:
-Thế cũng là xong... Không còn phải trở lại đây nữa...
Thế rồi tôi đi về phía Thành phố. Qua lãnh sự quán, tôi ghé vào hỏi thử xem họ có nghe nói bao giờ đến một người Pháp tên là Robinson. Họ trả lời tôi:
-Có chứ! Rất chắc chắn là thế! Anh ta còn đến ngay đây gặp chúng tôi hai lần, và anh ta mang giấy tờ giả mạo... Cảnh sát đang truy lùng! Anh biết anh ấy à?
Tôi chẳng cố nài. Nhưng từ đó tôi mỗi lúc lại trông chờ được gặp cậu Robinson. Tôi cảm thấy là việc ấy sẽ đến. Molly tiếp tục dịu dàng và khoan dung. Cô còn tử tế hơn cả trước nữa, từ khi tin chắc rằng tôi có ý muốn đi hẳn. Kể thì tử tế với tôi cũng chẳng được gì. Với Molly, chúng tôi thường cùng nhau ra các vùng ngoại ô thành phố, trong những buổi chiều cô được nghỉ.
Trên những mỏm đồi nhỏ trọc, bên những khóm bạch đàn quanh mấy cái hồ con con, chỗ này chỗ kia, người ta giở đọc những tờ báo, tờ tạp chí dưới khoảng trời âm u trĩu nặng những đám mây sạm màu chì. Với Molly, chúng tôi tránh những chuyện tâm sự rắc rối. Thế rồi cô cũng giữ ý tứ. Cô quá thật thà để có thể nói nhiều điều về một nỗi buồn. Nhưng cô giữ trong lòng, coi như thế là đủ. Chúng tôi hôn nhau. Nhưng tôi hôn hơi gượng gạo, vì thật ra thì tôi phải quỳ gối mới đúng. Luôn luôn cùng lúc tôi nghĩ chút ít đến chuyện khác, để khỏi bỏ mất thì giờ và mất sự dịu dàng, như thể tôi muốn giữ lấy tất cả những cái tuyệt diệu, cao cả cho sau này, không phải cho Molly mà cũng không phải cho cái đó. Như thể cuộc sống sắp đem đi, sắp che giấu tôi điều tôi muốn được biết về cô, về cuộc sống trong sâu thẳm của đêm tối, trong khi tôi có lẽ đánh mất cái nhiệt tình ôm hôn Molly, trong lúc tôi không còn đủ nhiệt tình đó và có thể là tôi đã mất tất cả rút cục chỉ do không còn đủ sức, bởi cuộc sống có lẽ đã lừa gạt tôi cũng như tất cả những người khác. Cuộc Sống, bà chủ thật sự của những con người chân chính.
Chúng tôi quay lại phố đông và rồi tôi phải tạm biệt cô trước ngôi nhà, bởi vì buổi tối cô còn bận việc tiếp khách cho đến sáng tinh mơ. Trong khi cô bận bịu với khách khứa, tất nhiên tôi cũng khổ tâm, và nỗi khổ tâm ấy càng nói rõ về cô, tôi cảm thấy đối với tôi như thế lại còn hay hơn cả trong thực tế. Tôi vào một rạp chiếu bóng để giết thời giờ. Ra khỏi rạp, tôi lên một chiếc xe điện, đi đây đi đó, làm một chuyến đi chơi trong đêm tối. Chuông vừa điểm hai giờ sáng, xe thêm những hành khách mới rụt rè nhút nhát, họ thuộc loại người mà chúng ta hầu như không gặp được trước hay sau giờ này, người nào cũng xanh xao, lì xì, từng nhóm một dễ bảo, họ đi ra tận các ngoại ô.
Với họ ta còn đi xa. Thật xa, hơn cả đến các nhà máy, mà đến các lô đất không rõ ràng, những ngõ ngách với những căn nhà không phân biệt được. Trên vỉa hè đọng những vũng nhỏ nước mưa lúc rạng đông, trời cũng mới ló trên nền còn xanh thẫm. Các bạn cùng đi chuyến xe với tôi biến dần cùng với bóng họ. Họ nhắm mắt lại trước ánh ban mai. Thật khó mà gợi cho họ nói, những cái bóng đó. Quá mỏi mệt rồi mà. Họ không phàn nàn gì đâu, không, chính họ đã quét dọn lau chùi các cửa hàng và cả các văn phòng khắp trong thành phố, sau giờ đóng cửa. Hình như họ ít lo lắng hơn cả chúng ta, những người của ban ngày. Có lẽ vì họ đã đạt tới chỗ thấp nhất của con người và mọi vật.
Trong cũng một đêm như thế, tôi đi một đường xe điện khác. Vừa tới trạm cuối cùng, trong khi mọi người đang thận trọng xuống xe thì hình như có ai gọi đến tên tôi: “Ferdinand! Ê này Ferdinand!”. Trong lúc tranh tối tranh sáng, tiếng gọi gây nên một sự ồn ĩ rùm beng. Tôi không thích thế. Phía trên các mái nhà đã ló ra những khoảng trời nho nhỏ khá lạnh, cắt ngang bởi những ống máng. Chắc chắn là người ta gọi tôi. Tôi quay lại, nhận ngay ra Léon. Hai đứa thầm thì kể cho nhau mọi chuyện.
Cậu ta cũng vừa cùng những người khác đi quét dọn một văn phòng. Mọi thủ đoạn cậu ta tìm được ra là đó. Cậu ta bước những bước chân khá bình tĩnh, có phần oai oai nữa, như là vừa hoàn thành những việc nguy hiểm và có thể nói là thiêng liêng trong thành phố. Vả lại đó cũng là kiểu cách của tất cả những người quét dọn ban đêm mà tôi để ý thấy. Trong cái mệt mỏi và cô quạnh thì từ con người thường toát ra cái vị thánh thần. Và cái vị ấy đang bốc lên đầy hai mắt khi cậu ta mở rõ thật to hơn những cặp mắt thường, trong cái bóng mờ mờ xanh mà chúng tôi đang đứng. Cậu ta cũng đã quét dọn cơ man nào là hố xí, lau chùi bóng lộn những tầng gác cao lặng lẽ.
Cậu ta nói tiếp:
-Tớ nhận ra cậu ngay, Ferdinand! Cái dáng điệu trèo lên xe điện... Nghĩ mà xem, chỉ cái dáng điệu ấy thôi cũng đủ biết cậu đang buồn vì không tìm đâu ra đàn bà. Đúng không? Cậu không thích à?
Đúng là tôi thích chứ. Rõ ràng là lòng dạ tôi đã bị phanh ra như cái cửa quần. Không có gì làm tôi ngạc nhiên trước nhận xét đó của cậu ta. Nhưng đối với tôi cái bất ngờ lại ở chỗ là đến cậu ta mà cũng chẳng làm nên tích sự gì trên đất Mỹ này. Thật là ngoài dự đoán của tôi.
Tôi kể lại chuyện đi thuyền ga-le ở San Tapeta. Nhưng cậu ta ngớ ra không hiểu tôi nói gì và chỉ trả lời tôi bằng nhận xét: “Cậu bị sốt rét!”. Vì Robinson đến Mỹ trên một tầu biển chở hàng. Cũng đã nhiều lần muốn tìm đến hãng Ford xin việc nhưng giấy tờ giả mạo rõ quá không dám xuất trình nên cậu lại thôi. “Đúng là phải kiếm lấy đồng tiền”, cậu nói. Vào các đội quét dọn thì cái món lý lịch không bị đòi hỏi kỹ lắm. Lương không bao nhiêu nhưng cũng đành thế thôi. Đây là một thứ đội quân làm đêm người nước ngoài. Cậu hỏi tôi:
-Còn cậu, cậu làm gì? Cậu vẫn khùng khùng chứ? Chưa đủ mánh lới à? Có còn định ngao du nữa không?
-Tớ muốn về Pháp đây, tôi trả lời. Tớ thấy đã đủ rồi, cậu có lý, được chứ...
-Cố lên cậu ạ, cậu nói, đối với chúng mình thì mọi cái đều tong cả rồi... Người ta già đi lúc nào không hay, tớ thì tớ biết rõ nó thế nào... Tớ cũng muốn tếch về Pháp lắm, nhưng vẫn là cái chuyện giấy tờ. Phải chờ thêm ít nữa để xoay lấy những giấy tờ đúng đã... Cũng không thể nói rằng công việc mình đang làm là tồi. Còn lắm việc tồi hơn thế. Nhưng tớ không có học cái tiếng Anh... Từ ba chục năm nay trong cái nghề quét dọn này chúng tớ chỉ học nhõn một từ Exit gắn trên cửa, và từ Lavatory [100*].Cậu hiểu chứ?
Tôi hiểu. Nếu tôi không luôn luôn mong nhớ Molly thì tôi cũng kiếm cái việc làm đêm này.
Rút cục, trong chiến tranh người ta bảo đến lúc hòa bình sẽ sống tốt hơn, thế rồi cùng nhau ngậm cái hy vọng đó như ngậm kẹo, nhưng rồi thì chẳng có gì khác một cục cứt. Trước đây người ta chẳng dám nói ra cái của ấy vì không muốn gây tởm lợm cho ai. Tử tế cả thôi mà! Nhưng đến một ngày nào đó cũng đành phải đập vỡ cái cục ấy ra trước thiên hạ. Ngán đến tận cổ rồi, ai còn muốn quay lại với cái cùng cực ấy nữa. Và cũng vì thế mà mọi người bỗng nhận ra mình quả là kém giáo dục. Thế là hết!
Sau đó chúng tôi còn hai ba lần gặp nhau. Tôi thấy vẻ mặt Robinson buồn buồn. Một tay người Pháp đào ngũ sang đây nấu rượu lâu bán cho bọn nhóc ở Detroit, tay này nhường cho cậu ta một cái quầy nhỏ trong món “kinh doanh” của mình. Kể thì khá hấp dẫn đối với Robinson. Cậu ta thổ lộ:
- Tớ cũng hơi làm được chuyện ấy, tớ vốn là thằng “ngang ngược” trước bộ mặt ghê tởm của chúng nó, nhưng cậu thấy đấy, gan dạ tớ đã xẹp mất rồi... Cứ nghĩ đến chuyện bị thằng cớm đầu tiên nó hành là đã đủ hết hơi rồi. Đã quá nhiều cảnh đập vào mắt tớ... Lại còn cái tội là lúc nào cũng thèm ngủ... Ngủ ngày có phải là ngủ đâu... Ấy là chưa kể đến bụi bậm ở các bàn giấy nó ám vào đầy phổi... Cậu có biết không?... Cái ấy làm chết người được đấy...
Lại hẹn nhau một đêm khác. Tôi quay về tìm Molly và kể hết cho cô nghe. Cô cố sức giấu nỗi buồn phiền do tôi gây ra, nhưng có khó khăn gì mà không thấy được tâm trạng cô. Bây giờ thì tôi đã thường hôn cô nhiều hơn, để đáp lại nỗi buồn sâu lắng của cô, một nỗi buồn thật sự chứ không mầu mè như các cô gái xứ ta đâu, thường có cái thói tố lên quá cái nó có thật. Phụ nữ Mỹ họ ngược lại. Họ không dám hiểu sâu mà chỉ chấp nhận. Hơi tủi thẹn một tí, nhưng dù sao đó thật là một nỗi buồn, không phải là làm cao cũng không phải ghen tuông hay vờ vịt, chỉ là nỗi đau thật trong tim và phải nói thẳng với nhau rằng tất cả cái đó không có được trong nội tâm chúng ta và đối với cái thú được buồn thì chúng ta khô khan lắm. Thật xấu hổ là không được giầu có trong tim và trong mọi cái khác thế mà cứ đi đánh giá bản chất con người thấp hơn thực chất sâu xa của nó.
Thỉnh thoảng Molly cũng trách móc tôi ít chút, nhưng luôn luôn với lời lẽ rất cân nhắc, rất đáng yêu.
-Ferdinand ơi, anh tốt quá, em biết rằng anh có nhiều cố gắng để không trở nên độc ác như những người khác, có điều là em không biết anh có biết được mong muốn thực sự của anh là gì không... Anh suy nghĩ kỹ đi! Về bên ấy anh cũng còn phải kiếm lấy miếng ăn chứ, Ferdinand... Hơn nữa anh không còn được như ở đây rong chơi mơ mộng đêm này qua đêm khác... Như anh rất thích thế... Trong khi em phải làm việc... Anh có nghĩ đến việc đó không, Ferdinand?
Theo một nghĩa nào đó thì cô nghìn lần có lý, nhưng mỗi người mỗi tính. Tôi sợ xúc phạm cô. Hơn nữa, cô lại là người rất dễ tự làm đau mình.
-Tôi đảm bảo với em là tôi rất yêu em, Molly ơi, và tôi mãi mãi yêu em... như tôi có thể... theo cách của tôi.
Cách của tôi, chẳng là bao. Dù thế nào thì Molly cũng là xương là thịt, rất quyến rũ. Những tôi lại có cái khuynh hướng tồi tệ thiên về những bóng ma. Có lẽ đó hoàn toàn lỗi tại tôi. Cuộc sống buộc anh quá nhiều khi phải tồn tại với những bóng ma.
-Anh rất trìu mến, Ferdinand, đừng khóc cho thân phận em... Anh như người mắc phải bệnh ham muốn luôn luôn được hiểu biết nhiều hơn... Chỉ thế thôi... Mà đó phải là con đường của anh... Theo cách đó, chỉ một mình... Người lữ hành đơn độc thường là người đi xa hơn... Vậy là anh sắp ra đi ư?
-Vâng, tôi phải hoàn thành việc học tập ở Pháp, rồi tôi sẽ trở lại, tôi đánh liều cam đoan với cô.
-Không, Ferdinand, anh không trở lại đâu. Mà em cũng sẽ không còn ở đây nữa...
Cô không phải là người dễ bị lừa.
Ngày ra đi đã tới. Tối hôm ấy chúng tôi ra ga sớm trước giờ cô phải về ngôi nhà đó. Cả ngày hôm ấy tôi đã đến chuyện trò từ biệt Robinson. Cậu ta cũng không thích gì việc tôi rời bỏ cậu ta. Tôi không thể kéo dài mãi cuộc vĩnh biệt mọi người. Trên bến ke của nhà ga, trong lúc tôi cùng Molly đứng chờ tầu, có mấy gã đàn ông làm như không nhận ra cô nhưng họ thì thầm với nhau nhiều chuyện.
-Anh ơi, thế là anh sắp xa rồi, Ferdinand. Có phải anh đang thực hiện đúng ước vọng của anh không, Ferdinand? Đó mới là cái quan trọng... Chỉ có cái đó mới đáng kể...
Tầu đã vào ga. Tôi không còn tin chắc lắm vào cuộc phiêu lưu của mình khi thấy cái đầu máy. Tôi ôm hôn Molly với tất cả những gì còn là dũng cảm trong người. Tôi đau buồn, thật sự, cho một lần, cho tất cả, cho tôi, cho em, cho mọi người.
Có thể đó là cái mà người ta tìm kiếm trải qua cuộc sống, chỉ có cái đó, nỗi buồn lớn nhất có thể có để trở thành bản ngã trước khi nhắm mắt.
Nhiều năm đã trôi qua kể từ cuộc ra đi ấy và rồi lại thêm nhiều năm nữa... Tôi đã nhiều lần viết thư về Detroit, hơn nữa viết đến tất cả các địa chỉ tôi còn nhớ và những nơi mà người ta có thể biết, có thể chuyển tiếp đến Molly. Chẳng bao giờ tôi nhận được hồi âm.
Nhà ấy bây giờ đã đóng cửa. Tất cả những gì tôi có thể biết chỉ có thế. Molly tốt bụng và đáng phục, tôi muốn sao em còn đọc được những gì tôi viết, từ một nơi nào đó tôi không được rõ, muốn được em biết cho rằng với em tôi không có gì thay đổi, rằng tôi vẫn mãi mãi yêu em, theo cách của tôi, rằng em có thể đến đây khi nào em muốn để chia sẻ với tôi mẩu bánh và cái số phận thầm kín. Dẫu sắc đẹp của em có tàn phai thì cũng chẳng sao! Chúng ta với nhau thế nào cũng xong cả! Tôi vẫn giữ trong mình biết bao cái đẹp của em, rất sống động, rất ấm áp để cho cả hai đứa chúng ta và cho ít ra cũng hai mươi năm nữa, cái thời gian để kết thúc.
Để rời được em ra, hôm ấy tôi đã phải làm bộ mặt điên dại và lạnh lùng tồi tệ. Dẫu sao tôi vẫn bảo vệ được tâm hồn mình cho đến ngày nay và nếu như mai đây cái chết có đem tôi đi, thì tôi cũng cứ tin chắc rằng tôi sẽ không bao giờ lại lạnh lùng, hư đốn, nặng nề như những kẻ khác, với biết bao sự tử tế và bao mộng mơ Molly đã trao cho tôi trong suốt những tháng sống trên đất Mỹ.