Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối

Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 25

❊ ❊ ❊

Chừng nào không tự dối được mình, thì người đời chẳng có gì để nói với nhau, mà chỉ kể khổ cho nhau nghe, dĩ nhiên là thế. Ai có phận nấy, trái đất là cho tất cả mọi người. Họ tìm cách giũ cái khổ của mình sang người khác, vào lúc yêu đương, nhưng dù có khéo léo thế nào thì việc ấy cũng không thành, họ giữ lại toàn bộ cái khổ của mình, và rồi lại làm tiếp, một lần nữa lại tìm cách đặt nó vào đâu. Họ bảo: “Cô xinh đẹp, cô ơi”. Và cuộc sống lôi kéo họ đi, cho đến một lần khác họ lại thử cái mẹo vặt ấy. “Cô ơi, cô xinh đẹp lắm!...”

Thế rồi, giữa lúc anh huênh hoang tưởng mình đã giũ bỏ được hết nỗi khổ thì mọi người lại biết tỏng ra rằng chỉ là láo khoét, anh vẫn đang còn phải ôm lấy nó thật sự. Với cái trò ấy trong lúc mỗi ngày mỗi già, thì anh cũng ngày càng xấu xí, ghê tởm hơn và không còn biết giấu đi đâu nỗi khổ và sự kiệt quệ của mình, kết cục là phải đeo lấy một bộ mặt nhăn nhó trong hai mươi năm, ba mươi năm hay hơn nữa để cuối cùng làm cho bụng anh vượt mặt. Đấy, bộ mặt nhăn nhó mà con người phải suốt đời tạo dựng cũng chỉ dùng được có thế thôi, mà cũng không biết đến bao giờ cho xong vì nó nặng nề quá, phức tạp quá để có thể biểu lộ được tâm hồn thật của mình không bỏ sót tí gì.

Còn bộ mặt của tôi, quả là tôi cũng đang tỉ mẩn thực hiện với những hóa đơn tôi không sao thanh toán được, dù chỉ nhỏ nhỏi, tiền thuê nhà không có khả năng trả, cái áo khoác quá ư mỏng manh đối với thời tiết, và lão bán hoa quả thì cười nhạo khi thấy tôi đếm từng đồng xu, ngập ngừng trước miếng phó mát của lão, đỏ mặt khi thấy nho bắt đầu lên giá. Rồi cũng còn do các bệnh nhân không bao giờ thỏa mãn. Cái chết của Bébert càng không đem lại cho tôi cái gì hay ho ở quanh vùng. Tuy vậy, cô nó không trách móc gì tôi. Có thể nói rằng trong bối cảnh này thì chị ta phải làm dữ, nhưng không. Đúng hơn là từ phía gia đình Henrouille, trong ngôi nhà của họ, tôi bỗng nhiên phải hứng lấy những nỗi lo chồng chất phát sợ lên được.

Một hôm, bà cụ Henrouille bỏ nhà cửa, bỏ con trai, con dâu, tự động đến thăm tôi. Mà cũng không ngờ nghệch gì đâu. Rồi từ đây, bà ta thường đến để hỏi xem có thật là tôi tin rằng bà ấy điên không. Dường như đó cũng là một trò giải trí của bà cụ già này cố tình đến hỏi tôi về việc ấy. Bà ta ngồi chờ trong căn phòng tôi dùng làm phòng đợi. Ba cái ghế và một cái bàn ba chân.

Tối hôm ấy, khi tôi về đã thấy bà cụ trong phòng đợi đang an ủi cô thằng nhỏ Bébert. Bà cụ Henrouille kể lại tất cả những mất mát trong đời bà, mất họ hàng thân thuộc trên dọc đường, trước cả tuổi thằng Bébert, mất hàng tá những đứa cháu gọi bằng cô bằng dì, mất những ông chú ông cậu chỗ này chỗ kia, một ông bố ở nơi rất xa, từ giữa thế kỷ trước và cả những bà cô bà dì nữa, rồi đến những người con gái của bà hầu như khắp chốn, bà không còn biết được ở những đâu và chết ra sao, hình ảnh của họ đến nay bà phải cố hình dung ra vì đã trở thành hư ảo không còn rõ nét nhưng mỗi lần nói chuyện về họ với ai thì bà càng thấy buồn lòng. Không chỉ những ký ức về những người con của chính bà. Bà còn kể lan man cả một loạt những người từ cõi chết, những con người xưa cũ, nghèo nàn, từ lâu chỉ còn là những cái bóng câm lặng, những nỗi buồn khôn tả, nhưng bà cũng cố khuấy lên với nỗi đau thật sự để an ủi cô thằng Bébert, vừa lúc tôi về tới.

Rồi đến lượt Robinson đến gặp tôi. Tất cả làm quen với nhau, thành những người bạn mới của nhau.

Cũng chính từ hôm ấy, cho đến nay tôi còn nhớ rõ, Robinson thường gặp bà cụ Henrouille trong phòng đợi của tôi. Họ nói chuyện với nhau. Hôm sau là ngày đưa đám Bébert. Cô nó gặp ai cũng hỏi: “Mai cụ (hay bác) có đi đưa đám cháu không? Tôi sẽ rất thỏa lòng nếu được cụ (hay bác) đi đưa cháu...”

Bà cụ già trả lời: “Nhất định là tôi sẽ đi. Trong những lúc như thế này mà có được nhiều bè bạn quanh mình thì thật yên lòng”. Không còn ai kìm chân được bà cụ trong túp lều ấy nữa. Bà cụ trở thành một người dã ngoại.

Cô thằng bé cảm ơn bà cụ:

-Cụ đi dự thì tốt quá. Thế còn ông, ông cũng đi chứ? Chị ta hỏi Robinson.

-Này bà, tôi sợ những đám tang lắm, đừng trách tôi.

Thế rồi mỗi người còn nói khá là mạnh mẽ nhưng chỉ về bản thân mình, kể cả bà cụ Henrouille cũng tham gia câu chuyện. Họ nói oang oang, y như trong nhà thương điên.

Tôi bèn vào đưa bà cụ sang phòng bên để khám cho bà.

Tôi chẳng có gì nhiều để nói với bà. Chính bà lại hỏi tôi nhiều thứ. Chúng tôi lại trở lại cùng ngồi chuyện trò với Robinson và cô thằng bé, kéo dài đến một tiếng đồng hồ chỉ toàn nói đến trường hợp bất hạnh của Bébert. Mọi người trong khu phố rõ ràng là đều nhất trí rằng tôi đã làm hết sức để cứu thằng nhỏ Bébert, chẳng qua là do số mệnh mà thôi chứ tôi xử sự như thế là tốt quá rồi, chỉ riêng chuyện đó cũng gần như một ngạc nhiên đối với tất cả. Bà cụ Henrouille khi được biết thằng bé mới có bảy tuổi, bà cụ cảm thấy nhẹ nhõm và yên tâm hơn. Cái chết của một đứa bé còn non dại như thế đối với bà thật ra chỉ là một tai nạn, không giống như một cái chết bình thường có thể khiến cho bà phải suy nghĩ nhiều hơn.

Một lần nữa Robinson lại cà kê kể lể về chuyện cậu ta bị a-xít làm bỏng rát cả dạ dầy và phổi, khiến cho cậu ta khó thở và lúc nào cũng khạc đờm đen. Khốn nỗi bà cụ Henrouille thì không khạc nhổ cũng chẳng làm gì với a-xít, nên Robinson có kể chuyện ấy thì bà cũng chẳng quan tâm. Bà cụ sang đây chỉ cốt hỏi tôi về tình trạng của bà. Từ một góc phòng, bà xét đoán tôi trò chuyện, với đôi con mắt nhỏ tinh anh lanh lợi, còn Robinson thì cũng không bỏ sót tí gì về sự sốt ruột kéo dài giữa bà cụ với tôi. Gian phòng đợi đã tối dần và ngôi nhà lớn ở bên kia đường cũng thẫm dần trước khi chìm vào bóng đêm. Sau đó thì chỉ còn có tiếng chúng tôi nói với nhau và cũng gần như nói cho ra tiếng mà chẳng nói lên được cái gì.

Khi chỉ còn lại mình hắn, tôi cố tìm cách cho Robinson hiểu rằng tôi không còn muốn gặp lại nữa, nhưng cuối tháng hắn vẫn cứ mò đến và hầu như tối nào cũng vậy. Thật ra thì hắn đang đau tức trong ngực.

- Ông Robinson vẫn đến tìm ông đấy, bà gác cổng báo cho tôi và bà cũng để tâm đến hắn. Ông ta vẫn chưa khỏi bệnh, phải không bác sĩ?... Lúc đến đây, ông ấy vẫn còn ho... Bà ấy biết rõ rằng nói ra chuyện ấy chỉ làm tôi khó chịu.

Đúng là hắn vẫn còn ho. Hắn tự cho rằng: “Chẳng có cách nào đâu, tớ không khỏi được đâu”. Tôi an ủi hắn: “Gắng chờ cho đến mùa hè tới! Kiên nhẫn một chút! Cậu sẽ thấy... Rồi tự nó sẽ hết thôi...”

Người ta đã nói nhiều về những ca như thế. Tôi không thể chữa cho hắn, chừng nào hắn còn tiếp tục lao động trong môi trường lắm a-xít như vậy... Nhưng tôi cũng cứ phải động viên tinh thần hắn.

-Một mình tớ mà khỏi được ư? hắn đáp lại. Cậu thử đến đấy sẽ thấy lắm cái hay đấy!... Có lẽ sẽ dễ thở như tớ thở ấy mà... Tớ mong được thấy cậu cũng chui vào cái thùng ấy với cái như của tớ... Mang cái của ấy chui vào trong thùng thì có mà xẹp lép ngay lập tức... Tớ bảo thật cậu đấy...

-Cậu đang suy sụp, cậu vừa phải trải qua một thời điểm khó khăn đấy thôi, khi nào cậu khá lên... Dù chỉ một chút thôi, thì cậu cũng sẽ thấy.

-Khá hơn một chút thôi? Có mà xuống lỗ thì tớ sẽ khá hơn một chút! Biết thế tớ cứ ở lại quách chiến trường có lẽ lại hay hơn thật! Cậu có thấy quay lại là tốt hơn không... Cậu không còn gì để mà nói!

Con người ta luôn luôn bám giữ lấy những kỷ niệm tồi tệ, những nỗi bất hạnh, không làm sao ra thoát. Những cái đó chiếm lấy tâm can họ. Họ trả thù nỗi bất công đang phải gánh chịu trong hiện tại bằng cách hì hụi bôi gio trát trấu vào cái tương lai sâu thẳm của chính họ. Xét cho cùng thì họ vừa chính đáng lại vừa đớn hèn. Đó là bản chất họ.

Tôi không trả lời hắn gì nữa. Thế là hắn giận tôi.

-Hẳn cậu thấy rõ rằng cậu cũng đồng ý như thế.

Những người hàng xóm phàn nàn rằng họ không ngủ được vì hắn ho hắng suốt đêm. Để được yên tĩnh, tôi tìm cho hắn một liều thuốc ho. Trong lúc tôi đang rót thuốc vào chai, hắn vẫn tự hỏi không biết đã mắc từ đâu cái bệnh ho không sao nén được ấy. Đồng thời yêu cầu tôi tiêm cho hắn vài mũi, với những hạt vàng [117*].

-Nếu tớ có chết vì những mũi tiêm ấy thì cậu cũng hiểu là tớ chẳng mất cái gì!

Tất nhiên tôi không ưng bất kỳ lối chữa bệnh công phạt nào. Tôi muốn trước hết là hắn hãy đi đi. Chỉ một việc hắn còn la cà ở đây cũng đủ cho tôi mất hết mọi hào hứng rồi. Tôi đã phải chịu đựng đủ mọi nỗi nhọc nhằn trên thế gian này cốt để khỏi trôi tuột vào cái khốn quẫn của bản thân mình, khỏi phải khuất phục cái ý muốn đóng hẳn cửa lại cho xong và mỗi ngày hai chục lần tự hỏi mình: “Làm thế thì được cái quái gì?” Thế mà còn phải nghe những lời ai oán của hắn, thì thật quá quắt. Cuối cùng, tôi bảo hắn:

-Robinson ơi, cậu thiếu nghị lực đấy!... Cậu lấy vợ đi, có lẽ như thế cậu sẽ lại thấy ham sống hơn...

Nếu hắn ta lấy vợ thì tôi cũng đỡ bị quấy rầy. Nghe đến đấy, hắn bực dọc bỏ đi. Hắn chẳng thích nghe những lời khuyên của tôi, nhất là những lời khuyên như thế. Hắn cũng chẳng thèm trả lời tôi về chuyện lấy vợ. Mà cũng phải, vì đó là một lời khuyên thật ngô nghê.

Một hôm chủ nhật, tôi không phải phiên trực, hai đứa cùng ra phố. Đến góc đại lộ Magnanime, chúng tôi ngồi ngoài hè uống với nhau một ly nhỏ cát-xít và xi-rô chanh. Cả hai không trò chuyện bao nhiêu, vì còn có gì đáng nói với nhau đâu. Trước hết, ngôn từ còn nghĩa lý gì khi mỗi người đã bám giữ ý riêng mình? Mắng mỏ nhau, thế là hết. Ngày chủ nhật nên không có nhiều xe buýt qua lại. Ngồi trên hè mà ngắm nhìn đại lộ sạch bong, tươi tắn trước mặt mình. Phía sau, tiếng máy hát từ trong quán rượu vọng ra.

- Cậu nghe thấy gì không? Robinson hỏi tôi. Máy hát của nhà hàng đang chơi nhạc Mỹ đấy; tôi nhận ra ngay những điệu nhạc ấy, cũng là những bản nhạc chơi ở Detroit tại nhà Molly...

Hai năm sống ở bên ấy, hắn ta không hòa nhập được bao nhiêu vào sinh hoạt của người Mỹ; tuy vậy hắn cũng bị tác động bởi thứ nhạc của họ, thứ nhạc có thể giúp họ thoát ra khỏi cái thói quen nặng nề và nỗi nhọc nhằn kinh khủng là ngày này qua ngày khác cứ phải làm một công việc đơn điệu chán ngấy, với điệu nhạc ấy họ còn có thể ít nhiều ngo nguẩy lắc lư với cuộc đời vốn đã chẳng còn có nghĩa. Họ như những con gấu.

Hắn vẫn chưa cạn được ly cát-xít vì mải nghĩ đến tất cả những cái đó. Gió thoảng tung bay làn bụi nhẹ trên mặt đường. Quanh hàng cây tiêu huyền, mấy đứa trẻ nhỏ lem luốc, bụng ỏng, cũng bị tiếng nhạc lôi cuốn. Xét cho cùng thì ai mà cưỡng nổi lời ca điệu nhạc. Ai giữ nổi trái tim mình, mà không luôn sẵn sàng dâng hiến. Với tất cả mọi điệu nhạc, ta phải nghe cho thấu đáo đến tận cái điệu không có nốt nhạc, điệu nhạc của Thần Chết dành cho ta.

Mấy cửa hàng bất chấp luật lệ, mở cả ngày chủ nhật: bà hàng giầy vải ra khỏi nhà, vừa đi dạo hết hàng này sang hàng khác vừa than thở về chuyện ngồi mãi chồn cẳng, cái chứng giãn tĩnh mạch nó làm cho hai bắp chân nặng như chì.

Tại một sạp báo, những tờ báo buổi sáng treo trên đây đã bắt đầu nhầu nát và ngả màu vàng, những mớ tin tức khủng khiếp đang trở thành cũ kỹ. Một con chó ghếch chân lên đái cho thật mau, trong lúc bà bán báo đang ngủ gà ngủ gật.

Một chiếc xe buýt không khách lao nhanh về trạm. Các ý niệm cũng kết thúc trong ngày chủ nhật của mình; người ta càng ngác ngơ hơn thường nhật. Người ta ở đó, trống rỗng. Kinh ngạc. Thỏa mãn. Chẳng còn gì mà chuyện trò, bởi vì xét cho cùng thì chẳng còn gì đến với anh, anh nghèo nàn quá, có thể là anh đã chán ngấy cuộc sống rồi? Có lẽ đó cũng là chuyện bình thường.

-Cậu không thấy được ra cách gì cho tớ thoát khỏi cái nghề chết tiệt này sao?

Hắn đang cố vươn lên cao hơn tầm nghĩ của mình.

-Tớ muốn thoát khỏi cái công việc này, cậu hiểu không? Tớ ngợp trong đó như một con la đến thế là quá đủ rồi... Tớ cũng muốn được đi dạo quanh chứ... May ra cậu có biết ai cần một thằng lái xe không?... Cậu quen biết nhiều mà, phải không?...

Đó là những ý nghĩ ngày chủ nhật, những ý nghĩ của kẻ hào hoa bỗng tác động vào hắn. Tôi không dám can ngăn mà cũng không bóng gió rằng, với cái tướng mạo sát nhân cùng quẫn như hắn và chừng nào hắn vẫn còn giữ cái vẻ quá kỳ cục ấy thì chẳng ma nào lại giao xe cho hắn, dù hắn có mặc chế phục lái xe hay không.

-Tóm lại là cậu không hứng chuyện này phải không, hắn kết luận. Vậy là theo ý cậu, tớ không sao thoát ra được nữa ư? Tớ không cần phải cố gắng nữa ư?... Ở Mỹ cậu bảo rằng tớ đi không đủ nhanh... Ở Phi châu, thì cái nóng làm cho tớ kiệt lực... Ở đây, thì tớ không đủ thông minh... Rút cục ở đâu tớ cũng thiếu cái này hay thừa cái khác... Tất cả những cái ấy cho tớ thấy rằng mình chỉ là một thứ vật độn vô giá trị... Chà, phải chi tớ có được đồng tiền!... Mọi người có lẽ sẽ thấy tớ thật là tử tế, ở đây... ởdí... và ở khắp nơi khắp chốn... Ngay cả ở bên Mỹ nữa... Tớ nói thế không đúng à? Còn cậu nữa? Chúng mình thiếu một ngôi nhà cho sáu người thuê được giá để kiếm lời...

-Thực tế đúng là thế, tôi trả lời.

Thật đáng ngạc nhiên là một mình hắn mà đi đến được kết luận trọng đại ấy. Thế là hắn nhìn tôi với con mắt thật kỳ cục, như hắn bỗng phát hiện ra ở tôi một bộ mặt lạ lùng ghê tởm.

-Này cậu, khi nào tớ nhớ đến hồi ấy, là tớ nghĩ ngay đến cái thế thuận lợi của cậu. Cậu đem toàn chuyện phịa ra bán rao cho lũ ngu si, rồi có ra sao thì cậu cóc cần biết... Cậu không bị ai kiểm soát cả... Cậu đến, cậu đi lúc nào là tùy ý, tóm lại là cậu được tự do... Cậu mang cái vỏ một con người tử tế nhưng bụng cậu chứa đầy dao găm!...

-Robinson ơi, cậu bất công đấy!

-Này cậu, vậy thì cậu thấy ở tớ cái gì nào?

Cậu ta khăng khăng bám lấy ý định quẳng cái nghề dính với a-xít ấy cho người khác...

Chúng tôi lại đi theo những đường phố nhỏ cạnh đó. Về chiều, ta vẫn tưởng Rancy còn là một ngôi làng. Cửa các vườn rau hé mở. Cái sân lớn đã trống vắng. Cái cũi chó cũng thế. Đã lâu rồi, cũng một buổi tối như hôm nay, những người nông dân ở đây phải bỏ cửa bỏ nhà ra đi, họ bị xua đuổi vì thành phố Paris lấn ra. Hồi ấy chỉ còn lại vài cái quầy bán lẻ, chẳng bán chác gì được cho ai, mốc meo và bỏ mặc cho các dây đỗ ẻo lả mọc lên vắt qua những bức tường thấp tè nhem nhuốc với những tờ quảng cáo. Cái bừa quẳng giữa hai máng nước không còn han gỉ hơn được nữa. Một cái quá khứ không còn động được lòng ai. Nó một mình trôi. Những người ở thuê nơi này, chiều chiều bò được về đến nhà là đã mệt bã ra còn hơi sức đâu mà động lòng đến cái gì. Họ chỉ còn việc đơn giản là từng cặp đưa nhau đến chen chúc trong những gì còn lại của các căn phòng công cộng để uống với nhau. Trên trần nhà vẫn còn ám những vòng khói đèn treo cũ. Cả khu phố rùng rùng lên mà không biết kêu ca vào đâu về tiếng rung liên tục của cái nhà máy mới. Những lớp ngói rêu phong rơi rụng xuống hè đường gồ ghề như lưng thằng gù chỉ còn thấy ở Versailles hay trong các nhà tù giam giữ các vị đáng kính.

Robinson dẫn tôi đến tận công viên nhỏ của thị xã, với các nhà kho vây bọc, là nơi để cho những người không nhà không cửa tìm đến ỉa bậy trên những bãi cỏ đầy sâu bọ cho tới quãng sân đánh “bun” và đến chỗ đống cát vừa làm chỗ chơi vừa để đi tè.

Hai chúng tôi lại nói với nhau chuyện này chuyện khác. Hắn nêu ra ý kiến của mình: “Cái mà tớ thiếu, cậu biết không, đó là tửu lượng. Tớ mà uống vào là bị co cứng lại không chịu được. Tệ hại quá!” Hắn cho tôi thấy ngay bằng chứng là những cái ợ liên hồi mà chỉ một ly nhỏ rượu cát-xít hồi chiều cũng làm hắn không chịu nổi... “Đấy, cậu thấy chưa?”

Đến trước cửa nhà hắn, hắn đọc tên ngôi nhà: “Lâu đài của những ngọn gió lùa”, rồi biến mất. Tôi tưởng như sẽ không sớm gặp lại hắn.

Công việc của tôi có vẻ suôn sẻ chút ít, cho đến đúng đêm hôm ấy.

Chỉ riêng từ ngôi nhà có đồn cảnh sát, họ đã hai lần gọi khẩn cấp đến tôi. Tối chủ nhật, mọi tiếng thở dài, mọi niềm rung động, mọi sự nóng lòng đều được thả cửa. Tính tự ái cũng vứt trên chiếc cầu chủ nhật và ngất ngư trong men rượu. Sau một ngày trọn vẹn được tự do rượu chè, những kẻ nô lệ này đây đã hơi run run, khó giữ cho họ đứng vững, họ thở hít phì phò và khua vang những sợi dây xích.

Chỉ riêng ở ngôi nhà có đồn cảnh sát đã diễn ra hai thảm cảnh cùng một lúc. Dưới tầng một, một bệnh nhân ung thư đang thoi thóp; còn trên tầng ba, một ca đẻ khó và chị nữ hộ sinh không làm sao xoay xở nổi. Chị mụ vườn ấy tay giũ hết lớp khăn này đến lớp khăn khác, còn miệng tuôn ra cho mọi người những lời khuyên bảo phi lý. Lại còn, giữa hai lần tiêm cho người sản phụ, chị ta chuồn xuống tiêm cho bệnh nhân ung thư, xin vui lòng trả mười quan một ống dầu long não. Đối với chị ta, thật là một ngày tốt đẹp.

Trong ngày chủ nhật của mình, tất cả các gia đình trong ngôi nhà này, trên người chỉ khoác chiếc áo choàng hoặc chiếc sơ mi trần, đang phải đối mặt với các sự kiện và cố bồi dưỡng gia đình bằng những thức ăn có nhiều gia vị. Suốt cả hành lang và các cầu thang sặc lên mùi tỏi và lắm thứ mùi kỳ quặc khác. Mấy con chó khoái trí nhảy tót lên tận tầng sáu. Bà gác cổng thì phải quan sát cho khắp. Người ta thấy bà ta ở mọi chỗ. Bà ta chỉ uống vang trắng, vì theo bà ta thì vang đỏ dễ làm cho kinh nguyệt thất thường.

Chị nữ hộ sinh to béo khoác blu đạo diễn một lúc hai tấn thảm kịch, ở tầng một, ở tầng ba, nhảy nhót, toát mồ hôi, vui thích đấy và cũng hằn học đấy. Sự có mặt của tôi khiến chị ta nổi đóa. Từ sáng đến giờ, chị ta là ngôi sao chính, nắm trong tay cái công chúng này của chị.

Tôi phải cố tìm cách đối xử khéo léo với chị ta, tránh bớt sự chú ý của mọi người đối với mình, coi như mọi việc tốt đẹp cả (thực tế thì chị ta chẳng làm được gì trong công việc cửa mình ngoại trừ những điều xuẩn ngốc kinh khủng), nhưng việc tôi đến, lời tôi nói làm cho chị ta khiếp sợ ngay tức khắc. Đành chịu. Một bà đỡ mà bị theo dõi thì cũng dễ thương như ngón tay bị lên chín mé. Không còn biết đặt chị ta vào đâu để chị ta bớt được những điều sai quấy chừng nào hay chừng đó. Các gia đình đã tràn ra khỏi bếp đến tận chân cầu thang, xen lẫn vào số thân nhân người bệnh. Sao mà lắm thân nhân thế! Cả những người to béo lẫn những người mảnh khảnh xúm lại từng đám ngủ gà ngủ gật dưới những ngọn đèn treo. Càng lúc họ đến càng đông, từ dưới tinh lên là nơi họ quen ngủ sớm hơn dân Paris. Họ đã chán ngấy. Những gì tôi kể lại cho họ, các thân nhân của tấn thảm kịch ở nhà dưới cũng như ở trên này, họ đều hiểu sai đi cả.

Cơn hấp hối ở tầng một kéo dài không được mấy. Càng tốt, cần gì. Đúng vào lúc bệnh nhân trút hơi thở nấc thì bác sĩ Omanon, thầy thuốc thường ngày của ông ta, cũng vừa tới để xem khách bệnh của mình đã chết chưa, và lão cũng cự nự tôi, hay gần như thế, vì thấy tôi đứng bên giường bệnh. Tôi giải thích cho Omanon biết rằng tôi được phân công trực ngày chủ nhật, sự có mặt của tôi là chuyện đương nhiên, rồi tôi ưỡn ngực bước lên tầng ba.

Người đàn bà ở trên đó vẫn băng huyết. Cũng chẳng còn mấy chốc mà chị ta chết thôi. Tôi nán lại một phút để tiêm cho chị ta một mũi rồi lại xuống nhà với bệnh nhân của Omanon. Hoàn toàn xong rồi. Omanon vừa bỏ đi. Vậy mà lão cũng cầm hai mươi quan của tôi, thật chó má. Chính vì thế, tôi không muốn bỏ vị trí của mình mà tôi đã giành được trong ca đẻ khó. Tôi leo vội lên tầng trên.

Trước cái cửa mình đẫm máu, tôi giảng giải cho các thân nhân hiểu. Tất nhiên là chị hộ sinh không nhất trí với tôi. Người ta hầu như đều biết rằng chị ta muốn tranh khoản tiền công nên cố phản bác lời tôi. Kệ, tôi đã có mặt ở đây rồi, chị ta có bằng lòng hay không cũng mặc. Trong vụ này ít ra thì tôi cũng kiếm được trăm quan nếu tôi biết cách giải quyết và kiên trì! Lại còn phải bình tĩnh và khoa học nữa chứ, mẹ kiếp! Chống đỡ những ngọn đòn tấn công tới tấp trên đầu anh bằng những lời nhận xét và những câu hỏi sặc mùi vang trắng là một việc không đơn giản đâu. Gia đình người phụ nữ ấy nói cái mà họ nghĩ, với những tiếng thở dài và nức nở. Về phần mình, chị hộ sinh cũng chờ cho tôi thật loay hoay lúng túng, phải bỏ đi và để lại trăm quan ấy cho chị ta. Chị ta cứ thử đua với tôi xem nào! Loay hoay suốt từ sáng đến giờ, máu me như thế, mà cái thai vẫn chưa ra, phải biết cách giải quyết chứ! Công của tôi, ai trả?

Lúc này tay ung thư dưới nhà đã chết, cái đám công chúng của cơn hấp hối ấy bảo nhau ùa lên cả trên này. Thôi thì đã thức trắng đêm, đã phải chịu hy sinh, cũng phải xem đủ mọi cái cho đã. Thân nhân người chết dưới nhà thì lên đây để xem trên này liệu có kết thúc không hay như dưới họ không. Hai cái chết trong một đêm, trong cùng một ngôi nhà, có lẽ đây là một sự xúc động đến suốt đời! Đơn giản thế thôi! Tiếng nhạc buộc trên cổ đàn chó của các nhà rung lên trên các cầu thang. Chúng cũng leo cả lên đây. Những người từ nơi xa đến kéo vào càng đông, thì thào với nhau. Mấy cô gái trẻ vừa hay tin cũng tới dịu dàng bầy tỏ buồn thương trước nỗi bất hạnh. Bản năng phụ nữ là an ủi nỗi đau buồn. Một tay anh em họ suốt từ sáng theo đuổi mấy cô gái, nắm lấy dịp may. Cậu ta không rời mắt khỏi họ. Một sự phát hiện trong cơn mệt mỏi của cậu ta. Mọi người ăn mặc phong phanh. Cậu ta đã có ý định cưới một cô trong số đó nhưng nhân dịp này cậu ta muốn ngắm kỹ những cặp giò của các cô để có thể chọn lựa tốt hơn.

Vẫn không đẩy được cái thai ra, vì lỗ đẻ phải khô, phải trơn, đằng này lại chỉ ra toàn máu. Đây có thể là đứa con thứ sáu của chị ta. Chồng chị ta đâu? Tôi gọi hỏi.

Phải tìm người chồng để có thể dẫn vợ đinhà thương. Một người bà con đề nghị đưa chị ta đi nhà thương. Một người mẹ khác thì xin về ngủ, vì còn các con ở nhà. Nhưng nói đến nhà thương thì mỗi người mỗi ý. Người này thì muốn đưa đi nhà thương, người khác lại hoàn toàn chống lại, vì lề thói cũ. Thậm chí nói đến nhà thương người ta đã không muốn rồi. Lắm người còn dùng đến những lời độc địa khó ai quên được. Đó là chuyện trong gia đình họ. Chị nữ hộ sinh thì miệt thị hết mọi người. Nhưng tôi thì tôi muốn rằng người ta hãy tìm cho được anh chồng đến để hỏi xem ý kiến anh ta ra sao mà còn quyết định theo cách này hay cách khác. Anh chàng đã nhoi lên từ một nhóm kia rồi, anh chồng ấy lại còn tơ lơ mơ hơn ai hết. Dẫu sao thì anh ta cũng phải quyết định. Đi nhà thương? Không đi nhà thương? Anh ta muốn gì? Anh ta không biết. Anh ta chỉ muốn nhìn. Vậy thì nhìn đi. Tôi vạch cho anh ta nhìn cái lỗ của chị vợ toàn máu hòn máu cục rồi cả người chị ta, đấy nhìn đi. Chị vợ thì rên rỉ như con chó to kẹt dưới gầm ô tô. Tóm lại là anh ta cũng không biết mình muốn gì. Họ đưa cho anh ta một cốc vang trắng để lấy sức. Anh ta ngồi xuống.

Thế mà anh ta vẫn chẳng nghĩ ra được. Anh ta là người suốt ngày quần quật với công việc nặng nhọc. Ai cũng biết anh ta ngoài Chợ lớn, nhất là ngoài Ga là nơi anh ta sửa bao sửa sọt cho những người buôn bán rau, mà có nhỏ nhẹ gì, toàn những thứ to đùng nặng chịch, từ mười lăm năm nay. Anh ta nổi tiếng đấy. Cái quần anh ta mặc rộng thùng thình, cả cái áo nữa. Anh ta không để mất những cái đó nhưng cũng chẳng có vẻ gì là cố giữ lấy áo quần. Thật ra anh ta chỉ chăm lo đến miếng đất và đứng cho thật thẳng trên đó bằng đôi chân dang rộng tưởng như chỉ trong chốc lát đất sẽ rung chuyển dưới chân mình. Tên anh ta là Pierre.

Người ta chờ đợi. Xung quanh, mọi người đều hỏi: “Anh nghĩ thế nào, Pierre?” Anh ta gãi rồi đến ngồi bên đầu giường vợ tưởng chừng không còn nhận được ra vợ mình, người đã không ngừng sản sinh ra biết bao nỗi đớn đau, rồi anh ta khóc, khóc thứ nước mắt của Pierre, và anh ta đứng dậy. Người ta lại hỏi anh câu hỏi cũ. Tôi đã chuẩn bị sẵn một giấy giới thiệu nhập viện. “Suy nghĩ một chút đi, Pierre” mọi người khẩn khoản. Anh ta cố nghĩ, nhưng làm hiệu nghĩ không ra. Anh ta đứng dậy, cầm cái cốc bước chệnh choạng vào bếp. Còn chờ làm gì nữa? Có mà hết cả đêm cũng chưa hết cái do dự của anh chàng ấy, xung quanh ai cũng biết như vậy. Về quách cho xong.

Thế là tôi lại mất toi trăm quan, tất cả là thế! Nhưng dù thế nào thì tôi vẫn cứ băn khoăn về chuyện mụ bà đỡ... Thôi cho qua. Hơn nữa, tôi đã mệt lắm rồi, chẳng còn muốn thi thố làm gì trước mọi người cái tài phẫu thuật của mình. Tôi tự nhủ thầm: “Thây kệ! Đi đi thôi! Để khi khác... Cam chịu vậy! Để cho trời đất được yên! Thật khốn nạn!”

Tôi vừa ra đến đầu cầu thang thì tất cả ùa ra tìm, và anh chàng ấy lao đến bên tôi. Anh ta tha thiết:

-Bác sĩ ơi, đừng đi bác sĩ ơi!

-Anh còn muốn tôi phải làm gì nữa? Tôi hỏi anh ta.

-Khoan khoan! Bác sĩ để tôi tiễn!... Tôi van ông, Bác sĩ ơi!...

-Được thôi - tôi nói và để anh ta tiễn xuống dưới nhà. Cả hai cùng xuống. Qua tầng một, tôi ghé vào chào tạm biệt gia đình người chết vì ung thư. Anh chồng kia cũng vào với tôi một lát. Ra ngoài phố, anh ta theo bước chân tôi. Ở ngoài đường thì anh ta nhanh nhẹn lắm. Chúng tôi thấy một con chó đang rống lên những tiếng sủa dài đáp lại những con khác trong vùng. Và con chó rất ương ngạnh, giọng nó rền rĩ. Nó đã tìm được đối tượng để mà cãi nhau đây. Con này chẳng mấy chốc mà trở thành chó tốt thật sự. Anh chồng đó nhận ra ngay:

-Ô này, con “Lòng đỏ trứng” đây mà... Nó được các cô gái con ông thợ giặt ở phố Gonesses nuôi bằng bình sữa đây... Ông có biết mấy cô con gái ông thợ giặt không?

-Có, tôi trả lời.

Vẫn trong lúc cùng đi, anh ta bắt đầu kể cho tôi nghe những cách nuôi chó bằng sữa như thế nào mà không tốn nhiều tiền. Tất nhiên là phía sau những ngôn từ ấy vẫn có ẩn ý về chuyện vợ anh ta.

Một quán rượu còn mở cửa.

-Ông có vào đây không, Bác sĩ? Tôi xin mời ông một...

Tôi không muốn làm mếch lòng anh ta. “ừ thì vào!” Anh ta gọi: “Hai cà phê sữa nhé”. Nhân đó tôi lại nói về trường hợp vợ anh ta, để anh ta phải xử sự cho nghiêm túc, nhưng cũng biết sẽ chẳng đi đến đâu. Trên quầy của chủ quán có một bó hoa lớn. Chủ quán khoe: “Đấy là quà mừng của các cháu!” nhân kỷ niệm quán Martrodin. Thế là chúng tôi cùng chủ quán uống một ly véc-mút để chúc mừng. Phía trên quầy treo đạo Luật cấm say rượu và một tấm văn bằng đóng khung. Vừa thấy cái đó, tay chồng nằng nặc đòi chủ quán kể hết tên các quận trong tỉnh Loire-et-Cher, vì anh ta đã học và vẫn còn nhớ. Sau đó, anh ta cho rằng tên của chủ quán không khớp với tên viết trong văn bằng, thế là hai người vặc nhau rồi anh ta đến ngôi gần bên tôi. Sự ngờ vực lại xâm chiếm hoàn toàn đầu óc anh ta. Mải nghĩ đến nỗi anh ta cũng không buồn tiễn chân tôi nữa.

Tôi không còn bao giờ thấy mặt anh chồng ấy. Không bao giờ. Tôi rất thất vọng về những chuyện xẩy ra hôm chủ nhật ấy và càng mệt mỏi thêm.

Ra phố, tôi vừa đi chưa được trăm thước thì thấy Robinson đang lao về phía mình, ôm vác lỉnh kỉnh mấy tấm ván lớn nhỏ. Tuy trời còn tối nhưng tôi nhận được ngay ra hắn. Ngượng ngùng gặp lại tôi, hắn định lỉnh đi nhưng tôi ngăn lại.

-Cậu vẫn chưa ngủ cơ à? tôi hỏi hắn.

-Khe khẽ chứ!... hắn trả lời... Tớ vừa ở chỗ xây dựng ra!...

-Cậu làm gì với những tấm gỗ này? Cũng xây dựng à?... Một cái quan tài à?... ít nhất thì cũng là lấy cắp phải không?...

-Không, một cái chuồng thỏ...

-Bây giờ cậu lại nuôi thỏ à?

-Không, làm cho gia đình Henrouille đấy...

-Gia đình Henrouille? Họ có thỏ à?

-Ừ, ba con, họ định nuôi ở cái sân con ấy, cậu biết chứ, chỗ ở của bà cụ ấy mà...

-Thế ra vì thế mà cậu lại làm chuồng thỏ vào cái giờ kỳ cục này ư?

-Đó là ý của mụ vợ hắn ta...

-Một ý kỳ cục!... Mụ ta muốn gì với những con thỏ ấy? Để bán à? Làm mũ chóp cao à?...

-Cái đó thì lúc nào gặp, cậu hỏi mụ ta. Miễn là mụ ta đưa tớ trăm quan là được...

Dù sao thì chuyện cái chuồng thỏ này tôi thấy nó kỳ kỳ thế nào ấy, giữa đêm hôm. Tôi gặng hỏi.

Thế là hắn định đánh lảng. Tôi lại hỏi:

-Nhưng làm sao cậu biết mà đến nhà họ? Cậu có quen biết gia đình Henrouille đâu?

-Chính bà cụ dẫn tớ đến nhà họ vào cái hôm tớ gặp bà ta khám bệnh ở nhà cậu... Bà cụ già ấy khi đã được thể thì cũng bép xép lắm chuyện lắm... Cậu không tưởng tượng được... Dứt không ra... Thế là bà ta coi tớ như một người bạn, cả vợ chồng Henrouille cũng thế... Cậu biết đấy, có những người mà tớ thích!...

-Cậu chưa nói với tớ tất cả những chuyện này bao giờ... Nhưng cậu lui tới nhà họ, vậy cậu có biết chuyện họ đang tính đưa bà cụ đi nội trú không?

-Không, như họ nói với tớ thì họ không làm được việc ấy...

Tôi cảm thấy câu chuyện làm cho hắn ta bối rối, nhưng hắn không biết làm thế nào để thoát khỏi tôi. Hắn càng muốn lủi đi thì tôi lại càng níu hắn lại để biết cho rõ hơn...

-Đời sống đã khó khăn, cậu thấy đấy chứ?... Phải tìm cách xoay xở chứ!

Hắn nói bâng quơ. Nhưng tôi lôi hắn quay lại vấn đề. Tôi quyết không để hắn thoát...

-Người ta bảo rằng vợ chồng nhà ấy nhiều của hơn là cái vẻ bề ngoài... Cậu ra vào nhà ấy, cậu thấy thế nào?...

-Đúng, rất có thế là vợ chồng nhà ấy sẵn tiền, nhưng thế nào đi nữa thì họ cũng rất muốn giũ bỏ bà già!

Cái gì chứ chuyện che giấu thì tay Robinson này vụng lắm.

-Là vì đời sống, như cậu biết đấy, ngày càng đắt đỏ, vợ chồng hắn ta rất muốn giũ bỏ bà cụ đi. Họ nói với tớ thế này này, rằng cậu không muốn coi là bà cụ ấy điên... Có đúng thế không?

Không cần chờ tôi trả lời, hắn hỏi luôn tôi đi đâu giờ này.

-Cậu vừa đi khám bệnh về à?

Tôi kể qua loa cho hắn nghe về chuyện anh chồng mà tôi vừa bỏ lại giữa đường. Chuyện ấy khiến hắn cười nhộn lên, nhưng cũng làm cho hắn lên cơn ho rũ rượi. Hắn rúm người lại trong đêm tối để mà ho, khiến cho tôi đứng sát gần hắn mà gần như không còn thấy rõ, chỉ hơi nhận ra hai bàn tay đan vào nhau như bông hoa lớn che lấy cái miệng, ho đến nẩy cả người lên mãi không thôi. “Bị gió lùa đấy mà!” hắn nói khi vừa dứt được cơn ho, và chúng tôi cũng đã đến trước cửa nhà hắn. “Ờ phải, nhà tớ sẵn gió lùa mà! lại còn cả rệp nữa đấy! Nhà cậu có rệp không?”

-Nhà tớ cũng có. Tránh sao được, tớ mang rệp từ nhà các bệnh nhân về.

-Cậu không thấy nó khai mùi nước đái bệnh nhân à? hắn hỏi.

-Ừ, cả mùi mồ hôi nữa...

Suy nghĩ một lát, hắn thong thả nói:

-Dù sao thì có lẽ tớ cũng thích làm y tá.

-Tại sao?

-Bởi vì, cậu thấy đấy, con người ta khi khỏe mạnh, chẳng phải nói, họ làm cho mình sợ hãi... Nhất là từ khi có chiến tranh... Tớ là tớ biết họ nghĩ gì... Họ không tự biết được bản thân họ đâu... Nhưng tớ thì tớ biết họ nghĩ gì... Khi họ còn đứng thẳng được là họ nghĩ đến việc giết người... Còn khi họ đã đau ốm, chẳng phải nói, ít đáng sợ hơn... Phải sẵn sàng chờ đợi mọi sự, chừng nào họ còn đứng thẳng, đúng thế không?

-Thật đúng thế! tôi đành trả lời hắn.

-Thế còn cậu, có phải cũng vì thế mà cậu làm thầy thuốc không? hắn lại hỏi.

Suy nghĩ, tôi thấy có thể Robinson có lý. Nhưng liền ngay đó hắn lại ho rũ từng cơn. Tôi khuyên hắn:

-Cậu bị lạnh chân đấy, đêm hôm cứ ra gió khéo lại bị sưng phổi... Thôi về nhà ngủ đi...

Bực mình vì ho cơn này sang cơn khác, hắn ghé vào tai tôi vừa ho vừa cười cợt:

-Này cậu, bà già Henrouille ấy sắp vớ được một quả ác đấy!

-Thế là thế nào?

-Cậu sẽ thấy thôi... hắn bảo tôi.

-Họ bầy đặt chuyện gì thế?

-Tớ không thể nói dài dòng với cậu được... Cậu sẽ thấy...

-Nào, kể cho tớ nghe chuyện ấy đi, Robinson, nào, chuyện ghê quá, cậu biết rằng tớ không có nói lại với ai cái gì bao giờ đâu...

Bỗng hắn ta có vẻ như muốn kể hết cho tôi nghe, để đồng thời muốn chứng tỏ với tôi rằng đừng có thấy cái vẻ bề ngoài của hắn mà coi hắn là thằng nhẫn nhục, co vòi...

Tôi nhỏ nhẹ khích hắn:

-Nào! Kể đi! Cậu biết ró tớ không bao giờ nói lại với ai đâu...

Đó là lý do để hắn phải tự thú. Hắn thừa nhận rằng tôi thật sự là người kín miệng.

Vào lúc ấy, chỉ còn lại hai đứa chúng tôi trên đại lộ Coutumance. Hắn bắt đầu câu chuyện:

-Cậu có nhớ chuyện mụ bán cà rốt không?

Thoạt tiên, tôi cũng chẳng nhớ ra được chuyện bán cà rốt thế nào. Cậu ta lại nhắc:

-Thì chính cậu kể cho tớ nghe chuyện ấy mà!...

-À phải! Có phải chuyện anh chàng công nhân xe lửa ở phố Brumaires không? Cái anh chàng đi ăn trộm thỏ bị một quả pháo nổ tung hai hòn dái chứ gì?...

-Đúng, ở nhà lão bán rau quả trên bến Argenteuil...

-Phải rồi! Tớ vừa đến đấy. Thế thì sao? Tôi hỏi hắn vì vẫn chưa hiểu được giữa câu chuyện cũ ấy với trường hợp bà cụ Henrouille này thì mắc mớ gì với nhau.

Hắn không chút chậm trễ, nói cho tôi biết rành rẽ.

-Cậu không hiểu à?

-Không, tôi trả lời... Nhưng liền đó thì tôi không còn dám hiểu nữa.

-Dù thế nào thì cậu hãy khoan khoan một chút đã!...

-Nhưng tớ thấy cậu định làm một việc kỳ cục quá đấy... tôi không thể không nhận xét. Bất kể thế nào, bây giờ các người cũng không thể cùng nhau ám sát bà cụ Henrouille để thỏa lòng mụ con dâu ấy chứ?

-Ồ! Cậu biết cho tớ, tớ chỉ nhận làm cái chuồng thỏ theo yêu cầu của họ thôi... Còn chuyện pháo là họ tự lo lấy... nếu họ muốn...

-Chúng nó cho cậu bao nhiêu để làm chuyện này?

-Một trăm quan tiền gỗ và hai trăm năm chục quan tiền công, thêm một nghìn quan nữa chỉ để giữ kín chuyện này... Mà cậu biết không... đấy chỉ là bước khởi sự thôi... Đó là một chuyện, khi người ta biết cách khéo léo khai thác, thì thật là một món hời đấy! Thế nào, cậu bé, cậu hiểu ra chưa?...

Tôi hiểu và tôi cũng không ngạc nhiên. Cái đó chỉ làm tôi thêm buồn mà thôi. Dẫu có nói gì để can ngăn những con người ấy cũng đều vô nghĩa. Cuộc đời có tử tế với họ không? Vậy thì ai, cái gì rủ lòng thương họ? Để làm gì? Những kẻ khác ư? Đã có bao giờ thấy được ai xuống địa ngục để thế mạng cho người khác không? Không bao giờ. Người ta chỉ đứng trông và đẩy kẻ khác xuống đó thôi. Tất cả là thế.

Cái thiên hướng giết người bỗng nhiên ám ảnh Robinson khiến tôi rút cục lại cảm thấy mình hiểu ra được rõ hơn những con người bấy lâu mình vẫn quan sát luôn luôn tỏ ra nửa hằn thù, nửa khoan dung, luôn luôn băn khoăn bởi những xu hướng không rõ ràng của họ. Qua một đêm với Robinson, cho đến lúc này thì tôi dù sao cũng học hỏi được nhiều điều.

Nhưng còn có một hiểm nguy: Pháp luật. Tôi bảo hắn:

-Nguy hiểm đấy, còn Pháp luật thì sao? Nếu câu bị tóm thì, với sức lực ấy, cậu cũng không trốn thoát đâu... Cậu sẽ ngồi tù thôi... Cậu làm sao chịu nổi!...

-Kệ, tớ đã ngán cuộc đời hợp pháp lắm rồi... Anh bạn ơi, cứ chờ đến lượt cậu đấy khi nó đến rồi mà cười... Kiên nhẫn, nó sẽ đến... Từ lâu cậu đã ngỏm và đã bị đem chôn rồi... Người ta đã bảo rồi, những nghề lương thiện chỉ là công việc của những kẻ ngây thơ mà thôi... Cậu hiểu rõ cái đó không khác gì tớ đâu...

-Có thể là thế... Nhưng người ta mạo hiểm với những việc tệ hại ấy là đã có tính toán tránh được mọi rủi ro... Cậu phải biết là cảnh sát ác lắm đấy... Phải cân nhắc lợi hại đi đã...

-Tớ không phản đối ý kiến cậu, nhưng cậu hiểu cho rằng, phải lao động như tớ đây, trong những điều kiện như tớ đang phải chịu đây, không ngủ, chỉ có ho, phải làm những cái bu lông đến con ngựa cũng không muốn... Không còn gì tồi tệ hơn cho tớ lúc này... Đó là ý kiến của tớ... Chẳng còn gì...

Tôi không dám nói rằng tóm lại thì hắn có lý, vì lẽ những điều trách móc của hắn có thể có sau này đối với tôi, nếu như cái mưu mô của hắn thất bại.

Để cho tôi vui vẻ trở lại, hắn kể ra một lô những lý do chính đáng về chuyện bà cụ, bởi vì trước sau gì thì bà cụ cũng không thể sống lâu hơn được nữa, bà cụ đã già quá rồi. Có thể là hắn làm chuyện ấy chỉ nhằm thu xếp sự ra đi cho bà cụ mà thôi.

Dù sao đã là một mưu mô xấu xa thì cũng không thể nói khác được. Mọi chi tiết đã được thỏa thuận giữa hắn với những đứa con trai và con dâu ấy: Vì bà đã lại có thói quen ra khỏi chỗ ở của mình, một buổi tối tốt đẹp nào đó họ sẽ bảo hắn đem thức ăn đến cho thỏ... Quả pháo sẽ được gài vào đúng chỗ... Tất cả mọi chuyện sẽ diễn lại đúng như ở nhà lão bán rau quả... Trong xóm, mọi người vẫn coi bà cụ là có máu điên, tai nạn có xẩy ra thì cũng chẳng ai lấy làm ngạc nhiên... Mọi người sẽ nói rằng họ đã bảo trước là chớ có đến với đàn thỏ mà bà cụ không chịu nghe... Và với tuổi tác như thế, chắc chắn là bà cụ làm sao chống lại được với một quả pháo như người ta đã gài... một quả pháo như thế nổ trúng đầu.

Chẳng còn gì mà nói, tôi đã từng kể một câu chuyện hay ho như thế cho Robinson.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.