Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối

Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Để ăn uống dè sẻn ở Mỹ, có thể đến các góc phố nhỏ kiếm mua một cái bánh nóng nhỏ kẹp khúc xúc xích, thật thuận tiện mà chẳng đắt là bao. Dĩ nhiên là ăn uống trong khu phố nghèo chẳng làm cho tôi ngượng ngùng, nhưng không còn bao giờ được gặp những người đẹp do tạo hóa sinh ra cho người giầu, cái ấy mới thật đau buồn chứ. Thà rằng không ăn cho xong.

Tại Laugh Calvin, tôi còn có thể qua lại trên tấm thảm dầy, làm ra vẻ tìm kiếm ai đó giữa những người đàn bà quá đẹp nơi cửa ra vào, còn có thể bạo dạn dần dần trong cái môi trường lập lờ ấy. Thú thật rằng nghĩ đến đó tôi càng thấy các cậu trên thuyền Infanta Combitta là có lý, qua kinh nghiệm tôi nhận ra mình quả là không có phong cách đích thực của một thằng khố rách. Anh em trên thuyền có mắng mỏ tôi thì cũng đáng. Tuy thế, tôi vẫn cứ không lấy lại được lòng can đảm. Tôi đến phải tăng thêm liều lượng của cái liệu pháp chiếu bóng mất thôi. Nhưng cái đó cũng chỉ đủ giúp cho tôi lấy lại được hứng thú làm một hai cuộc đi dạo. Chẳng có gì hơn. Ở châu Phi, tất nhiên tôi đã phải trải qua một thứ cô đơn khá là tàn bạo, nhưng tình trạng cô đơn trong cái tổ kiến Mỹ này lại dẫn đến một bước ngoặt còn nặng nề hơn.

Tôi luôn luôn sợ rằng mình sắp thành trống rỗng, rằng rút cục thì cũng chẳng có lý do chính đáng nào để tồn tại. Lúc này tôi đang đứng trước những sự thật hiển nhiên về cái hư vô của cá nhân mình. Vốn có những thói quen hèn kém, nên trong cái môi trường quá khác biệt này, tôi thấy ngay là mình như bị tiêu tan. Thật đơn giản là không nên tồn tại làm gì. Ngay khi phát hiện ra rằng người ta không nói với mình những chuyện thân mật, thì chẳng còn gì ngăn cản được tôi chìm đắm vào một nỗi lo âu không sao gượng lại được, chìm đắm vào một thư thảm họa tinh thần kinh khủng nhưng lại ngọt ngào đầu lưỡi. Một sự tởm lợm.

Trước hôm quẳng đồng đô la cuối cùng vào cuộc phiêu lưu này, tôi vẫn còn buồn chán. Đến mức chẳng chiết đến việc tìm xem có cách gì xoay xở gấp gáp nhất. Bản thân chúng ta, về thực chất, đều phù phiếm, chỉ nhờ có những trò giải trí mới ngăn cho chúng ta thật sự khỏi chết. Về phần mình, tôi bám vào cái liệu pháp chiếu bóng với một nhiệt tình vô vọng.

Ra khỏi cảnh tối tăm cuồng loạn của khách sạn, tôi còn thử làm vài cuộc bách bộ trên các phố lớn quanh đấy, cuộc dạo chơi vô vị dưới chân những ngôi nhà cao đến chóng mặt. Nỗi chán chường của tôi càng chồng chất trước những mặt tiền hào nhoáng mênh mông của những ngôi nhà, trước cái đơn điệu bầy ra trên các vỉa hè, các viên gạch và các dẫy ghế băng kéo dài vô tận và lại còn buôn với bán nữa chứ, căn bệnh lở loét của thế giới này, rực lên những trò quảng cáo đầy hứa hẹn và cũng đầy mụn nhọt. Lải nhải có đến mười vạn lời dôi trá.

Bên phía bờ sông, tôi đi khắp các hang cùng ngõ hẻm, kích thước bình thường như nhau, nghĩa là từ chỗ hè phố tôi đứng có thể ném vỡ các ô cửa kính trên một ngôi nhà trước mặt.

Ở những khu phố này luôn luôn khen khét mùi mỡ rán, các cửa hàng không dám bầy hàng ra ngoài vì lo mất cắp. Tất cả cảnh này gợi nhớ những khu xung quanh cái nhà thương tôi nằm ở Villejuif [90*] nhớ cả những đứa trẻ còn bé tẹo với hai đầu gối to tướng và đôi chân khoèo lê la trên các hè phố, cũng như nhớ tiếng đàn oóc trong những phiên chợ. Giá tôi cứ ở lại đấy với họ mà lại hay, nhưng họ những người nghèo kiết ấy lấy gì để nuôi tôi còn tôi thì luôn luôn thấy tất cả những gì ở họ và cái sự khổ cực quá thể của họ khiến tôi phát khiếp. Thế là cuối cùng tôi quay trở lại khu phố lớn. Tôi tự xỉ vả mình: “Đồ khốn kiếp! Thật ra thì mày là đứa chẳng có đạo đức gì cả!” Thôi thì cứ đành nhẫn nhục, để mỗi ngày lại hiểu mình thêm, vào cái lúc mà anh thiếu dũng khí để kết thúc một lần cho xong những tiếng than thở của chính anh.

Một chuyến xe điện cổ lỗ chạy dọc bờ sông Hudson vào trung tâm thành phố, rùng rùng trên những trục bánh và cái khung xe run rẩy. Mỗi chuyến phải mất đến một tiếng đồng hồ. Hành khách đi tầu không khỏi sốt ruột nối đuôi nhau tự bỏ tiền vào một cái giống như cối xay cà phê để lấy vé. Anh soát vé chỉ đứng nhìn hành khách làm việc đó, anh ta ăn mặc cũng giống như các tay soát vé bên mình, một thứ đồng phục của “lính dân vệ Ban-căng bị bắt làm tù binh”.

Cuối cùng thì tôi cũng về đến nơi, mệt bã người sau những cuộc bách bộ dân túy, trở lại với một dẫy dài bất tận những mỹ nhân ở cái tiền sảnh cò khoang và tôi lại qua đó luôn luôn với tâm trạng mộng mơ và ao ước.

Bụng đói cồn cào nhưng không dám moi túi xem mình còn bao nhiêu. Tôi nghĩ bụng, miễn là Lola đừng chọn lúc này để vắng mặt... Nhưng trước hết, liệu cô nàng có muốn tiếp mình không đã? Tôi có nên đến để bòn cô ta lấy năm chục hoặc một trăm đô để mở đầu không?... Tôi do dự, cảm thấy rằng mình chỉ có thể đủ can đảm để cùng một lúc giải quyết cái ăn và cái ngủ. Xong được chuyện này tôi sẽ tức khắc đi lùng cho ra Robinson, tức là ngay sau khi tôi đã lấy lại được sức. Robinson không phải thứ người như tôi đâu! Ít nhất thì cũng là một con người quả quyết! Một tay gan dạ! Chà! Cậu ta hẳn đã biết được lắm phép, lắm trò về nước Mỹ này! Có thể là cậu ta có được một phương pháp để đạt tới sự vững vàng và bình tĩnh này, điều mà tôi hoàn toàn thiếu...

Nếu cậu ta cũng đi trên một chiếc thuyền ga-le, như tôi thường hình dung, và đã lê lết trên cái bến ấy trước hẳn tôi, thì chắc chắn là vào giờ này, cậu ta đã tạo được cho mình một vị thế như người Mỹ rồi! Sự nhộn nhịp bình thản của những con người ngờ nghệch được một công việc văn phòng nào đó mà tôi đã đọc thấy trên các tờ quảng cáo ngoài phố... Nhưng nghĩ đến việc làm sao lọt được vào những ngôi nhà như thế là tôi đã phát sợ và có lẽ sẽ ngã xỉu vì nhút nhát. Cái khách sạn này cũng đã đủ lắm rồi. Một nhà mồ khổng lồ và nhộn nhịp một cách bỉ ổi.

Có thể là đối với những người đã quen thì chẳng chút nào bị tác động như tôi trước những đống chất liệu ngồn ngộn và những cửa hàng buôn bán san sát như tổ ong, những giàn giáo xây dựng vô tận. Đối với họ, có thể đó là sự an toàn trước tất cả những tai họa đang lơ lửng trên đầu, còn đối với tôi thì đó là sự an toàn trước tất cả những tai họa đang lơ lửng trên đâu, còn đối với tôi thì đó chẳng có gì hơn là một hệ thống những sự gò bó, bằng gạch, bằng những hành lang, những ổ khóa, những ghi sê, một sự tra tấn bằng một nền kiến trúc khổng lồ, liên miên không dứt.

Triết lý chẳng qua cũng chỉ là một cách sợ sệt và chỉ đem đến những ảo ảnh hèn nhát.

Trong túi chỉ còn có ba đô la, tôi nhìn chúng nhẩy nhót trong lòng bàn tay dưới ánh đèn quảng cáo ở Công viên Thời đại, cái công viên nhỏ và lạ lùng này là nơi mà quảng cáo thi nhau vọt qua đầu đám đông bận rộn chọn tìm một rạp chiếu bóng. Tôi thì tìm cho mình một nhà ăn nào thật rẻ và tôi đã tới được một trong những nhà ăn công cộng theo khẩu phần. Tại đó dịch vụ được rút xuống đến mức tối thiểu và nghi lễ ẩm thực được đơn giản hóa vừa đủ cho nhu cầu tự nhiên.

Vừa vào cửa là anh được trao vào tay một cái khay và anh xếp vào hàng đợi lượt. Chờ đợi. Cạnh tôi, những phụ nữ rất ư xinh xắn cũng là những ứng viên bữa tối như tôi nhưng chẳng ai nói lấy một lời... Tôi nghĩ bụng, giá bây giờ mình tự ý gợi chuyện với một trong những cô gái này, cái cô mũi thẳng và đỏm dáng kia, chắc hẳn sẽ có tác động kỳ cục lắm đây. Mình sẽ bảo: “Này cô ơi, tôi giầu tiền, giầu lắm... Xin cô cho biết cô ưng món gì...”. Thế là tất cả những gì mới trước đó còn quá phức tạp thì lập tức sẽ trở thành đơn giản ngay thôi, có thể tuyệt diệu nữa là khác... Mọi cái sẽ biến hóa và cái thế giới thù nghịch ghê gớm này sẽ tức khắc lăn lóc dưới chân anh như một cục tròn xảo trá, mượt mà, dễ khiến. Và, có thể ngay cùng lúc, người ta sẽ mất đi cái thói quen đã tàn tạ về những ước mơ thành đạt, gặp may, vì tất cả những cái đó đã có thể rờ mó được trên từng đầu ngón tay mình. Cuộc sống của những kẻ không phương kế chỉ là một sự cự tuyệt dài dài trong cơn mê sảng dài dài mà mình thật sự không hay biết và mình cũng chỉ trao được những gì mình có. Về phần tôi, mải miết theo đuổi những mộng mị, tôi chỉ có cái lương tâm gió lùa, cái lương tâm đã mang hàng nghìn kẽ nứt, đã hỏng hóc một cách ghê tởm.

Trong lúc chờ đợi, tôi chẳng dám khởi đầu câu chuyện vô thưởng vô phạt với đám thanh niên trong quán. Tôi bưng cái khay một cách khôn ngoan, lặng lẽ. Khi đến lượt tới trước một dẫy những chiếc đĩa bằng sứ đầy những khúc dồi và đậu, tôi nhận tất cả những gì người ta đưa cho. Nhà ăn tập thể này khá sạch sẽ, rất sáng sủa khiến người ta cảm thấy mình nổi lên trên nền nhà đá hoa như một con ruồi nổi trong bát sữa.

Các cô phục vụ, trông như những nữ y tá, đứng sau các liễn mì sợi, cơm và mứt quả. Mỗi cô chuyên một việc. Tôi được mấy cô kháu khỉnh nhất múc cho các thứ. Hiềm một nỗi là họ chẳng hé một nụ cười với khách. Lấy đủ thức ăn rồi, anh cứ việc nhẹ nhàng kiếm ghế ngồi, dành chỗ cho người khác. Bước chân chậm rãi với khay thức ăn cân bằng trên tay như đi qua phòng mổ. Khác hẳn với khách sạn Laugh Calvin và căn phòng nhỏ vách gỗ mun viền vàng của tôi.

Nhưng, nếu như họ dội xuống khách hàng chúng ta quá thừa thãi ánh sáng như vậy, nếu như họ lôi chúng ta nhất thời ra khỏi cảnh tối tăm quen thuộc, thì cái đó cũng là nằm trong ý đồ của họ. Chủ quán này có ý lắm đấy. Mình phải liệu chừng. Trò này gây một hiệu quả lạ lùng, là sau những ngày sống trong tăm tối bỗng anh được tắm trong dòng thác sáng rực. Với tôi, trò này có thể gây thêm một thứ hoang tưởng phụ nho nhỏ nữa. Nhưng tôi thì quả thật chẳng thiếu cái đó bao nhiêu.

Dưới cái bàn nhỏ dành cho tôi bằng dung nham không một vết xước, tôi không biết giấu chân mình vào đâu; đặt chân chỗ nào cũng bị thò ra. Giá quẳng đi đâu được thì cũng quẳng cho rồi, vì ở phía cửa, người qua lại cứ nhòm vào. Họ chờ chúng tôi ăn xong là nhảy vào chiếm lấy bàn. Càng thấy cái thuật chiếu sáng của nhà hàng, họ biến chúng tôi thành những thứ quảng cáo sống, gợi thèm cho những người ngoài kia. Mấy quả dâu trên miếng bánh ga tô của tôi lấp lánh ánh sáng làm cho tôi không biết có nên nuốt hay không.

Chẳng ai thoát khỏi ngón buôn của người Mỹ.

Qua ánh đèn sáng chói và sự gò bó, dẫu sao tôi vẫn nhận ra được một cô phục vụ rất xinh đi đi lại lại ngay gần sát bàn tôi, và định bụng không bỏ sót một cử chỉ đẹp nào của cô ta.

Khi đến lượt cô ta thay đĩa ăn, tôi để ý nhìn kỹ đôi mắt của cô, bất chợt thấy đuôi mắt rất sắc, phải là mắt con cháu phụ nữ xứ mình. Mi mắt cũng hơi cong hướng lên lông mày về phía thái dương. Tóm lại là coi bộ dữ đấy, nhưng cũng chỉ vừa mức, một nét dữ mà người ta vẫn ôm hôn được, một vị đắng quái quỷ giống như vị đắng của rượu vang vùng sông Rhin, tuy đắng mà ngon [91*].

Khi cô phục vụ ấy đến gần, tôi ra dấu kín đáo như thể đã quen biết cô. Cô ta nhìn tôi như một con vật không có vẻ gì là vừa lòng, tuy thế cũng nhìn chăm chú. Tôi nghĩ thầm: “Thế cũng tốt, đây là người phụ nữ Mỹ đầu tiên buộc phải nhìn kỹ mình đây”.

Ăn xong miếng bánh phản chiếu ánh đèn, tất nhiên tôi phải nhường chỗ cho người khác. Thế là, đầu hơi chuếnh choáng, lẽ ra phải đi theo con đường ra thẳng ngoài cửa, thì tôi lại mặc kệ tay thủ quỹ chờ trả tiền, lao bừa về phía cô gái tóc vàng, nghênh nga nghênh ngang một cách khác thường giữa những làn ánh sáng có khuôn phép ấy.

Cả hai mươi nhăm cô phục vụ đứng ở vị trí của mình sau những món ninh hầm, đều ra hiệu cho tôi biết đã lầm đường lạc lối rồi. Tôi cũng thấy có sự nhốn nháo trong những người đang xếp hàng bên ngoài cửa kính, và cả những người đang ăn ở phía sau tôi cũng ngồi đứng không yên. Cái trật tự công cộng ở đây vừa bị tôi phá quấy. Mọi người xung quanh đều hết sức ngạc nhiên. Họ bảo nhau: “Thằng cha này ít nhất cũng là một thằng ngoại quốc!”

Nhưng tôi có ý nghĩ của tôi, ý nghĩ đáng giá lắm chứ, tôi không còn muốn buông tha cô gái đẹp đã phục vụ tôi. Cô ta, cô gái xinh xắn ấy đã nhìn tôi, mặc cô ta. Tôi sống đơn độc như thế quá đủ rồi! Chẳng còn mơ mộng! Chẳng còn thiện cảm! Chẳng còn tiếp xúc! “Cô ơi, cô biết tôi còn quá ít, nhưng tôi thì đã yêu cô, cô có muốn chúng ta kết hôn không?....” Đó, tôi đã gọi hỏi cô ta theo cách đó, cách trung thực nhất.

Nhưng tôi có bao giờ nhận được câu trả lời của cô, vì một tay bảo vệ to lớn, cũng mặc toàn đồ trắng, đã xuất hiện tức khắc và đẩy tôi ra ngoài, chính đáng, đơn giản, không chửi rủa cũng không thô bạo, xua đuổi tôi vào đêm tối như xua đuổi một con chó ỉa bậy.

Mọi việc đó diễn ra bình thường, hợp lệ, tôi chẳng có ý gì để nói cả.

Tôi lại đi ngược về phía Laugh Calvin.

Trong phòng tôi, vẫn những tiếng ầm ầm như sấm sét của đoàn métro, vang vang xồng xộc từng hồi như thể nó đang từ phía xa lao thẳng vào mình. Mỗi chuyến nó lao qua là tưởng như nó lôi theo tất cả mọi cầu cống của nó để phá tan thành phố này ra, và rồi lẫn trong những tiếng rít rời rạc của máy móc đó, là tiếng lao xao uể oải của đám đông nhộn nhạo từ tít dưới đường phố vọng lên, ngập ngừng, tẻ ngắt, luôn luôn muốn đi tiếp rồi lại ngập ngừng, lại quay lại. Một thứ bát nháo của những con người thành phố.

Từ trên cao nơi tôi đứng, tha hồ mà gào thét trên đầu họ. Tôi đã thử. Tôi ghê tởm họ. Nhưng tôi chẳng có gan nói với họ lúc ban ngày, khi giáp mặt nhau, còn bây giờ, tít tận trên cao này, chẳng có gì phải lo, tôi gào tướng lên: “Cứu tôi với! Cứu tôi với!”, chỉ cốt xem có tác động gì đến họ không. Họ vẫn dửng dưng. Những con người ấy đang xô đẩy cuộc sống và đêm và ngày trước mặt họ. Cuộc sống che lấp tất cả không cho họ thấy được gì. Trong tiếng động của chính mình, họ không nghe thấy gì hết. Họ thây kệ. Và thành phố càng lớn, càng cao thì họ càng thây kệ. Tôi xin nói với bạn như thế. Tôi đã thử. Vô ích.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.