Để có thể thấy và đánh giá cho đúng, phải mau mau tìm cách trở thành bạn cánh hẩu với đám dân thường, vì họ ở hậu phương, theo đà tiến triển của chiến tranh, họ cũng ngày càng thoái hóa. Tôi hiểu được điều đó lập tức khi tôi trở lại Paris và cũng thấy được đám đàn bà nứng trôn và mấy lão có tuổi mồm há hốc mà tay thì quờ quạng hết chỗ này tới chỗ khác, từ hạ bộ đến túi áo túi quần.
Thừa hưởng những gì người đi trận để lại ở hậu phương, họ sớm hiểu được thế nào là vinh quang và cách nào tốt nhất để gánh vác cái vinh quang rất ư là anh dũng mà chẳng phải đau đớn tí gì.
Các bà mẹ [16*], lúc là những người cứu thương, lúc là những người hy sinh vì nghĩa cả, không buông chiếc khăn thâm trùm đầu cũng như không rời tấm bằng khen nho nhỏ của ngài bộ trưởng kịp thời cấp cho họ qua các nhân viên tòa thị chính. Tóm lại, mọi việc đã được sắp đặt đâu vào đấy.
Trong các đám tang chu đáo, bộ mặt người ta cũng rất ư là rầu rĩ, nhưng trong bụng thì đang còn mải nghĩ đến những chuyện thừa kế, đến những cuộc đi nghỉ sắp tới, đến người quả phụ kháu khỉnh và đa tình như người ta kháo nhau, và ai cũng còn ham sống, sống thật dai, có lẽ bất tử nữa ấy chứ!... Ai mà biết được?
Khi anh đi theo sau một đám tang như thế, anh được mọi người ngả mũ vái dài. Kể cũng thích. Đó là lúc anh phải giữ tư thế cho thật nghiêm chỉnh, tỏ ra người đứng đắn, không nói cười hô hố, có gì thích thú thì cũng để bụng. Cái đó thì được phép. Mọi cái để bụng đều được phép.
Trong thời buổi chiến tranh, người ta không nhẩy đầm trên gác lửng mà xuống dưới tầng hầm. Các chiến binh chấp nhận được chuyện đó, và họ cũng thích thế hơn. Mỗi lần về phép thăm nhà là họ lại đòi hỏi như thế, cũng chẳng ai coi đó là chuyện ám muội cả. Chỉ có sự dũng cảm ở đây, xét cho cùng, mới là ám muội. Dũng cảm với thể xác của mình ư? Vậy thì thứ hỏi xem con dòi con bọ nó có dũng cảm không, thân xác nó hồng hồng, nhàn nhạt, lại nhùn nhũn, cũng hoàn toàn như ta cả thôi.
Về phần tôi, tôi chẳng có gì để mà phải phàn nàn. Tôi lại còn đang được giải thoát bằng cái quân công bội tinh vừa giành được, bằng cái thương tật và bằng tất cả. Trong lúc nằm nhà thương, tôi được người ta đem mề đay đến gắn tận phòng cơ. Hôm ấy tôi được đưa ngay đi xem hát. Thế là vào lúc giải lao, tôi đã khoe cái mề đay của mình với đám khán giả là thường dân. Hiệu quả lớn lắm, vì lần đầu tiên ở Paris người ta được trông thấy những cái mề đay như thế. Việc hệ trọng lắm chứ.
Cũng trong dịp đó tôi gặp được tại phòng giải lao của hý viện Opéra cô Lola từ Mỹ qua, và cũng vì cô ấy mà tôi đâm ra lém lỉnh hẳn lên.
Trải qua những tháng ngày giành giật cái sống, những lúc như thế này thật đáng ghi nhớ! Cái hôm khoe chiếc mề đay ở hý viện Opéra, đối với tôi quả là quyết định.
Cũng do cô ta, cô Lola, tôi đâm ra tò mò muốn biết cái nước Hoa Kỳ nó ra làm sao, bởi vì cô ta chỉ trả lời qua quít những câu hỏi của tôi. Khi đã lao vào những cuộc lãng du kiểu ấy thì trở về lúc nào và trở về ra sao là theo khả năng của mỗi người...
Câu chuyện tôi đang kể đây là vào cái thời mà ở Paris mọi người đều háo hức đi tìm một bộ đồng phục để khoác lên người. Chỉ có bọn lừng chừng và bọn gián điệp mới không quan tâm đến việc ấy, mà hai bọn này thì cùng một giuộc như nhau. Lola có một bộ đồng phục chính quy và đồ xịn hẳn hoi, khá đẹp, lại thêm nổi nang với những chữ thập đỏ tí xíu gắn trên ve áo, trên hai cổ tay và trên chiếc mũ nồi nhỏ nhắn làm đỏm trên mái tóc uốn lượn. Cô ta thổ lộ với ông chủ khách sạn rằng cô sang đây để giúp nước Pháp, tuy sức vóc ít ỏi nhưng sẵn sàng hiến cả trái tim mình! Chúng tôi hiểu nhau ngay, dẫu chưa phải đã hoàn toàn, vì tôi đã quá ngán những kiểu hăm hở con tim rồi. Đơn giản là tôi thích cái hăm hở thể xác cơ. Trong chiến tranh, tôi đã học được rằng phải tỉnh táo thế nào với những con tim, và bài học ấy tôi chưa quên được đâu.
Trái tim Lola dịu dàng, yếu ớt và nồng nhiệt. Người cô xinh xẻo, rất đáng yêu và thật sự buộc tôi phải ra sức chiếm lấy cô toàn bộ như cô hiện có. Tóm lại thì Lola là một cô gái dễ mến, khốn nỗi trong quan hệ của chúng tôi lại bị đan xen vào cái cuộc chiến tranh chết tiệt ấy. Cái cơn cuồng bạo đáng ghét ấy thúc ép nửa này của nhân loại, dù có thương yêu hay không, dồn đẩy nửa kia vào lò mổ. Hậu quả không tránh được là cứ có cái gì vướng mắc trong quan hệ giữa chúng tôi. Tôi thì có muốn kéo dài những ngày nằm viện bao lâu cũng được, chứ dại gì mà quay lại cái bãi tha ma rát bỏng những chiến trận, mỗi bước chân trên đường phố tôi càng thấy rõ cái lố bịch của cuộc tàn sát được che đậy hào nhoáng ấy. Một trò quỷ quái lớn đang được trải rộng ra khắp nơi.
Tuy thế tôi có ít cơ may để thoát ra khỏi cái trò quỷ quái ấy, tôi chẳng có được mối manh nào để mà làm việc này. - Tôi chỉ quen rặt người nghèo kiết, tức là những người có chết cũng chẳng ai bận tâm. Còn cô Lola, cũng không trông cậy gì được ở cô để mà tránh xa được hỏa tuyến. Là một nữ y tá như cô ta thì, có lẽ ngoại trừ Ortolan, chứ chẳng ai có thể mơ thấy một người hăng say chiến đấu như cô gái xinh đẹp ấy. Giá mà trước lúc tôi đem xài phí khốn khổ các thứ anh hùng chủ nghĩa, thì cái dáng vẻ Jeanne D’Arc [17*] bé bỏng của cô có thể đã kích thích, thuyết phục tôi; nhưng lúc này đây, kể từ khi tôi nhập ngũ ở quảng trường Clichy, tôi đã ghê sợ mọi thứ anh hùng chủ nghĩa, dù là nói mép hay thật sự. Tôi đã khỏi được cái bệnh ấy rồi, khỏi hẳn rồi.
Để thuận tiện sinh hoạt cho các bà các cô trong đội viễn chinh Mỹ, nhóm y tá nữ, trong đó có Lola, được xếp chỗ ăn ở tại khách sạn Paritz, và để cho mọi người được thoải mái hơn, nhất là đới với Lola, người ta phân công cho nhóm một công việc đặc biệt ngay trong khách sạn. Đó là việc làm bánh rán táo để cung cấp cho các nhà thương ở Paris. Mỗi buổi sáng, nhóm phân phát hàng vạn chiếc bánh rán. Lola đảm nhiệm việc nhẹ nhàng này với tinh thần khá hăng say, nhưng rồi chỉ ít lâu sau cô thấy việc đó gây tai họa cho mình.
Số là, trong đời mình, Lola đã bao giờ làm bánh rán đâu. Bởi thế cô bèn thuê mướn một số chị em cấp dưỡng, và sau một vài lần làm thử, những chiếc bánh ra lò vàng ngậy, ngọt lịm, ngon tuyệt. Nhưng với trách nhiệm của mình, Lola vẫn phải nếm mỗi mẻ bánh trước khi đem đi phân phối cho các bệnh viện. Sáng nào Lola cũng dậy vào khoảng mười giờ, tắm táp xong là cô xuống bếp, ở sâu dưới tầng hầm nhà. Trong khi làm công việc đó, Lola chỉ khoác trên người chiếc kimono Nhật Bản mầu đen và vàng do một người bạn ở San Francisco tặng cô trước hôm lên đường. Mọi việc trôi chảy, và trên chiến trường phía ta cũng đang thắng. Nhưng rồi bữa đó, vào giờ ăn sáng, tôi thấy Lola có vẻ băn khoăn bối rối, không chịu ăn chút gì. Hiểu rằng có điều gì đó không hay đã xảy ra, nỗi buồn của cô lây cả sang tôi. Tôi khẩn nài cô hãy tin vào sự trìu mến kín đáo của tôi.
Thì ra, trong suốt một tháng qua, ngày nào cũng phải nếm bánh ra lò, khiến cho Lola đã mập thêm hai bảng [18*]! Cái dây lưng phải nới thêm một nấc đã chứng minh cho tai họa này. Thế là nước mắt tuôn trào. Tôi làm hết sức mình, thử tìm cách an ủi cô, lao xe taxi đưa cô đến nhiều hiệu bào chế ở nơi này nơi khác. Nhưng không may làm sao, tất cả mọi cái cân ở các hiệu thuốc đều chỉ ra một cách không còn chối cãi được nữa, rằng quả là cô đã mập thêm đúng hai bảng. Tôi gợi ý với Lola từ bỏ cái công việc ấy, nhường chỗ cho một cô bạn, ngược lại, đang tìm kiếm “món hời” đó. Nhưng Lola không chịu, cô coi đó là một sự hổ thẹn, một trò đào ngũ thật sự. Nhân chuyện này, cô cho tôi biết ông cụ thúc bá với cố nội cô là một trong những thủy thủ quang vinh đời đời của chiến hạm Mayflower đã từng đổ bộ lên Boston năm 1677, và tôn trọng cái ký ức vẻ vang đó, cô không thể nào nghĩ đến chuyện trốn tránh nghĩa vụ với những chiếc bánh rán ấy, tất nhiên rất khiêm tốn nhưng cũng rất thiêng liêng.
Dẫu rằng từ hôm ấy cô chỉ còn nếm bánh bằng có nửa miệng: hai hàm răng thẳng tắp xinh đẹp chỉ khẽ nhấm chiếc bánh. Nỗi lo sợ béo mập khiến cô không còn thiết gì đến mọi thú vui. Cô héo hắt đi. Trong có một thời gian ngắn mà cô phát sợ những chiếc bánh rán như tôi sợ những viên trái phá. Vào lúc này, cũng chỉ vì những chiếc bánh rán ấy, để tiêu bớt mỡ, chúng tôi thường đi bộ dạo quanh, dọc theo các bến sông, trên những đại lộ, nhưng không còn dám vào nhà hàng Napolitain, bởi lẽ kem sữa cũng làm béo mập các bà!
Chưa bao giờ tôi dám mơ đến chuyện được ở trong một căn phòng có tiện nghi như của Lola, quét toàn màu lơ nhạt, một buồng tắm ngay cạnh. Ảnh bạn bè treo khắp, với những lời đề tặng, ít ảnh phụ nữ, nhiều ảnh đàn ông, những chàng trai bảnh bao, tóc hung, uốn xoăn, cùng loại với cô, cô kể tôi nghe mầu mắt của họ, rồi những lời đề tặng của họ dịu dàng làm sao, trịnh trọng thế nào, và tất cả, đều thật lòng. Lúc đầu, vì lịch sự, tôi hơi lúng túng giữa đống ảnh đó, nhưng rồi cũng quen dần.
Liền sau nụ hôn của tôi, cô lại tiếp tục những chuyện chiến tranh, chuyện những cái bánh rán, tôi cứ để cô nói mà không cắt ngang. Cả đến nước Pháp cũng có chỗ trong những câu chuyện của chúng tôi. Đối với Lola, nước Pháp là một thực thể hào hiệp, với những đường biên ít bị hạn chế bởi không gian và thời gian, nhưng vào thời điểm ấy nó đang mang thương tích hiểm nghèo, song chính vì thế lại càng rất ư hấp dẫn. Còn tôi, mỗi khi người ta nói với tôi về nước Pháp, thì tôi không thế không nghĩ đến tâm can mình, và thế là buộc tôi phải hết sức dè dặt về những gì liên quan đến lòng hăng hái. Người nào có cái khiếp sợ của người ấy. Tuy nhiên, Lola thật vừa ý về mặt tình dục, nên tôi cứ để cô nói mà chẳng nói lại. Về mặt tâm hồn thì tôi chẳng ưng cô chút nào. Rất ư là rung động, rất ư là hớn hở, có lẽ cô muốn tác động vào tôi. Còn tôi, tôi vẫn hoàn toàn không hiểu nổi vì sao mình lại rơi vào trạng thái này, một trạng thái thanh cao, nhưng bản thân mình thì thấy, với trăm nghìn lý lẽ, toàn là không bác bỏ được, rằng mình thật ra vẫn trong tâm trạng rõ ràng ngược lại.
Chung quy, Lola cũng chỉ nói vớ nói vẩn những chuyện hạnh phúc và lạc quan, như những kẻ đang sống trong cái mặt tốt của cuộc đời, những kẻ được ưu ái, khỏe khoắn, an toàn và hẳn còn sống dai.
Cô cứ loay hoay với những chuyện tâm linh mà cô đã có đầy trong miệng. Tâm linh chẳng qua chỉ là thứ hão huyền và là trò vui của thể xác chừng nào thể xác còn khỏe mạnh; nhưng nó cũng là sự thèm khát thoát ra khỏi thể xác ngay khi thể xác đã ốm yếu hay mọi cái đã trở nên tồi tệ. Hai cái, thể xác và tâm linh, tùy anh chọn lấy cái nào dễ chịu nhất đối với anh vào thời điểm ấy, và cũng chỉ thế thôi! Chừng nào còn được lựa chọn thì cũng là tốt nhất. Khốn nỗi tôi chẳng còn có gì mà chọn, đối với tôi mọi cái đều đã an bài cả rồi. Tôi đã rơi vào tận cốt lõi của sự thật, ngay cả cái chết của chính mình cũng đang rình rập mình từng bước. Khốn khổ cái thân tôi, muốn nghĩ cái gì khác hơn là số phận một kẻ bị treo án tử hình, trong lúc mọi người cứ tưởng mình là một kẻ hoàn toàn bình thường như họ.
Cái thứ ngắc ngoải mãi không chết, đầu óc vẫn tình bơ, vẫn khỏe mạnh, trong lúc đó thì mình không còn được biết gì hơn là những sự thật tuyệt đối, cứ phải kéo dài cơn hấp hối ấy để mà hiểu cho đến tận cùng những điều người ta nói.
Kết luận của tôi là quân Đức có thể đến đây, giết sạch, cướp sạch, phá sạch, cả cái khách sạn, cả những cái bánh rán, cả Lola, cả cung điện Tuileries, cả các bộ trưởng và những người tình của họ, cả Viện Hàn lâm, Bảo tàng Le Louvre, Nhà hàng Bách hóa, tiêu tan thành phố, giội xuống sấm sét của Chúa, lửa thiêu của quỷ, trong cái sự nhốn nháo mục ruỗng mà người ta chẳng cần gì phải đổ thêm những đồ nhớp nhúa vào đó nữa, còn tôi thì tôi thật sự là chẳng mất gì cũng chẳng được gì trong đó.
Nhà ông chủ có cháy thì cũng chẳng mất mát gì to lớn. Sẽ có luôn một ông chủ khác, nếu không phải vẫn ông ta, người Đức hay người Pháp, người Anh hay người Tàu, gặp dịp là chìa luôn biên lai tiền thuê nhà ra... Trả bằng đồng mác hay đồng phrăng? Cứ biết lúc này phải trả đi đã...
Tóm lại, về mặt tinh thần thì tồi tệ hết sức. Tôi mà nói ra cho Lola biết tôi nghĩ gì về cuộc chiến tranh này hẳn cô ta sẽ coi tôi hoàn toàn đơn giản là một con quỷ và xua đuổi tôi ra khỏi những dịu dàng thầm kín nhất của cô. Vậy là tôi ém nhẹm, không thổ lộ với cô những lời tự thú của mình. Ngoài ra, tôi cũng cảm thấy quanh mình đang có một vài khó khăn và cả sự kình địch nữa. Mấy gã sĩ quan đang có ý giành giật Lola với tôi. Mà sự giành giật này quả là đáng gờm đấy, vì họ được trang bị bằng những cái mề đay Bắc đẩu rất quyến rũ. Báo chí Mỹ đã chẳng nói nhiều về cái mề đay Bắc đẩu nổi tiếng này sao. Đôi ba lần tôi đã có cảm giác là mình bị cắm sừng và quan hệ giữa chúng tôi bị đe dọa, nếu như cô gái lông bông ấy không bất ngờ phát hiện ở tôi một lợi ích cấp cao: đó là việc mỗi sáng nếm bánh thay cô.
Thế là đúng vào phút chót, cái sự chuyên môn hóa ấy đã cứu vớt tôi! Lola bằng lòng để tôi thay cô, và tôi bỗng nhiên thấy mình cũng là một chiến sĩ dũng cảm, xứng đáng với chức vụ tin cẩn ấy. Từ đó chúng tôi không chỉ là người tình của nhau mà còn là người cộng tác với nhau. Và một thời đại mới được bắt đầu như thế đó.
Thân hình cô đối với tôi là một niềm vui vô tận. Tôi ve vuốt khắp người cô gái Mỹ ấy chẳng bao giờ biết chán. Tôi thấy mình đúng là một con lợn đáng ghét, nhưng cũng đành vậy thôi.
Tôi tự tạo cho mình một niềm tin khá thú vị và càng lúc càng mạnh, là cái xứ sở đã thừa sức sản sinh ra những thân hình vừa táo bạo trong cái duyên dáng của mình, vừa hấp dẫn bởi sự bay bổng của trí tuệ, hẳn còn có thể cung cấp cho ta nhiều tiết lộ to lớn khác theo nghĩa sinh vật học.
Vừa mải miết mân mê Lola, tôi vừa nghĩ đến việc sớm muộn gì thì ngay khi nào có thể được là mình phải làm một chuyến đi Mỹ, như một cuộc hành hương thực sự. Chừng nào chưa thực hiện được đến nơi đến chốn cuộc phiêu lưu kỳ thú ấy, cuộc phiêu lưu theo quan điểm giải phẫu thần bí, thì tôi còn chưa nguôi và chưa thế nào ngơi nghỉ, mặc dầu đang phải trải qua một cuộc sống ngang trái rõ ràng đầy những phiền toái.
Tôi nhận được thông điệp của cái thế giới mới này gần kề ngay sau đít Lola. Ta phải thừa nhận với nhau rằng, Lola chẳng phải chỉ có thân hình như thế, mà cô còn được phú bẩm một cái đầu nhỏ nhắn xinh xinh và hơi dữ dằn vì cặp mắt xanh ngả xám âm u hơi xếch như cặp mắt mèo rừng.
Chỉ ngắm nhìn khuôn mặt cô là tôi đã thèm rỏ dãi như thấy vị rượu chát không pha. Đôi con mắt bướng bỉnh, không hề sắc sảo vì sự lanh lợi dễ thương kiểu con buôn hay kiểu tình tứ phương đông như hầu hết những con mắt ở chốn này.
Chúng tôi thường gặp nhau ở một quán cà phê ngay cạnh đó. Thương binh về đây ngày càng nhiều, tập tễnh lò cò trên đường phố, thường là ăn mặc lôi thôi lếch thếch. Người ta tổ chức những cuộc lạc quyên dành cho họ, những “Ngày” cho đám này, cho đám kia, và trước hết cho những kẻ đứng ra tổ chức những “Ngày” ấy. Nói dối, làm tình và chết [19*]. Ngoài ba cái ấy ra, đã có lệnh cấm không được làm cái gì khác. Người ta nói dối đến phát rồ, vượt xa mọi trí tưởng tượng, mọi sự lố bịch và phi lý, trên báo chí, trên các bích chương, đi bộ, đi ngựa, đi xe. Tất tần tật đều tham gia vào đấy. Đua nhau, kẻ này nói dối dữ hơn kẻ kia. Dần dà chẳng còn gì là sự thật ở thành phố này.
Một tí gì ta thấy hồi năm 1914, thì bây giờ ta phải xấu hổ vì nó. Sờ vào cái gì cũng là của giả hết. Từ miếng đường, những chiếc máy bay, đôi dép, thìa mứt, bức ảnh; tất cả những gì ta đọc, nuốt, mút, ngưỡng mộ, hoan hô, bác bỏ, bảo vệ, tất cả những thứ đó chỉ là những bóng ma hận thù, giả tạo và lừa lọc. Ngay cả những kẻ phản bội cũng là giả mạo. Cơn điên loạn nói dối và tưởng là thật bám vào người như con cái ghẻ. Cô bé Lola chỉ bập bẹ mấy câu tiếng Pháp nhưng đều là giọng ái quốc ái quần: “Ta sẽ thắng chúng nó!...” “Madelon, lại đây [20*].... Đến phát khóc được.
Vả lại như mọi chị em phụ nữ, ngay sau khi cái trò dũng cảm thay cho người khác trở thành thời thượng, cô quan tâm tới cái chết của chúng ta với tinh thần say mê đến khiếm nhã thế đấy.
Còn tôi, là kẻ đã bộc lộ rõ ràng hết cả lòng ưa thích đối với những cái đưa mình tránh xa được cuộc chiến tranh này! Tôi đã nhiều lần yêu cầu Lola cho biết những tình tiết về nước Mỹ của cô nhưng chỉ được trả lời bằng những lời bình rất mơ hồ, kênh kiệu và rõ ràng là không chắc chắn, cốt để gây một ấn tượng hào nhoáng trong tâm trí tôi.
Nhưng tôi thì lúc này phải dè chừng những cái gọi là ấn tượng. Người ta đã một lần lừa phỉnh tôi bằng ấn tượng rồi, tôi không để cho ai phỉnh phờ nữa đâu. Không một ai.
Tôi tin vào phần xác chứ không tin vào phần hồn của cô. Tôi coi cô như một nữ quân nhân xinh đẹp được lùi xa hỏa tuyến, về với mặt trái cuộc chiến, mặt trái cuộc đời.
Cô xuyên qua nỗi khắc khoải của tôi với khẩu khí của tờ Le Petit Journal (Nhật báo nhỏ): Pompon, Fanfare, ma Lorraine et gants blancs![21*]... Trong khi chờ đợi, tôi thường xuyên tỏ ra lịch sự, đảm bảo giúp cô bớt mập. Nhưng cô lại trông mong đạt được mục đích ấy bằng những cuộc tản bộ dài dài. Tôi rất ghét đi bộ như vậy mà cô thì một mực kèo nài... Thế là chiều chiều, như các nhà thể thao, chúng tôi lui tới khu rừng Boulogne, đi bộ một vòng cả hồ thượng và hồ hạ.
Thiên nhiên kể cũng ghê thật. Ngay cả khi bàn tay con người đã thuần hóa mạnh như ở khu rừng này, thì nó vẫn cứ gây một thứ rờn rợn đối với những kẻ quen sống ở thị thành. Nhưng rồi họ cũng lại dễ dàng lấy nơi này để trao đổi tâm tình thầm kín. Chẳng đâu bằng Rừng Boulogne, khí hậu ẩm ướt, lưới thép vây quanh, cây cỏ mỡ màng nhẵn nhụi, để mà chứa chan trong lòng các thị dân ấy những kỷ niệm không sao nén lại được khi du ngoạn giữa các hàng cây. Lola cũng không thoát ra khỏi nỗi lo ầu sầu muộn và thầm kín ấy. Trong lúc hai đứa đi dạo như thế, cô kể cho tôi nghe một cách khá chân thật đủ mọi thứ chuyện về đời sống của cô ở New York, về những cô bạn tâm tình của cô ở bên đó. Tôi làm sao phân tỏ được thực hư trong cái mớ bòng bong những là đô la, những cuộc đính hôn, những cuộc ly hôn, mua sắm áo sống và nữ trang, một cuộc sống như thế đối với tôi quá ư đầy dủ!
Hôm ấy chúng tôi đi xuống phía trường đua ngựa, vẫn còn thấy quanh đó vô khối những cỗ xe ngựa và bầy trẻ nhỏ, đứa thì leo lên mình con la, đứa khác nghịch bụi lầm, những chiếc ô tô chất đầy những cậu lính về phép hối hả mò các cô gái “đang còn để không” trên những lối đi, giữa hai con đường xe lửa cho trẻ con. Bụi lại càng tung mù lên dưới chân những kẻ vội vội vàng vàng tìm nơi đánh chén và làm tình. Họ rối rít và nhầy nhớp, cuống cà kê lên vì đã đến lúc không còn nhịn được cơn thèm khát nhục dục. Mồ hôi mồ kê nhễ nhại vì ham muốn và cũng vì nóng nực.
Khu rừng bây giờ đã bớt nghiêm đi nhiều, việc trông coi có vẻ chểnh mảng, hành chính bỏ lửng...
Lola nhận xét:
- Trước chiến tranh, chỗ này hẳn là đẹp lắm, phải không anh?... Trang nhã ấy chứ nhỉ?... Anh kể lại cho tôi biết đi, Ferdinand!... Có phải đây là chỗ đua ngựa không?... Có giống như ở New York bên nước tôi không?
Quả thật, hồi trước, chiến tranh, tôi có được đến đây bao giờ mà xem đua ngựa! Nhưng để cô khuây khỏa, tôi cũng cứ bịa liều ra hàng trăm chi tiết mầu mè về cái đề tài này, nhờ những chuyện nghe lỏm được đây đó. Áo sống phụ nữ thế nào... Các cô nàng thanh lịch ra sao... Những cọ xe hòm choáng lộn... Những cuộc xuất phát... Những hồi còi lảnh lót và cố tình... Cú nhảy của con ngựa qua rãnh nước... Ngài tổng thống... Cơn sốt khi lên khi xuống trong những canh bạc, vân vân...
Sự mô tả theo tưởng tượng của tôi đã làm cô rất vui lòng và vì thế chúng tôi lại càng gần gụi nhau hơn. Từ đấy, Lola xem chừng như thấy hai đứa ít nhiều đã hợp tính hợp nết nhau, cùng có một sở thích trang trọng của giới thượng lưu mà cô cho là tôi đã kín đáo che giấu. Với nỗi xúc động bột phát, cô ôm chầm lấy tôi hôn hít, phải nói rằng đó là một việc hiếm khi xảy ra. Và thế rồi cô bỗng cảm thấy buồn nhớ những cái mốt thời thượng nay đã trôi qua. Mỗi người khóc than thời gian một cách. Đối với Lola, qua những lỗi thời của thời thượng mà cô thấy được năm tháng vùn vụt trôi.
-Ferdinand này, anh có tin là rồi đây sẽ lại có đua ngựa ở trường đua này không?
-Có lẽ đến khi nào chiến tranh kết thúc, Lola ạ...
-Cái đó không chắc chắn phải không?...
-Không, không chắc chắn...
Cái khả năng không bao giờ còn những cuộc đua ở Longchamp làm cho Lola hẫng hụt. Nỗi buồn trần thế thấm được vào ai còn tùy, nhưng hình như chẳng mấy ai thoát khỏi nó.
-Ferdinand này, giả dụ như chiến tranh còn kéo dài, nhiều năm nữa chẳng hạn... Như thế thì sẽ quá muộn đối với tôi... Để trở lại nơi này... Anh có hiểu tôi không, Ferdinand?... Tôi yêu biết mấy những cảnh đẹp như ở đây... Rất là thượng lưu... Rất là thanh lịch... Sẽ quá muộn mất... Mái mãi là quá muộn... Có lẽ... Khi ấy tôi đã già rồi, Ferdinand ơi. Khi người ta lại được ngồi lại với nhau... Thì tôi đã già mất rồi... Anh sẽ thấy, Ferdinand, anh sẽ thấy là quá muộn... Tôi cảm thấy là quá muộn...
Và thế là cô lại rơi vào sầu não, cũng như chuyện hai cái bảng mỡ thừa ấy [22*]. Để cô yên lòng, tôi nêu ra đủ mọi hy vọng có thể nghĩ được trong đầu... Rằng cô mới ở tuổi hăm ba... Rằng chiến tranh đang mau chóng kết thúc... Rằng những người xinh đẹp sẽ trở lại... Như trước và hơn trước... ít nhất cũng dành cho cô... Một người xinh đẹp như cô! Quãng thời gian đã mất, cô sẽ giành lại được, chẳng mất mát gì!... Những lời khen ngợi, những lời thán phục sẽ không quên ngay được cô đâu... Lola làm ra vẻ không lo buồn nữa để chiều lòng tôi.
-Ta lại đi nữa chứ? cô hỏi.
-Để gầy bớt?
-Ờ, đúng thế, tôi quên khuấy đi mất...
Chúng tôi rời Longchamp, đám trẻ nhỏ đã bỏ đi. Chỉ còn bụi bậm. Những cậu lính về phép thì vẫn mải mê theo đuổi Hạnh phúc, bây giờ ở bên ngoài các rừng cây, và Hạnh phúc có lẽ đang bị dồn hãm về phía các hè phố mạn cửa ô Maillot.
Chúng tôi đi bộ theo bờ sông xuôi về phía Saint-Cloud, mặt sông phủ một quầng sáng nhấp nháy trong sương thu. Gần phía chân cầu, mấy chiếc sà lan chở than đầy ngập mạn, đầm sâu xuống mớn nước, ghếch mũi lên cầu tầu...
Cây cối trong công viên xòe tán xanh rờn vươn rộng ra cả ngoài hàng rào. Thông thường, ngắm nhìn những cầy cối đó ta thấy được cả cái dịu dàng của một tầm cao rộng lẫn cái sức mạnh của những ước mơ lớn lao. Nhưng với tôi, sau những lần bị chúng nó phục kích, chỉ mới thoáng thấy cây là tôi đã phải dè chừng. Vì mỗi gốc cây là một người đã ngã xuống. Giữa hai rặng hoa hông, một con đường lớn dẫn tới những vòi nước. Cạnh đó, bên quán nước soda của một bà cụ già, hình như tất cả bóng chiều đang từ từ đọng xuống quanh váy bà cụ. Xa một chút, bên những con đường, thấp thoáng những khối vuông và chữ nhật lợp vải bạt sẫm mầu, đó là những lều quán đang vui ngày hội thì chiến tranh đổ ập xuống, nhận chìm tất cả vào tĩnh lặng.
- Vừa đấy mà họ ra đi đã được một năm! Bà cụ nhắc nhở chúng tôi. Bây giờ, ngày nào đông cũng chỉ vài mống qua đây thôi... Tôi có đến ngồi hàng thế này cũng chỉ vì quen đi rồi... Ngày trước có biết bao nhiêu là người lui tới đây!...
Bà cụ không biết gì hơn về những gì đã xẩy ra, ngoài câu chuyện ấy! Lola muốn tôi đưa cô đến gần những dẫy lều quán trống trơn, một ý muốn kỳ cục, buồn tênh.
Chúng tôi đếm được khoảng hai chục cái. Những cái dài vẫn còn nguyên những tấm gương treo. Những lều quán nhỏ, nhiều hơn, đó là những quầy bánh kẹo, xổ số, lại có cả một rạp hát nhỏ. Tất cả đều trông huếch trống hoác. Giữa các hàng cây, chỗ nào cũng có lều quán, có cái chẳng còn chiếc rèm che nào, tự phanh phui như thế một bí mật đã quá thời.
Những túp lều đang đổ rạp xuống với đống lá rụng và bùn đen. Chúng tôi dừng lại trước một túp lều, xiêu vẹo hơn cả, ở cuối dẫy; mấy cái cột chống bị gió thổi lắc la lắc lư như chiếc thuyền buồm gặp cơn gió lộng giữa biến khơi, sắp đứt nốt sợi dây neo buồm cuối cùng. Túp lều lảo đảo, tấm bạt ở giữa bị gió tốc lên khỏi mái. Trên cái biến treo trước cửa vẫn còn đọc được hàng chữ sơn xanh đỏ: Gian hàng các dân tộc. Đấy trước là gian bắn súng lấy thưởng. Cũng chẳng còn ai mà trông coi, có lẽ lão chủ đã rút đi với mọi người, với các khách hàng của lão. Những cái bia nho nhỏ kia đã từng phải hứng chịu bao nhiêu là đạn! Cái nào cũng lỗ chỗ đầy những chấm trắng nhỏ. Để làm trò vui, người ta còn bầy ra một dám cưới với những hình người nhỏ xíu bằng kẽm: trên hàng đầu, cô dâu kẽm cũng ôm hoa, theo sau là một cậu em họ, rồi tới chú rể, một chàng quân nhân, cái mõm to đỏ chót, tiếp đến hàng thứ hai là những khách mời cũng bằng kẽm, có lẽ đã có không ít những người kẽm ấy bị bắn ngã trong những ngày còn thịnh cái trò chơi này.
-Tôi tin chắc là anh bắn giỏi lắm, phải không Ferdinand? Giá mà vẫn còn hội hè như trước thì tôi nhất định thi đấu với anh!... Có phải anh bắn giỏi không, Ferdinand?
-Không đâu, tôi bắn chẳng giỏi lắm đâu...
Phía sau cái đám cưới kẽm ấy, có một hàng những hình vẽ lòe loẹt, trong đó có cả tòa thị chính và lá cờ ba sắc. Người ta cũng đã từng thi nhau bắn vào cái tòa thị chính ấy trong những ngày hội: nghe thấy chuông nhỏ keng một tiếng là anh phải bắn thật nhanh thật trúng qua khung cửa sổ vừa hé mở ra là đóng lại liền. Cả lá cờ bằng kẽm cũng thế, người ta cũng bắn tuốt. Thế rồi bắn cả vào cái trung đoàn lính kẽm hành quân trên cái dốc ở bên cạnh đó, giống như trung đoàn thật của tôi ở quảng trường Clichy dạo nào. Ở đây thì cái trung đoàn lính kẽm đi giữa những chiếc ống điếu và những quả bóng nhỏ, người ta bắn tất, tất tần tật những gì có thế bắn được, và bây giờ họ có lẽ bắn cả vào tôi, hôm qua đã vậy, ngày mai cũng thế.
Bất giác, không nén lại được, tôi kêu toáng lên:
-Họ bắn cả vào tôi nữa, Lola ơi!
-Lại đây nào, anh nói lảm nhảm rồi, Ferdinand. Thôi ta đi, kẻo chúng mình cảm lạnh mất.
Chúng tôi xuôi xuống Saint-Cloud bằng con đường lớn, đường Nhà Vua, để tránh bùn. Cô nắm tay tôi, bàn tay cô nhỏ nhắn. Nhưng tôi chẳng còn nghĩ gì khác ngoài cái đám cưới kẽm trong gian hàng trên kia mà người ta bỏ mặc trong bóng tối của các hàng cây bên đường. Tôi quên cả ôm hôn Lola, tôi không thể làm khác được. Tôi cảm thấy mình thật kỳ cục. Chính từ lúc ấy tôi thấy khó mà yên tâm với tất cả những gì chứa chất trong đầu.
Đến được gần cầu Saint-Cloud thì trời đã sẩm tối.
-Ferdinand này, anh có đồng ý đi ăn tối ở nhà hàng Duval không? Anh thích nhà hàng Duval lắm mà... Như thế có lẽ anh sẽ thay đổi được những ý nghĩ trong đâu. Đến đấy ta luôn luôn gặp được nhiều người. Hay là, ít nhất thì anh cũng thích ăn trong phòng tôi chứ? - Tối hôm ấy, tóm lại là Lola rất ân cần với tôi.
Cuối cùng, chúng tôi đi đến quyết định tới nhà hàng Duval. Nhưng hai đứa vừa ngồi vào bàn thì tôi bỗng thấy nơi này thật là kỳ quái. Tất cả đám người ngôi xung quanh đó đều cho mình cái cảm giác là họ cũng đón chờ những loạt đạn từ tứ phía xả vào họ trong lúc đang ăn nhậu. Thế là tôi thét toáng lên để cảnh báo cho họ biết:
-Chạy hết cả đi! Cút hết đi! Chúng nó bắn đấy! Giết các người đấy! Giết tất cả chúng ta đấy!
Họ tức tốc đưa tôi về khách sạn của Lola. Đến chỗ nào thì tôi cũng thấy thế cả. Tất cả những người đi lại trong cái khách sạn Paritz này hình như đều đang nhằm bắn vào nhau và các nhân viên đứng sau cái quầy trả tiền to tướng kia cũng thế, cũng ở tư thế sẵn sàng làm việc ấy, và cả thằng cha đứng ởdưới kia nữa, dưới tầng trệt của Paritz, với bộ đồng phục xanh lơ như da trời, vàng óng như ánh nắng, gọi là anh thường trực, và cả những quân nhân, những sĩ quan đang tản bộ, các ông tướng cũng đồng phục nhưng rõ ràng là không đẹp bằng anh chàng kia, mọi nơi, mọi chỗ đều biến thành một trường bắn rộng mênh mông, chẳng còn ai thoát ra được. Không còn là trò đùa nữa.
Tôi gân cổ lên mà gào thét với họ ngay giữa phòng khách lớn: “Chúng nó bắn đấy! Chúng nó bắn đấy! Chạy hết cả đi!...” Tôi lao cả ra cửa sổ mà gào. Không còn kiềm chế được mình nữa. Một xì căng đan thật sự. Họ ái ngại cho tôi: “Một chú lính khốn khổ”. Rất từ tốn, nhẹ nhàng và thân mật nữa, anh thường trực dìu tôi sang bên “ba”. Anh cho tôi uống và tôi uống thật đã, rồi bọn sen đầm tới, bọn này thì thô bạo hơn. Trong những người kẽm ở Gian hàng các dân tộc, tôi cũng đã thấy bọn này. Lola ôm hôn tôi và giúp bọn chúng giải tôi đi, hai tay bị còng.
Thế là tôi bị ốm, sốt, phát điên, ở nhà thương họ giải thích rằng tôi quá sợ mới sinh ra thế. Có thể là thế. Khi người ta đã rơi vào cái thế giới này, thì việc tốt nhất cần làm, nên chăng là thoát ra khỏi nó? Điên hay không điên, sợ hay không sợ.