Chẳng dám khoác lác gì, nhưng cũng phải nhận rằng đầu óc tôi chưa bao giờ lại vững đến thế. Lúc này đây, chẳng dại dột gì để cho những cái ngất ngây ấy đẩy mình lao đầu vào bánh xe. Tôi đã loạng choạng trong chiến tranh rồi. Trong những ngày nằm nhà thương, tiền lưng thật ra chỉ còn trông mong vào mấy đồng phrăng còm cõi của mẹ tôi cho mỗi tuần. Chỉ đến khi thấy có khả năng, tôi mới bắt đầu tính chuyện tìm kiếm đâu đó lấy một vài món vặt. Trước hết, thử mò tìm mấy lão chủ cũ. Trong số, có một lão cố vẻ thuận lợi về mặt này, và lão cũng nhận lời tiếp tôi ngay.
Thật đúng lúc, tôi nhớ đến những ngày tăm tối, trước việc tuyên chiến với Đức ít lâu, tôi đã làm chân phụ việc ngoài giờ ở nhà lão Roger Puta này. Lão mở tiệm vàng bạc ở gần nhà thờ Madeleine. Công việc của tôi ở nhà lão kim hoàn đáng ghét ấy chỉ là “việc làm thêm”, tức là lau chùi các đồ bằng bạc, rất nhiều và rất lắm thứ, nhất là trong những dịp lễ lạt trao tặng nhau, hoặc do phải mánh mung liên tục, phải giải quyết những chuyện khó khăn.
Dạo ấy tôi đang theo học trường Y, vất vả khổ sở, cật lực không thôi (vì thi trượt), nhưng cứ tan giờ học ở trường là tôi lao ngay đến cái phòng sau cửa tiệm của lão Puta, đánh vật hai ba tiếng đồng hồ với những hộp đựng sô cô la bằng bạc của lão, đánh cho thật bóng loáng bằng bột tan, đến tận giờ ăn tối.
Tôi được trả công bằng những bữa ăn khá đầy đủ trong nhà bếp. Ngoài ra, công việc của tôi còn là, trước giờ đến lớp, dắt mấy con chó giữ cửa hàng đi dạo và đi đái. Tất tật được bốn mươi phrăng một tháng. Tiệm vàng Puta lấp lánh hàng nghìn viên kim cương ở góc phố Vignon, và mỗi viên ấy ít ra cũng bằng hàng chục năm lương của tôi. Ấy thế mà những thứ châu báu đó cứ luôn luôn nhấp nhánh ở tiệm của lão. Trưng tập vào công việc phụ trợ tổng động viên, lão chủ Puta này chuyên phục vụ một ngài bộ trưởng, thỉnh thoảng lái xe ô tô. Ngoài ra, còn có những việc hoàn toàn không chính thức nhưng lại giúp ích nhiều nhất cho lão Puta, đó là việc cung ứng các đồ vàng bạc cho bộ. Giới chức cấp cao tha hồ mà đầu cơ trong những cuộc mua bán đã hoặc đang ngã giá. Càng tiến sâu vào chiến tranh thì người ta càng cần đến đồ vàng bạc. Lão Puta đôi khi phải đương đầu với những món hàng đặt dồn dập quá nhiều.
Khi nào làm quá sức, mệt nhọc phát bấn lên, thì cuối cùng và cũng chỉ vào những lúc đó, cái khó ló cái khôn, lão Puta tìm ra được cách làm ít nhiều thích ứng. Nhưng được xả hơi rồi, thì nét mặt lão vốn thanh tú không chê vào đâu được, lại trở nên bình thản đến sững sờ, khó mà quên đi được cái kỷ niệm tồi tệ ấy.
Mụ vợ lão Puta thì lúc nào cũng gắn vào làm một với cái két sắt trong nhà, có thể nói mụ chẳng bao giờ bước chân ra khỏi cửa. Người ta đã nuôi dạy mụ chỉ để trở thành vợ anh hàng vàng. Tham vọng của bố mẹ là thế. Mụ hiểu phận sự của mình, hiểu tất cả. Đời sống gia đình hạnh phúc đi đôi với cái két sắt phồn thịnh. Mụ Puta không phải người xấu xí, không, còn có thể coi là khá xinh đẹp như nhiều người khác kia, chỉ có điều là mụ hơi quá cẩn trọng, đa nghi nên chỉ mon men bên cái sắc đẹp cũng như bên cạnh cuộc đời, với mái tóc chải chuốt quá kỹ, nụ cười hơi quá dễ dàng và đột ngột, những cử chỉ hơi quá vội vàng hoặc hơi trộm lén. Người ta khó chịu khi phải cố làm sao hiểu được con người quá ư tính toán này và đó cũng là những lý do về sự gượng gạo mỗi lần phải tiếp xúc với mụ. Cái sự ghê tởm theo bản năng mà các con buôn gây ra với những ai tiếp xúc với họ và biết được họ, là một trong những niềm an ủi hiếm hoi đối với những kẻ khố rách áo ôm chẳng có gì mà bán được cho ai.
Những lo lắng thiển cận của nghề buôn quanh năm suốt tháng ám ảnh mụ Puta, cũng giống hệt như mụ Herote, nhưng theo một kiểu khác và giống như Thánh ốp các con chiên, cả phần xác lẫn phần hồn.
Tuy thế, đôi lúc mụ chủ của tôi cũng tỏ ra ít nhiều lo lắng đến tình hình chung. Mụ cũng nghĩ đến tình cảm những ông bố bà mẹ trong chiến tranh. “Chiến tranh giáng họa xuống những nhà có con lớn, thật là khốn khổ khốn nạn!”
Tay chồng vội chặn ngay cái thói ủy mị của mụ vợ:
- Suy nghĩ kỹ rồi hãy nói, mình ơi! Thế thử hỏi, ta có phải bảo vệ nước Pháp không?
Những trái tim tốt như vậy, và trên hết là những người yêu nước tốt như vậy, tóm lại những con người kiên cường, chiến tranh thì chiến tranh, tối tối họ cứ việc ngủ yên trên tiền muôn bạc triệu trong cửa tiệm của họ, cái gia sản Pháp mà họ bảo vệ đấy.
Trong các nhà thổ mà lão thỉnh thoảng lui tới, lão Puta thường đòi hỏi và mong muốn đừng ai coi lão là thứ người ném tiền qua cửa sổ. “Tôi không phải là một thằng cha Ăng-lê đâu đấy, cô em xinh đẹp nhé. Tôi biết công việc là thế nào! Tôi là một chú lính nhỏ không có gì phải gấp gáp!” Đó là tuyên bố mào đầu của lão. Bọn gái điếm ở đây rất thích cái cung cách đi tìm lạc thú của lão như vậy. Ăn chơi hưởng lạc nhưng không khờ khạo để mắc lừa, thế mới là nam nhi chứ. Lợi dụng những gì lão hiểu biết trong giới của mình, lão tiến hành một số vụ mua bán vàng bạc với mụ giám thị nhà chứa vốn không tin vào thị trường chứng khoán. Lão Puta tiến bộ đến kinh ngạc về phương diện quân sự, từ những cuộc phục viên tạm thời biến thành tạm hoãn quân dịch vô thời hạn. Rồi chẳng mấy chốc lão được hoàn toàn giải phóng sau không biết bao nhiêu cuộc khám sức khỏe đúng lúc. Lão coi một trong những thú vui cao nhất đời là ngắm nghĩa và nếu có thể thì sờ nắn những bắp chân xinh xắn của phụ nữ. Ít ra thì với thú vui này lão cũng vượt hơn hẳn mụ vợ chỉ biết mỗi việc lao đầu vào bán với buôn. Tuy đàn ông và đàn bà phẩm chất ngang nhau, nhưng hình như người ta luôn luôn nhận thấy ở cánh đàn ông nhiều cái đáng lo hơn dẫu cho họ có thiển cận và trì trệ đến thế nào. Tóm lại thì lão Puta này cũng mới học đòi nghệ sĩ. Nhiều tay đàn ông cũng giống lão, về mặt nghệ sĩ, là luôn luôn có cái tật sính những gót sen các nàng. Mụ Puta thật sung sướng là không có con. Mụ thường tỏ ra mãn nguyện vì cái tật vô sinh của mình, rồi đến lượt chồng mụ cũng đi khoe chuyện này với mụ giám thị nhà chứa. Mụ ta bảo: “Thì cũng phải có con cái nhà nào đó ra trận chứ, vì đó là nghĩa vụ cơ mà!” Quả thật là chiến tranh tự nó đã hàm chứa đủ thứ nghĩa vụ rồi.
Ngài bộ trưởng mà lão Puta phục vụ bằng ô tô cũng không có con, các ngài bộ trưởng hình như đều không có con.
Một cậu nhân viên phụ động khác cùng một thời làm những công việc vặt như tôi ở cái cửa hàng ấy vào năm 1913, là cậu Jean Voireuse. Buổi tối cậu ta đến các nhà hát nhỏ đóng một vài vai phụ, còn buổi chiều thì đi giao hàng cho tiệm vàng Puta. Cậu ta cũng đành lòng nhận khoản lương rất ít ỏi. Nhưng lại kiếm thêm được nhờ vào cặp giò nhanh chẳng khác xe điện ngầm. Thế là mỗi chuyến đi giao hàng tuy chỉ chạy bộ nhưng cậu ta cứ coi như đi xe điện và bỏ túi khoản vé tầu. Cũng là một cách kiếm thêm. Đôi chân cậu ta thì thối khắm lên được; tự biết thế nên cậu ta phải nhờ tôi báo cho biết cửa hàng có vắng khách thì mới dám vào để thanh toán tiền nong kín đáo với mụ Puta mà không gây phiền đến khách hàng. Một khi tiền đã bỏ vào két rồi, người ta liền tống cổ cậụ ta ra phía sau cửa tiệm với tôi. Đôi chân ấy còn giúp được cậu ta khối việc trong chiến tranh. Cậu ta được coi là một chiến sĩ liên lạc chạy nhanh nhất trung đoàn. Cậu ta về hậu phương dưỡng bệnh và đến thăm tôi ở pháo đài Bicêtre, và cũng chính vào dịp thăm hỏi này mà chúng tôi quyết định rủ nhau đến moi tiền lão chủ cũ của mình. Nói là làm. Lúc chúng tôi đến đại lộ Madeleine thì người ta cũng vừa dọn hàng xong...
Lão Puta hơi ngạc nhiên khi thấy chúng tôi:
- Ô kìa! Các con đấy ư! Ta thật là mừng! Vào đi nào! Thằng này, Voireuse, coi bộ chú mình khá đấy! Tốt lắm! Còn Bardamu, thằng này có vẻ ốm, phải không con? Dù sao, chúng mày còn trẻ cả! Rồi sẽ lại khỏe khoắn thôi! Dẫu thế nào thì chúng mày cũng còn may mắn! Muốn nói sao thì nói, chúng mày đã được sống những giờ phút tuyệt diệu, phải không? Cao vòi vọi! Bay bổng nữa! Đó chính là Lịch sử mà ta cũng chưa được biết bằng các bạn đâu! Lịch sử đẹp biết mấy!
Hai đứa chúng tôi không đáp lại gì cả, cứ để kệ lão ta muốn nói gì thì nói, trước khi bòn tiền của lão... Thế là lão lại tiếp tục:
-Chà! Ta cũng phải nhận rằng cuộc sống dưới hầm hào là gian khổ đấy!... Thật thế! Nhưng, các cậu biết không, ở hậu phương này gian khổ cũng không kém đâu!... Các cậu đều bị thương cả phải không? Ta thì cũng vẹo xương sườn đấy! Từ hai năm nay ta phải làm công việc trực đêm ở thành phố? Các cậu biết không? Thử nghĩ xem! Vất vả nặng nhọc hết sức! Kiệt lực rồi! Chà! Các đường phố Paris về đêm! Không đèn đóm, các bạn nhé... Thế mà cứ phải lái xe trên đường phố như vậy, và thường là với ngài bộ trưởng ngồi trong! Lại còn phóng nhanh nữa chứ! Các cậu không thế tưởng tượng được đâu!... mỗi đêm có đến mười lần hút chết!...
Mụ Puta chen vào:
-Đúng thế đấy, đôi khi ông ấy còn lái cho cả bà bộ trưởng nữa cơ...
-À, phải, mà cũng chưa hết đâu...
-Khiếp quá nhỉ! chúng tôi cùng thốt lên.
Để tỏ ra lễ phép, Voireuse hỏi:
-Còn mấy con chó đâu cả ạ? Ai đã làm gì chúng nó rồi ạ? Chúng nó vẫn được dắt đi dạo ở vườn Tuileries đấy chứ ạ?
-Ta cho giết cả rồi! Chúng nó quấy lắm! Không lợi cho công việc nhà hàng!... Cái loài chó bẹc giê Đức ấy!
-Rõ khổ! mụ vợ tỏ ý tiếc. Nhưng được cái là những con chó mới này ngoan lắm, toàn loài chó Tô-cách-lan... Mấy con này hơi hôi hôi một tí... Chứ những con bẹc giê Đức, Voireuse còn nhớ chứ, có thể nói chẳng bao giờ thấy mùi chúng nó. Nhốt trong kho kín, sau cả trận mưa cũng thế thôi...
-Ừ phải đấy! lão Puta chêm vào. Chứ không như cái thằng Voireuse chết tiệt với đôi chân của nó! Thế nào, Jean, đôi cẳng của anh có còn thối không đấy? Đồ chết tiệt Voireuse!
-Cháu chắc là vẫn còn hơi hơi thối ạ, Voireuse trả lời.
Vừa lúc ấy có khách vào cửa hàng.
-Thôi nhé, ta không dám lưu các cháu lại, lão Puta đuổi khéo vì đang lo tìm cách mau chóng loại trừ được đôi chân thôi của Jean ra khỏi cửa hàng. Trước hết là chúc sức khỏe các cháu! Ta không hỏi các cháu từ đâu về! Không đâu! Theo ý ta, phải đặt Quốc phòng lên trên hết!
Nói đến mấy tiếng Quốc phòng, lão nghiêm hẳn nét mặt như lúc lão hối lại tiền thừa vậy... Thế là người ta xua đuổi chúng tôi. Mụ Puta cho mỗi đứa hai chục quan lúc tống tiễn chúng tôi. Cái sàn nhà hàng đánh xi bóng loáng như một chiếc du thuyền, hai đưa rón rén không dám bước qua tấm thảm quý vì những chiếc giầy gớm ghiếc của mình.
Mụ Puta bảo chồng:
-Kìa Roger xem cả hai đứa kìa! Trông chúng nó mới buồn cười chứ!... Chúng nó lạ nhà mất rồi! Chẳng biết chúng nó đang như giẫm vào cái gì ấy!
-Rồi chúng nó lại quen thôi! lão Puta nói, giọng thân mật, hiền từ, và cũng rất bằng lòng là đã mau chóng tống khứ được mấy đứa quấy rầy mà chẳng tốn kém bao nhiêu.
Ra đến ngoài phố, chúng tôi suy nghĩ rằng mỗi đứa với hai chục quan trong túi thì cũng chẳng đi được đâu xa, nhưng Voireuse lại nẩy ra thêm một ý kiến nữa.
-Lại đằng này đi, cậu ta bảo tôi, chúng mình đến nhà mẹ một cậu bạn chết hồi bọn mình đóng ở Meuse [57*], cứ tám ngày tớ lại đến thăm bố mẹ cậu ấy một lần để kể chuyện con trai ông bà ấy chết ra sao... Nhà này giầu lắm... Mỗi lần như thế, bà mẹ cậu ta lại cho tớ một trăm quan... Ông bà ấy bảo rằng tớ đến như thế cho ông bà ấy khuây khỏa... Thế là cậu hiểu rồi chứ...
-Nhưng tớ sẽ làm gì được ở nhà họ? Tớ biết nói gì với bà mẹ cậu ta?
-Ờ thì cậu cứ nói là cậu cũng gặp cậu ta... Bà ấy sẽ cho cả cậu một trăm quan nữa... Tớ nói cho cậu biết họ là những tay giầu sụ đấy! Và cũng không đến nỗi ki bo như mụ Puta đâu... Nhà này không thèm so đo tiền nong đâu...
-Thì tớ cũng muốn thế, nhưng bà ta hỏi tớ cặn kẽ thì làm thế nào, cậu chắc chứ?... Tớ nào có quen biết quái gì thằng con họ đâu... Bà ta mà hỏi thì tớ bơi ngụp làm sao...
-Không, không, đừng lo gì cả, cậu cứ nói dựa vào tớ... Cậu chỉ cần gật gù, vâng dạ... Đừng lo gì cả! Bà ta đang đau buồn, cậu hiểu không, vào lúc này mà có ai nhắc đến con là bà ấy bằng lòng thôi mà... Bà ấy chỉ yêu cầu có thế thôi... Bất kể như thế nào... Bà ấy không phải loại người chai cứng đâu...
Tôi thật khó xử, nhưng lại thèm cái món một trăm quan cực kỳ dễ dãi như thể trời cho kia.
-Thôi được, cuối cùng tôi quyết định... Nhưng đừng có bắt tớ phịa đấy nhé, tớ bảo trước đấy! Cậu có hứa thế không? Tớ chỉ nói theo cậu thôi... Nhưng trước hết thì cậu cũng kể cho tớ nghe xem thằng ấy nó chết thế nào đã chứ?
-Nó bị một quả đạn pháo bắn vào trúng mặt, cậu ơi, mà không phải thứ nhỏ đâu nhé, người ta gọi là đạn súng Garance đấy... bị ở bên bờ một con sông trong tỉnh Meuse... Không tìm được “cái ấy” của cậu ta đâu cả... Chỉ còn là một kỷ niệm thôi... Thế nhưng, cậu phải nhớ rằng cậu ta cao lớn, cân đối, khỏe mạnh rất thể thao, nhưng mà làm sao địch lại được với đạn đại bác, phải không? Không kháng cự được đâu!
-Thật thế!
-Tớ phải nói với cậu rằng cậu ta bị quét biến đi mất... Bà mẹ cậu ta vẫn không sao tin được thế, cho đến tận ngày hôm nay này! Tớ đã phải nói đi nói lại... Bà ấy muốn rằng cậu ta chỉ mất tích thôi... Thật là ngốc cái ý nghĩ như thế... Mất tích!... Cũng chẳng phải lỗi ở bà ấy, bà ấy có bao giờ trông thấy đạn pháo nó thế nào đâu, bà ấy không thể nào hiểu được rằng một con người ta lại bị tống vào không khí như thế, cứ như một phát rắm, thế là xong, hơn nữa đó lại là con trai mình...
-Tất nhiên rồi!
-Đã mười lăm ngày tớ không đến đấy... Nhưng rồi cậu xem, tớ mà đến là bà ấy thế nào cũng tiếp tớ ngay lập tức, trong phòng khách, và rồi cậu sẽ biết, nhà họ đẹp cứ như một nhà hát ấy, cơ man nào là rèm cửa, là thảm, là gương, chỗ nào cũng có... Một trăm quan, cậu biết không, chẳng thấm gì với họ... Cũng chỉ như một trăm đồng xu với tớ, hay gần như thế... Bây giờ thì có thể là bằng hai trăm... Từ mười lăm hôm nay bà ấy không gặp tớ... Cậu sẽ thấy đám gia nhân đây tớ, áo đính toàn khuy mạ vàng nhé, bạn ơi...
Đến phố Henri Martin, rẽ sang trái rồi tiến thêm lên mấy bước là đến trước một hàng rào sắt chắn giữa những hàng cây trên một lối đi riêng.
Khi hai đứa đến sát mặt tiền, Voireuse nhận xét:
-Cậu thấy chưa, cứ như là một tòa lâu đài... Tớ đã nói rõ với cậu rồi mà... Ông bố là một tay có quyền thế lớn trong ngành đường sắt, người ta kể như thế... Có vai vế lắm...
-Không phải sếp ga chứ? tôi nói bông phèng.
-Chớ có tếu... Ông ấy đang đi xuống kia kìa. Ông ấy ra đón chúng mình đấy...
Nhưng người đàn ông có tuổi mà cậu ta chỉ cho tôi, không ra ngay phía chúng tôi... Ông vừa khom khom bước xung quanh đám cỏ vừa chuyện trò với một tay lính. Chúng tôi tiến đến gần. Tôi nhận ra cậu lính ấy, chính là cậu lính dự bị tôi đã gặp trong cái đêm ở Noirceur-sur-la-Lys, nơi tôi đang làm nhiệm vụ trinh sát lúc đó. Tôi còn nhớ cả tên cậu ta: Robinson.
-Cậu quen thằng bộ binh kia à? Voireuse hỏi tôi.
-Ừ, tớ biết thằng này.
-Có thể nó là bạn hữu gì nhà này... Có lẽ hai người đang nói với nhau về bà mẹ đây; tớ không muốn họ gây trở ngại cho việc chúng mình vào thăm bà ấy... Vì chỉ có bà ấy mới là người cho xin thôi...
Ông già đi đến gần phía chúng tôi. Ông ta nói giọng run run với Voireuse:
-Kìa anh bạn thân mến, tôi rất đau buồn thông báo với bạn rằng, từ sau lần đến thăm vừa rồi của bạn, bà vợ tôi đã không cưỡng nổi nỗi buồn to lớn của chúng tôi... Hôm thứ năm, chúng tôi để bà nằm một mình một lát theo yêu cầu của bà... Bà than khóc...
Ông ta không nói được hết câu. Ông quay đi đột ngột và bỏ mặc chúng tôi. Tôi bèn nói với Robinson ngay khi ông già đã đi cách chúng tôi đủ xa:
-Tớ nhận ra ngay cậu.
-Tớ cũng thế, tớ cũng nhận ra cậu...
-Chuyện gì đã xảy ra với bà già đấy? tôi hỏi cậu ta.
Cậu ta trả lời:
-À, bà ấy đã treo cổ từ hôm kia, tất cả có thế thôi. Thật rõ rồ dại, cậu ơi! Tớ coi bà ấy như mẹ đỡ đầu!... Cái số tớ nó thế đấy! Lần đầu tiên tớ được về phép! Phải chờ đợi sáu tháng trời!...
Voireuse và tôi, hai đứa cố nhịn cười trước cái chuyện bất hạnh xảy đến với Robinson. Thật ra thì đó cũng là một cú bất ngờ tệ hại đối với chúng tôi nữa, bà ta đã chết rồi thì cũng hốc xịt cái khoản hai trăm bạc mà hai đứa đang hí hửng tưởng moi ngay được bằng một chuyện phịa mới. Trong trường hợp này thì cả mấy đứa chúng tôi chẳng đứa nào bằng lòng cả.
-Này, cậu định làm bộ ngây thơ đấy à, thằng đại xỏ lá? - chúng tôi chọc thằng Robinson, kích nó lên để mà giễu cợt. Cậu tưởng nuốt trôi ngay được cái bữa nhậu với hai ông bà già ấy chứ gì? Cậu cũng cứ tưởng bịp luôn được chuyện bà mẹ đỡ đầu chứ gì? Này, cậu đã đánh chén chưa đấy?
Không lẽ cứ đứng đấy mà nhìn cái bãi cỏ và cười vỡ bụng với nhau, cả ba đứa cùng đi về phía cầu Grenelle. Cộng chung tiền của cả ba lại cũng chẳng là bao. Mà đứa nào cũng phải về ngay chiều hôm ấy, đứa về nhà thương, đứa về doanh trại, chỉ đủ ba suất cơm chiều ở một quán ăn, và còn lại được chút đỉnh, nhưng không đủ để đi chơi gái. Tuy vậy cũng sà vào một nhà thổ nhưng chỉ nhấm nháp mỗi đứa một chén và cũng chỉ ở dưới nhà.
-Này cậu, tớ rất vui được gặp lại cậu, Robinson nói với tôi. Nhưng này, cậu chớ tưởng bà mẹ thằng nhóc ấy ngây thơ đâu nhé!... Dù sao mỗi khi nghĩ đến... mà sao lại treo cổ đúng vào hôm tớ đến cơ chứ, cậu ơi!... Tớ can ngăn bà ta... Liệu tớ cũng treo cổ hở cậu? Vì buồn ư? Thế thì rồi đây tớ sẽ tiêu nỗi buồn của mình bằng treo cổ ư? Còn cậu?
-Đám nhà giầu ấy mà, Voireuse nói, họ dễ xúc động hơn người khác.
Cậu Voireuse là người tốt bụng. Cậu ta còn nói thêm:
-Giá tớ có sáu quan thì tớ sẽ lên lầu với con bé tóc hung mà cậu thấy đứng gần cái máy đánh bạc ở đằng kia ấy...
Chúng tôi bèn bảo cậu ấy:
-Thì đi đi, rồi kể cho chúng tớ nghe xem con bé mút có giỏi không...
Chỉ tội một nỗi là có cố công thì cũng chẳng kiếm đâu ra đủ tiền boa để cậu ta có thể làm được chuyện ấy. Mỗi đứa còn vẻn vẹn đủ tiền uống một tách cà phê và hai ly rượu cát-xít. Nốc xong, mấy đứa lại rủ nhau đi bát phố.
Đến quảng trường Vendôme, chúng tôi chia tay nhau. Mỗi đứa một ngả. Không nhìn rõ được mặt nhau nữa, nói với nhau cũng nho nhỏ như sợ có tiếng vang. Đèn đóm đã bị cấm, tối om.
Jean Voireuse thì tôi chẳng còn bao giờ gặp mặt. Robinson, tôi thường thấy sau này. Cậu Voireuse sống khó khăn chật vật ở Somme [58*]. Hai năm sau, cậu ta làm công trong một nhà điều dưỡng ở bờ biển vùng Bretagne. Thời gian đầu cậu ta còn viết được cho tôi hai lần, sau rồi biệt tăm biệt tích. Ngày trước, cậu ta có ra biển bao giờ đâu. Trong một thư, cậu ta viết: “Cậu không thể quan niệm được cái đẹp ở đây thế nào đâu. Tớ tắm biển chút ít, rất tốt cho hai bàn chân tớ nhưng lại lo hỏng béng mất cái giọng!” Chuyện này làm cho cậu ta rầu lòng lắm, vì cái tham vọng sâu xa của cậu ta là ngày nào đó được trở lại với các dàn đồng ca ở nhà hát.
Tham gia các dàn đồng ca được trả nhiều tiền lại ra dáng nghệ sĩ hơn là chỉ sắm những vai phụ cà mèng.