Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19

❊ ❊ ❊

Chẳng phải chuyện hồi hương từ Thế giới Bên kia trở về chỉ có thế! Lại thấy lại chuỗi ngày nhớp nháp, bấp bênh như mình đã bỏ lại đây. Chuỗi ngày ấy vẫn đang chờ đợi.

Suốt nhiều tuần, nhiều tháng tôi loanh quanh ởquảng trường Clichy, nơi tôi đã ra đi, và sang cả các vùng phụ cận, về phía đại lộ Batignolles, làm mấy cái nghề vặt kiếm sống. Không sao kể ra được! Dưới trời mưa hay trong cái nóng do các xe hơi phả ra, gặp luôn thời tiết tháng sáu lại càng nóng đến cháy họng, bỏng vòm mũi, gần như ở nhà máy Ford. Để giải sầu, tôi dõi nhìn những chiếc xe chạy qua, những dòng người tối tối kéo nhau đi xem hát hay vào rừng Boulogne.

Vẫn ít nhiều đơn độc, trong những giờ rảnh rỗi, tôi nghiền ngẫm mấy quyển sách và mấy tờ báo rồi cả những gì tôi thấy. Trong khi vừa kiếm ăn, tôi vừa tiếp tục học và qua được các kỳ thi, cũng là ông chẳng bà chuộc vậy thôi. Xin nói với bạn rằng, ở cái phân khoa khoa học này, vừa học vừa kiếm ăn là cấm kỵ dữ lắm, đấy là một cái tủ đóng kín mít. Lọ thì cả đống nhưng mứt chẳng là bao. Tuy vậy tôi cũng xong được năm sáu năm giùi mài và vượt qua những thử thách kinh viện, giành được mảnh bằng kêu ro ro. Thế là tôi phải bám trụ ở một vùng ngoại ô hợp với mình, La Garenne-Rancy, ra khỏi Paris qua cửa ô Brancion là thấy ngay.

Tôi chẳng có ý đồ mà cũng chẳng có tham vọng gì ghê gớm, chỉ mong sao được thở một tí và ăn uống khá hơn đôi chút. Sau khi gắn cái biển lên cửa, tôi ngồi chờ.

Người trong khu phố qua lại nhìn cái biển của tôi với con mắt ngờ vực. Thậm chí họ còn hỏi đồn cảnh sát xem tôi có thật là thầy thuốc không. Người ta trả lời họ: đúng. Đồn còn nói ông ta đã trình cả Văn bằng, đích thị rồi. Thế là khắp cả Rancy người ta nhắc đi nhắc lại với nhau rằng trong khu phố mới có một thầy thuốc thật thêm vào những thầy thuốc khác. Bà gác cổng khu nhà tôi đoán trước ngay rằng: “Chẳng có nổi miếng bít tết đâu. Ở đây đã quá nhiều thầy thuốc rồi!”. Nhận xét ấy quả là chính xác.

Cuộc sống ở ngoại ô thường chỉ rộn lên buổi sáng với những chuyến xe điện. Từ lúc tinh mơ, từng đoàn, từng lũ còn ngái ngủ lắc lư bên cửa tàu, xuôi từ phía đường Minotaure, xuống đây để đi làm.

Cánh trẻ còn có vẻ thỏa mãn với công việc ở đây. Những con người dễ thương ấy hối hả bám lấy các bậc lên xuống, cười đùa vui vẻ. Phải thấy cảnh đó. Nhưng khi người ta biết được rằng từ hai chục năm nay, chẳng hạn cái trạm điện thoại ở quán rượu bẩn ơi là bẩn, thường được dùng như cái nhà xí, thì anh không còn vui vẻ được với những việc nghiêm chỉnh nói chung và với Rancy nói riêng. Ta sẽ thấy ngay được là bị quẳng vào cái xó xỉnh nào đây. Nhà cửa thì đều ri rỉ nước đái, các mặt tiền thì nhạt phếch, lão chủ giành lấy chỗ ở tít tận bên trong. Không ai thấy lão bao giờ. Lão không dám ló mặt ra. Chỉ phái tay quản lý, một tay tàn ác. Thế mà cũng có người nói rằng gặp bất chợt thì thấy lão chủ cũng khá dễ thương. Cái đó chẳng hứa hẹn được điều gì.

Ánh sáng trời ở Rancy, cũng giống như ở Detroit, hơi nước đặc sệt từ phía Levallois bay xuống. Một lô những nhà xây dở bỏ hoang nằm trên những vũng nước đục ngầu. Các ống khói, cái thấp cái cao, trông xa như ta đứng ngoài bờ biển nhìn vào thấy những cái cọc cắm trong chậu. Và chúng tôi sống trong đó.

Cũng phải có dũng khí của loài cua, ở đất Rancy này, nhất là khi tuổi ngày càng lớn và biết rõ rằng chẳng còn thoát đi đâu được nữa. Ở cuối đoạn đường xe điện có một cây cầu nhơ nhớp bắc ngang qua sông Seine, thật là một cái cống lớn phơi bầy ra đủ mọi thứ. Dọc theo các bờ sông, ngày chủ nhật và ban đêm người ta leo lên đấy tha hồ mà đái. Cánh đàn ông vừa đứng đái vừa đăm chiêu nhìn xuống dòng nước với cái cảm giác vĩnh cửu của các chàng thủy thủ. Còn đám đàn bà thì chẳng phải đăm chiêu gì cả, sông Seine hay không thì cũng thế. Buổi sáng, xe điện chở khách đến đây để họ chen nhau xuống métro đi tiếp. Nhìn họ cuống cuồng từ đằng đó ùa tới, tưởng đâu như họ vừa gặp tai họa ở Argenteuil, cứ như là ở đấy có hỏa hoạn. Sau mỗi buổi rạng đông, xe điện lại lôi họ đi, chen nhau bám các cửa toa, các lan can tay vịn. Thật là hỗn loạn. Họ kéo nhau đi kiếm một ông chủ ở Paris này, một ông chủ có thể cứu vớt họ khỏi chết đói, họ còn vô cùng sợ hãi nếu mất mất ông ta nữa cơ, thật là hèn. Ông ta có thí cho anh mẩu bánh thì anh cũng vãi mồ hôi ra, mười năm hai mươi năm vẫn còn phát khắm lên ấy chứ. Có gì cho không đâu.

Mà cứ động lên xe là họ cãi nhau ỏm tỏi, để cho cái mồm khỏi để không mà. Đàn bà lại càng lắm lời hơn cả lũ còn nít. Chỉ có chuyện lậu một cái vé là cả chuyến xe phải dừng lại. Trong đám hành khách đàn bà đã có những mụ say khướt rồi, nhất là những mụ xuống chợ ở phía Saint-Ouen, những mụ trưởng giả nửa mùa. Chưa đến nơi là đã í ới: “Cà rốt bao nhiêu đấy?” cốt để tự khoe mà.

Dồn nén như rác rưởi trong cái thùng bằng sắt, họ đi suốt Rancy và cũng đồng thời bốc mùi lên với nhau, nhất là vào mùa hè. Đến đoạn gần các công sự, họ gầm ghè cãi cọ một lần cuối rồi mất hút, xe điện ngầm đã nuốt chửng tất tần tật, cả những anh com lê ướt đẫm cũng như những chị áo váy nát nhàu, những đôi tất lụa, những nàng viêm dạ con, những bàn chân bẩn thỉu, những cổ áo bằng thứ vải cứng đờ trông như phỗng, những vụ lụn bại, những vinh quang của chiến tranh, tất cả đều tuồn xuống theo cái thang sặc mùi hắc ín đến tận đoạn đường hầm tối om, với tấm vé khứ hồi cho mỗi người chỉ bằng hai cái bánh mì con.

Nỗi kinh hoàng bị sa thải không kèn không trống luôn luôn lơ lửng trên đầu những người đến trễ trong khi ông chủ đang muốn cắt giảm khoản hành chính phí. Những kỷ niệm về cơn “khủng hoảng” bề ngoài, về lần mất việc trước, về tất cả những số báo Intransigeant (Không khoan nhượng) buộc phải đọc, năm xu, năm xu... trong những ngày chờ việc... Những ký ức đó bóp nghẹt anh lại, một con người đã cố thu mình trong cái áo khoác “tứ thời”.

Thành phố ra sức giấu miết những đám đông chân bẩn của nó trong những đường cống ngầm dài dặc điện khí (ý nói métro). Họ chỉ trở lại mặt đất ngày chủ nhật. Và lúc đó, khi họ đã ra ngoài thì mình chớ có ló mặt. Chỉ một ngày chủ nhật xem họ tiêu khiển với nhau là đủ cho anh triệt tiêu hẳn cái thú vui đùa. Xung quanh ga métro, cạnh những pháo đài, cái mùi chiến tranh vẫn còn vương vất hơi hướng những ngôi làng cháy dở, những cuộc nổi dậy không thành, những vụ bán buôn phá sản. Những người bới rác, từ bao nhiêu mùa nay, đốt những đống rác ẩm xì trong các hố đậy nắp gỗ. Đó là những người khốn khổ không còn ra hình thù gì nữa mang vác những vỏ chai và nỗi nhọc nhằn của bản thân mình. Họ sẽ đến ho sù sụ ở trạm y tế cạnh đó thay vì đánh đu với những toa xe điện trên bờ dốc, rồi đái một bãi thật thỏa thích. Người cắt không còn hột máu. Chẳng còn chuyện gì. Lần sau, chiến tranh có xảy ra, họ lại có dịp làm giầu bằng bán da chuột cống, bạch phiến và mặt nạ bằng tôn dập.

Để thuận tiện, tôi chọn một căn hộ nhỏ bên cạnh cái vùng mà từ đó tôi có thể thấy rõ các bờ dốc và người thợ đứng trên đó ngơ ngác trông vời vợi đi đâu, với cánh tay băng bó trắng toát do tai nạn lao động, không còn biết làm gì, nghĩ gì và cũng không có được mấy tí để đi uống rượu và để thỏa mãn lương tâm mình.

Molly rất có lý, tôi bắt đầu hiểu em hơn. Việc học hành sẽ làm cho anh đổi thay, làm cho anh tự hào là một con người. Phải trải qua đó mà đi sâu vào cốt lõi cuộc đời. Trước đây tôi chỉ loanh quanh ngoài rìa, tự coi là đã được giải phóng nhưng thật ra mới chỉ là chông đỡ những cái chẳng đâu vào đâu. Mình đã quá mơ mộng, chỉ lướt trên toàn những ngôn từ. Đời đâu chỉ có thế. Những cái anh đã làm mới chỉ là những ý định, những cái vỏ bề ngoài. Phải làm cái đó dứt khoát. Với nghề y, tôi dù không có năng khiếu cho lắm, cũng được gần gũi nhiều người, nhiều vật, với tất cả. Giờ đây chỉ còn vấn đề đi thẳng đến đó, vào đúng chỗ của nó. Cái chết đang đuổi sau anh, phải dấn bước lên và cũng phải ăn nữa trong khi người ta đang tìm kiếm, hơn nữa đang đạo đức giả về chiến tranh. Có quá nhiều việc phải hoàn thành. Thật không đơn giản.

Trong lúc chờ mong bệnh nhân nhưng họ đến chẳng nhiều nhặn gì, thì cũng phải có thời giờ để khởi động chứ, người ta nói cho tôi yên lòng. Bởi thế, trước mắt, người đang ốm lại chính là tôi.

Tôi thấy rằng, không có gì thê thảm hơn ở La Garenne-Rancy, khi vắng khách. Có thể nói vậy. Chớ có suy nghĩ gì ở những nơi đó, nhưng tôi thì lại tìm đến đấy, và cả phía bên kia trái đất nữa, để mà được thanh thản suy nghĩ. Tôi đến thật đúng lúc, hơi chút vênh vang! Thế mà chỉ toàn những thứ đen tối, nặng nề trút xuống đầu... Chẳng có gì để mà cười, và cũng chẳng được buông tha. Có óc cũng như không, quân bạo ngược!

Ở dưới nhà tôi có tay Bézin, một tiểu thương buôn bán đồ cũ. Mỗi lần tôi đi qua là anh ta lại luôn miệng bảo:

-Này bác sĩ ơi, phải chọn đi! Hoặc đánh cá ngựa hoặc uống rượu, cái này hoặc cái kia! Không có ai cái gì cũng làm cả được đâu! Tôi thì thích rượu chứ không ưa món cờ bạc.

Quả là anh ta chỉ thích rượu, mà phải là thứ rượu gentiane-cassis (rượu rễ long đởm và quả lý đen). Chẳng có gì xấu những thói quen ấy, nhưng tiếp luôn một chầu vang đỏ rẻ tiền thì không còn dễ ưa được mấy nữa. Những lần đem hàng tiếp tế cho Hội chợ hàng tầm tầm, anh ta thường vắng nhà ba ngày liền, theo cách gọi của anh ta, đó là những chuyến “viễn chinh”. Đến khi được đưa về nhà, anh ta làm bộ thầy bói đoán mò:

-Tương lai ư? Tôi đã thấy được nó sẽ ra sao... Sẽ giống như một cuộc truy hoan không bao giờ dứt... Có lẫn cả chiếu bóng trong đó... Chỉ nhìn vào đấy là thấy hết...

Anh ta còn thấy cả những cái xa hơn: “Tôi cũng thấy họ nốc rượu tợn hơn... Trong tương lai, tôi sẽ là thằng đệ tử cuối cùng của Lưu linh... Tôi phải khẩn trương hơn nữa... Tôi biết được thói hư của mình...

Trong phố tôi ai cũng mắc chứng ho. Cái đó làm bận tâm nhiều người. Khói mù khói mịt, muốn thấy được mặt trời, ít ra phải leo lên tận nóc nhà thờ Trái Tim Thiêng [101*].

Từ trên đó mà nhìn xuống sẽ thấy được chúng tôi ở cuối cánh đồng và thấy những ngôi nhà chúng tôi sống. Nhưng nếu muốn đi sâu vào chi tiết thì chịu, không tìm ra được, vì nhà nào cũng xấu xí như nhau.

Xa xa hơn nữa, vẫn là con sông Seine lượn lờ như cái lòng trắng trứng lớn uốn khúc chữ chi từ cầu này đến cầu khác.

Sống ở Rancy, buồn như chấu cắn mà không biết. Chẳng còn mong ước gì làm những chuyện đáng kể, có thế thôi. Khi anh đã buộc phải dè sẻn với mọi thứ, vì mọi thứ, thì mọi ước muốn của anh cũng đi tong hết.

Trong nhiều tháng tôi phải chạy vạy vay mượn nơi này nơi nọ. Người trong khu phố của tôi nghèo và đa nghi đến nỗi họ phải chờ đêm tối mới dám mời tôi đến, tuy rằng tôi là một anh thầy thuốc lấy giá rẻ. Đêm này sang đêm khác, tôi cứ phải băng qua những cái sân nhỏ không ánh trăng sao để kiếm lấy mươi mười lăm quan.

Buổi sáng, đường phố biến thành một cái trống lớn bập bùng tiếng đập bụi thảm.

Sáng hôm đó, tôi gặp Bébert trên hè phố, nó đứng coi túp lều cho cô nó chạy ra ngoài có việc. Thằng nhỏ Bébert cũng thế, cũng khua bụi lầm trên hè với chiếc chổi.

Ai mà không khua bụi ở những chốn này vào lúc bảy giờ, thì bị coi như một con lợn kỳ quái ở cái đường phố sạch sẽ của mình. Những chiếc thảm được giũ đập là dấu hiệu của sự sạch sẽ, của một nếp nhà được giữ gìn. Thế là đủ. Dù mồm miệng có hôi xì thì người ta vẫn yên tâm sau công việc ấy. Bébert hít vào tất cả chỗ nó tung ra và cả những bụi bậm từ trên các tầng gác bay xuống. Cũng có một vài điểm sáng mặt trời trên vỉa hè nhưng chỉ nhợt nhạt, thần bí như bên trong nhà thờ.

Bébert đã thấy tôi đi đến. Tôi là thầy thuốc ở góc phố, nơi đỗ xe buýt. Thằng bé có nước da xanh xanh như quả táo không bao giờ chín. Nó gãi, và trông nó gãi tôi cũng thấy mình ngứa ran lên. Có lẽ những con rận trên người các bệnh nhân bò sang mình lúc đêm cũng nên. Rận dễ dàng nhảy sang áo khoác của anh vì đó là nơi vừa ấm lại vừa ẩm hợp với chúng. Người ta đã dạy thế ngay trong trường rồi.

Bébert buông tấm thảm xuống, chào tôi. Trên tất cả các cửa sổ người ta đứng nhìn chúng tôi trò chuyện với nhau.

Chừng nào phải chọn cái gì để mà yêu thích, thì với trẻ con ta ít gặp bất trắc hơn là với người lớn, ít nhất còn có lý do để hy vọng rằng sau này các cháu không đến nỗi tồi như chúng ta. Người ta không hiểu được.

Trên khuôn mặt tái nhợt nhảy nhót nụ cười vô tận của một sự trìu mến trong trắng mà tôi không bao giờ quên được. Một niềm vui vì mọi người.

Qua tuổi hai mươi ít ai còn giữ được tí chút cái trìu mến dễ dãi ấy, cái trìu mến của những con vật nhỏ. Thiên hạ không như người ta tưởng đâu! Tất cả là thế! Vậy ra người ta đã thay đổi cái mõm của mình! Tất nhiên là thế! Bởi người ta đã lầm! Người ta trở nên tàn ác rất nhanh! Đó là những gì đọng lại trên khuôn mặt chúng ta khi qua tuổi hai mươi! Một sai lầm. Khuôn mặt chúng ta chỉ là một sự sai lầm.

-Bác sĩ ơi, Bébert nói với tôi, đêm qua người ta nhặt về một người ở Quảng trường Lễ hội, có phải không bác sĩ? Cái người bị cứa cổ bằng lưỡi dao cạo ấy? Có phải chú trực đêm qua không? Có đúng thế không hở chú?

-Không, chú không trực, Bébert ơi, không phải chú đâu, bác sĩ Frolichon đấy.

-Mặc kệ, cô cháu đã bảo là cô cháu thích đêm qua là phiên trực của chú cơ. Và chú sẽ kể hết cho cô cháu nghe...

-Để lần sau vậy, Bébert.

-Chú ơi, thế người ta hay giết nhau thế cơ à? Bébert nhận xét.

Tôi vừa lướt qua làn bụi của chú bé thì cũng là lúc xe rửa đường của thành phố chạy tới, gầm rú và phun ra vòi nước to tướng, ào ào như suối, cả phố bụi mù đặc xịt, chẳng còn ai nhận ra ai. Bébert nhảy như con choi choi hết bên phải lại sang trái, vừa hắt hơi hò hét reo vui. Đầu nó bết lại với những mảng tóc nhớp nháp, hai ống cẳng gầy lèo khoèo như chân khí, tất cả những cái đó cùng nhảy tâng tâng với đầu cán chổi.

Cô thằng Bébert xong việc đã trở về, chị ta vừa đi làm một ly nhỏ, và cũng phải nói rõ rằng chị ta đi hít một chút ê-te theo cái thói quen đã có từ hồi phục vụ ở nhà ông thầy thuốc, chị ta lại còn bị đau mấy cái răng khôn. Răng cửa chỉ còn có hai chiếc, nhưng chị ta không bao giờ quên đánh răng. “Khi người ta cũng như tôi, cũng phục vụ một ông thầy thuốc, là biết ngay thế nào là vệ sinh”. Chị ta đi khám bệnh ở quanh vùng, khá xa, lên tận Bezons.

Tôi có ý muốn biết xem cô thằng bé Bébert này có lúc nào suy nghĩ điều gì không. Nhưng không, chị ta chẳng nghĩ ngợi gì cả. Chị ta nói luôn mồm mà chẳng cần suy nghĩ. Khi chỉ còn tôi với hai cô cháu, xung quanh chẳng có ai để ý, chị ta mới ướm nhờ tôi xem bệnh cho thằng bé. Theo nghĩa nào đó thì mình cũng thấy thu thú.

- Bác sĩ ơi, tôi phải nói với ông, vì ông là thầy thuốc, chứ cái thằng Bébert này bậy bạ lắm!... Nó đã “mó máy chim” của nó đấy, bác sĩ ạ! Đã từ hai tháng nay, tôi bắt gặp nó làm việc ấy, mà không biết đứa nào dạy nó cái trò bẩn thỉu ấy không biết nữa... Mặc dù tôi ra sức dạy bảo nó! Tôi đã cấm mà nó lại tiếp tục...

-Chị bảo cho nó biết, làm thế là hóa điên đấy! tôi khuyên, theo lối cổ điển.

Thằng Bébert thấy chúng tôi nói đến chuyện ấy, nó tỏ vẻ không bằng lòng:

-Cháu có tự mó máy chim đâu, không đúng, tại thằng Gagat nó bảo cháu làm thế đấy...

Cô nó nói:

-Đó, bác sĩ thấy chưa, tôi là tôi ngờ cái nhà Gagat ấy. Bác sĩ có biết cái nhà ở tầng năm ấy không?... Toàn là đồ hư đốn. Ngay cả ông nội chúng nó hình như cũng chạy theo mấy con điếm... Thử hỏi chạy theo để làm gì cơ chứ? Bác sĩ ơi, nhân tiện đây, bác sĩ có thể cho cháu nó một liều xi rô cho nó khỏi mân mó thế không?

Tôi theo chị ta về lều để kê đơn cho một liều xi rô “chống hư đốn”. Tính tôi vốn cả nể với mọi người, tôi biết rõ như thế. Chẳng ai trả tiền tôi cả. Tôi thường khám bệnh cho không, chủ yếu vì tính tò mò ham biết. Thật là một sai lầm. Thiên hạ bù lại những gì mình phục vụ đều thế cả. Cũng như những người khác, cô thằng nhỏ Bébert cũng lợi dụng cái sự vô tư ngạo mạn ấy của tôi. Thậm chí còn lạm dụng đến tệ nữa. Tôi đành buông trôi, mặc cho người ta nói dối. Bệnh nhân của tôi ngày càng đông, họ bám riết tôi, khóc lóc, tha hồ mà lôi tôi đi. Cùng lúc, họ bầy ra cái xấu xa này đến cái xấu xa khác, tất cả những gì họ thường chỉ giấu kín trong đầu không hề hé ra cho ai thấy, ngoài tôi. Chẳng bao giờ lại có ai trả giá quá đắt cho những cái gớm ghiếc ấy. Trừ phi chúng trườn qua tay anh như những con rắn nhầy nhớt.

Một ngày nào đó, tôi sẽ nói tất, nếu tôi còn được sống lâu lâu để mà kể lại tất cả.

“Hãy coi chừng, đồ ghê tởm. Cứ để tôi đối xử tử tế lấy thêm vài năm nữa. Đừng giết tôi vội. Làm ra vẻ hèn kém và nguôi hận, tôi sẽ nói hết. Tôi đảm bảo với bạn như thế và bạn sẽ cuộn mình lại liền như những con sâu nhớt ở châu Phi làm bê bết căn lều của tôi và tôi sẽ làm cho bạn hèn nhát một cách khôn khéo hơn và còn đáng tởm hơn, nếu quả thực là bạn sắp hết hơi rồi”.

Bébert hỏi về cái món xi-rô:

-Nó có ngọt không hở chú?

-Bác sĩ đừng cho nó uống ngọt, cô nó dặn. Cái thằng khốn ấy... Nó không đáng để uống thuốc ngọt đâu, kẻo rồi nó lại lấy trộm đường của tôi đấy! Nó thì đủ tật, và có gan làm tất. Rồi nó cũng đến giết cả mẹ nó thôi!

-Cháu không có mẹ, nó cãi lại một cách quả quyết và không chút lúng túng.

-Quân chó đẻ, mày còn cãi thì bà lại quất cho mấy roi bây giờ! Chị ta đi lấy cái roi da, nhưng thằng bé đã bỏ chạy luôn ra phố. Nó còn gào tướng ngoài hành lang, gọi cô nó là “Đồ tồi tệ!”. Cô nó đỏ mặt lên rồi quay lại với tôi. Yên lặng. Chúng tôi lại trò chuyện.

-Bác sĩ ơi, ông phải đến thăm cái bà ở gác lửng nhà số 4 phố Mineures ... Bà ta trước đây là nhân viên sở công chứng, bà ấy được người ta mách về ông đấy... Tôi bảo bà ấy rằng ông là một thầy thuốc rất tử tế với bệnh nhân.

Tôi biết ngay là chị này đang nói dối. Chứ thầy thuốc mà chị ta ưa, chính là Frolichon. Hễ có ai cần là luôn luôn chị ta giới thiệu đến lão ấy, còn tôi thì có dịp là chị ta gièm pha. Lòng nhân đạo của tôi đối với chị ta chỉ đáng với sự căm ghét thú vật. Chị ta là một con thú, chớ quên điều đó. Chỉ có Frolichon được chị ta phục mới làm cho chị ta phải xì tiền, chứ với tôi thì không được lấy một xu. Muốn được chị ta dẫn khách bệnh đến thì phải có những chuyện hoàn toàn không mất tiền hoặc những việc rất khả nghi. Tuy vậy, vừa đi tôi vừa nghĩ đến thằng cu Bébert.

Tôi bảo chị ta:

-Phải cho thằng bé ra pgoài một chút, đừng để nó ro ró trong nhà quá thế...

-Nhưng bác sĩ tính cô cháu tôi còn đi đâu được khỏi cái lều này?

-Ít nhất thì cũng cho nó ra ngoài Công viên, ngày chủ nhật...

-Nhưng ở Công viên lại càng đông người và tổ bụi hơn ở đây... Người ta chen chúc nhau...

Nhận xét của chị ta xem ra cũng xác đáng. Tôi tìm kiếm nơi khác để khuyên chị ta.

Tôi dè dặt gợi ý đến nghĩa trang.

Nghĩa trang của La Garenne-Rancy là nơi duy nhất trong vùng có chút ít cây cối và tương đối rộng.

-Ờ mà phải, sao tôi không nghĩ ra nhỉ, có thể đến đấy lắm chứ!

Thằng Bébert cũng vừa về đúng lúc.

-Này, Bébert, cháu có thích đi chơi ở nghĩa trang không? Để tôi hỏi nó cái đã, bác sĩ ạ. Đầu óc thằng này cứ nói đến đi chơi là lại như đầu óc lợn, xin nói trước với bác sĩ!...

Bébert chẳng nói chẳng rằng. Nhưng cứ vừa ý cô là đủ rồi. Chị ta rất thích vào nghĩa trang cũng như mọi người dân Paris. Về vấn đề này, phải nói là chị ta có suy nghĩ. Chị ta đã xem xét cả hai mặt thuận và nghịch. Đến chỗ các cộng sự thì ở đấy toàn đồ lưu manh... Ra công viên thì quá lắm bụi... Còn vào nghĩa trang, kể cũng hay... Những ai đến đấy ngày chủ nhật thường là người đứng đắn tử tế. Hơn nữa cũng tiện lúc quay về qua đại lộ Liberté có thể mua bán được vì các cửa hàng ở đây mở cả ngày chủ nhật.

Thế rồi chị ta kết luận:

-Này Bébert, cháu hãy dẫn bác sĩ đến đằng bà Henrouille ở phố Mineures ... Cháu biết chứ, nhà bà Henrouille, Bébert nhé.

Đâu thì nó cũng biết, miễn là có dịp để chạy nhảy nhởn nhơ.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.