Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối

Lượt đọc: 14 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHÚ THÍCH

❊ ❊ ❊

CHÚ THÍCH

[1]Paul Déroulède (1846 - 1914), nhà văn, nhà chính trị Pháp. Năm 1882 sáng lập và làm chủ tịch “Liên đoàn những nhà ái quốc”, tác giả Những bài ca người lính. Ông là người sôi nổi hoạt động, từng là nghị sĩ và năm 1899 mưu toan lôi kéo quân đội chống tổng thống, ông bị lưu đầy từ năm 1900 đến 1905.

[2]Bélisaire (sinh và mất khoảng năm 500 - 565 đầu công nguyên), tướng Byzantin. Dưới thời vua Justianus đệ nhất, vào thế kỷ thứ VI, ông đã từng là người xướng xuất và tiến hành các cuộc viễn chinh đánh đuổi quân Phổ để chiếm lại các thuộc địa ở châu Phi, đảo Sicile và Italia.

[3]Đây là lối chơi chứ của tác giả. Trên kia, trong buổi lễ, viên đại tá kêu gọi chiến binh của mình: “Hãy dũng cảm lên!”, nguyên văn tiếng Pháp là “Haut les coeurs!”, thì dưới này nhân vật Bardamu lại hô hào: “Hãy hèn nhát đi!” - “Bas les coeurs!”-, nghĩa đen hai câu tiếng Pháp: Nâng trái tim lên, hạ trái tim xuống.

[4]Quân hàm hàng tá trong lục quân Pháp biểu hiện các cấp bậc bằng vạch, không bằng sao.

[5]Pinçon có nghĩa đen là: vết cấu véo, kìm kẹp trên thân thế.

[6]Brandebourg, một tỉnh của Đức với thủ phủ là Potsdam, ở phía tây Berlin, nổi tiếng là vùng đất kinh kỳ văn hiến của nước này.

[7]Có thể hiểu ý tác giả muốn nói: đã phải thồ năng lại còn phài mệt nhọc mất ngủ mò mẫm trong đêm tối.

[8]Tức adjudant, thượng sĩ. Trước đây, thời Pháp thuộc, trong quân đội thuộc địa, thường gọi là thầy quản, hay phiên âm nôm na là ách-xì-đằng, gọi tắt là thầy ách.

[9]Thuộc mạn bắc Pháp, giáp với Bỉ, nhưng địa danh này có lẽ cũng chỉ là hư cấu.

[10]Một tộc người da đỏ ở Bắc Mỹ, đã từng định cư và lập quốc suốt hai trăm năm ở vùng đất ngày nay là Mê-hi-cô, từ khoảng đầu thế kỷ XIV đến khi nước này bị người Tây Ban Nha chinh phục vào năm 1521.

[11]Tháp Eiffel cao 320 mét ở trung tâm thủ đô Paris.

[12]Đây là câu chuyện có thật trong lịch sử chiến tranh 1914 – 1918 ở Pháp. Hồi đầu chiến tranh, khoảng tháng 9 -1914, khi quân Đức tiến vào vùng Champagne-Ardennes, một vùng nổi tiếng về rượu sâm banh và rượu vang, chúng thấy rượu ngon, đua nhau nốc lấy nốc để, say bí tỉ không còn chiến đấu nổi, chịu để bị bắt làm tù binh hàng loạt. Khi ấy, tướng Joffre đã tìm thấy sâm banh và rượu vang là đồng minh tự nhiên của mình để chiến thắng quân Đức.

[13]Tiền tệ Pháp, cùng với tiền giấy, có tiên kim loại. Đồng franc (FF) trước đây ta thường gọi nôm na là đồng quan hay quan tiên tây.

[14]Mỗi quan Pháp bằng 100 xăng-tim (centimes) và mỗi đồng xu Pháp bằng 5 xăng-tim, hay 1/20 đồng quan. Bardamu đưa đồng năm quan để trả tiền rượu, tương đương với 100 đồng xu. Tác giả dùng cụm từ “cent sous” (100 xu), còn có nghĩa bóng là “kếch xù, rất lớn, quá đáng”...

[15]Hồi đó tại Pháp còn nhiêu nơi thắp đèn đường bằng lửa ga.

[16]Les mères: có thể hiểu “các bà mẹ” (của các chiến binh ra trận), cũng có thế hiểu “các bà mẹ” trong các nhà tu, thường làm việc thiện ở các nhà thương. Có thể ở đây tác giả viết theo nghĩa thứ hai.

[17]Jeanne D’Arc (1412 - 1431), nữ anh hùng dân tộc Pháp, đã đánh thắng quân Anh, giải vây thành Orléans nhưng rồi bị chúng bắt và thiêu sống. Với công tích của bà, về sau bà được Nhà thờ phong thánh.

[18]Bảng (livre), đơn vị đo lường cũ ở Pháp, tương đương 487 gram.

[19]Mentir, baiser, mourir (nói dối, làm tình, chết), ý nói hồi ấy người ta chỉ có ba việc ấy thôi. Gần cùng loại với câu phong dao của dân Pháp hiện nay: Boulot, métro, dodo (đi làm, đi métro, đi ngủ) đời người mỗi ngày chỉ bấy nhiêu việc chính.

[20]Xem lại chú thích 6. Bài ca La Madelon nổi tiếng này sáng tác năm 1914 nhưng đến cuối năm 1915 mới được các nghệ sĩ trong các đoàn văn công quân đội đưa ra hát trong các cuộc biểu diễn phục vụ binh sĩ ngoài mặt trận. Ngay từ buổi đầu tiên, bài ca dã thành công, và chỉ mấy tuần sau, trên hầu khắp nước Pháp, cả tiên tuyến lẫn hậu phương, chỗ nào cũng thấy người ta luôn miệng hát La Madelon, cũng như luôn miệng hô khẩu hiệu: “Ta sẽ chiến thắng chúng nó” .

[21]Khi ấy tờ Le Petit Journal là phương tiện truyền thông chủ yếu của giới cầm quyền nhằm cổ vũ chiến tranh, kích thích tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc của nhân dân Pháp... Câu trên chúng tôi chưa tra cứu được xuất xứ cũng như nội dung cụ thể. Có thể hiểu tác giả muốn giễu những ngôn từ và khẩu hiệu hoa hòe, rùm beng của tờ báo trong việc đòi lại vùng Lorraine bị Đức thôn tính, hô hào đọ găng chiến đấu. Được biết, phụ trương chủ nhật 8-12-1918 của báo này nêu khẩu hiệu lớn trên đầu trang bìa hoan hô Metz và Lorraine đã được trả về cho Pháp.

[22]Xin xem lại trang 96 và chú thích 24.

[23]Một thị xã ở vùng ngoại ô tây-nam Paris

[24]Trong nguyên bản: “Dans cette cuisine-là” ; theo tiếng lóng Pháp, “cuisine” có nghĩa “sở cảnh sát”, tác giả muốn coi cái ổ điếm ấy như một nơi chỉ điểm.

[25]Cuộc chiến tranh Pháp-Đức ấy bắt đầu từ tháng 8/1914. Ngày 3/8/1914 Đức tuyên chiến với Pháp; trước đó hai ngày để chuẩn bị dối phó với Đức, chính quyền Pháp đã ra lệnh tổng động viên từ 1/8/1914.

[26]Một thị xã nằm trong lưu vực sông Loire ở phía tây-nam Paris, vùng đất cố đô Pháp.

[27]Cuộc chiến tranh giữa Pháp và Anh từ năm 1337 đến năm 1453.

[28]Nguyên bản viết: Porter les armes patriotes. Có hai nghĩa: cầm súng yêu nước, hay mang những huy hiệu yêu nước. Không rõ tác giả muốn viết theo nghĩa nào, vì cả hai đều thích ứng trong văn cảnh này.

[29]Tức ngày quốc khánh Pháp.

[30]Dumouriez là một viên tướng Pháp đã đánh thắng quân Phổ ở Valmy năm 1792, nhưng về sau lại đào ngũ sang Áo.

[31]Flandres: một vùng nằm giữa hai nước Pháp và Bỉ.

[32]Bismarck: chính khách Phổ (1815 - 1898), năm 1871 là quốc trưởng nước Đức, thi hành một chính sách độc tài nổi tiếng.

Hai vua Napoléon, tức Napoléon đệ nhất (1769 - 1821) và Napoléon đệ tam (1808 - 1873) là hai ông vua Pháp đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống các nước khác.

Barrès, nhà văn Pháp (1862-1923), thuộc xu hướng quốc gia chủ nghĩa.

[33]Tác giả sáng tạo ra tính từ drapeautique (religion drapeautipue), chúng tôi tạm dịch là cờ sí.

[34]Trong chiến tranh 1914-1918, 60 vạn quân Anh chiến đấu trên đất Pháp.

[35]Marcel Proust (1871 - 1922), nhà văn Pháp, tác giả bộ tiểu thuyết đồ sộ và độc đáo Đi tìm thời gian đã mất, gồm tới 7 quyển, dầy hàng nghìn trang, in thành 16 tập. Bộ tiểu thuyết này được xếp trên cuốn Hành trình đến tận cùng đêm tối trong cuộc trưng cầu ý kiến năm 1995 như chúng tôi đã giới thiệu ở đầu sách này. Ông dựng lên một nhân vật mất công đi tìm hạnh phúc trong cuộc sống ăn chơi của giới thượng lưu, trong tình ái, trong sự chiêm ngưỡng các tác phẩm nghệ thuật, nhưng chỉ thấy trống rỗng và tẻ nhạt. Cuối cùng, anh ta đi sâu vào tiềm thức, khám phá ra hạnh phúc trong sự gợi lại ký ức theo bản năng, biến dĩ vãng thành hiện thực sống mãi. Người ta coi tác phẩm của Proust mang tính huyền thoại về con người.

[36]Antoine Watteau (1684 - 1721), họa sĩ Pháp. Tác phẩm chính của ông là Hành hương về đảo Cythère.

[37]Cythère, một hòn đảo Hy Lạp nằm trên biển Égée, nổi tiếng vì đây là thánh địa của nữ thần sắc đẹp và tình yêu Aphrodite.

[38]Tương tự như ta gọi “cô Thơ”.

[39]Xin xem lại chú thích 30.

[40]Ngoại vi tây-nam Pari.

[41]Từ Billancourt vào đến cầu Grenelle, trên sông Seine, cũng khá xa, đi bộ cũng khoảng dăm cây số.

[42]Tháng 12/1915, Nhà hát quân đội được tổ chức ở Pháp và các nghệ sĩ ra mặt trận biếu điển phục vụ các chiến si.

[43]Rio, theo chúng tôi hiểu, là tác giả viết tắt tên một cửa sông ở Nam Mỹ, Rio de la Plata, chảy ra Đại Tây Dương, và ngăn đôi hai nước Ác-giăng-tin với U-ru-goay. Hai thủ đô Buenos Aires và Montevideo nằm hai bên bờ. Có lẽ đây cũng là nơi xuất phát của các tay chủ tầu buôn Ác-giăng-tin mà tác giả nêu.

[44]Claude Lorrain (1600-1682), họa sĩ. Phần chính yếu trong sự nghiệp của ông là ở Rome. Ông là một trong những bậc thầy về những bức họa phong cảnh lịch sử.

[45] Sociophile, một từ có lẽ do tác giả sáng tạo, không thấy có trong các từ điển thông thường, chúng tôi tạm dịch là “nhà yêu mến xã hội”. Có thể hiểu tác giả dùng từ này với ý mỉa mai.

[46]Nhật nhĩ man, tức Germanie (nước Đức), gọi theo cách phiên âm cũ.

[47]Val-de-Grâce, một tu viện cổ ở quận V Paris, xây dựng từ thế kỷ 17. Sau này dùng làm trường và bệnh viện quân y.

[48]Nguyên văn là omnibus, một loại xe chở khách do súc vật kéo thời ấy. Chúng tôi mượn từ “thổ mộ” của ta để dịch, vì loại xe này cũng tương tự.

[49]Bicêtre: pháo đài này nằm ở vùng ngoại ô đông-nam Paris, xây dựng từ thế kỷ 17 và 18. Nay là một nhà thương đa khoa thuộc tình Val-de-Marne.

[50]Tác giả dùng tiếng lóng “le petit plan”, tức là cái ống nhỏ đựng dụng cụ để vượt ngục của tù khổ sai thường giấu vào đũng quần, thậm chí vào trong lỗ đít.

[51]Có lẽ nhại từ Pirouette, có nghĩa “con quay”.

[52]Dupré, Vaudesquin và Margeton là những thầy thuốc nổi tiếng của Pháp. Trong đó Ernest Dupré (1862-1921) là một viện sĩ y khoa chuyên về thần kinh và tâm thần thuộc Viện Hàn lâm Y học Pháp từ năm 1918.

[53]Thuật ngữ tâm thần học gọi đây là “ám ảnh hồi ức”, một trong những hiện tượng ám ảnh của người bệnh tâm thần. “Ám ảnh hồi ức” là sự bận tâm nhớ lại, hết sức hình tượng và không thể nén được về một sự kiện cực kỳ khó chịu, nhục nhã trong quá khứ, kèm theo cảm giác đau đớn, xấu hổ và hối hận, dù người bệnh cố quên mà không thể nào quên.

[54]Chúng tôi tạm dịch cụm từ “diarrhée cogitive de libération”, trong đó tác giả đã tính từ hóa nguyên lý của Descartes: Cogito, ergo sum (Ta suy nghĩ, vậy là ta tồn tại).

[55]Nguyên văn: une intouchable, tức là lớp người hạ đẳng ở Ấn Độ.

[56]Tức Trường Mỹ Nghệ quốc gia (Conservatoire nationale des Arts et Métiers) ở Paris. Tương tự Trường Kỹ nghệ thực hành ở ta trước đây.

[57]Meuse, một tỉnh trong vùng Lorraine, mạn đông nước Pháp, giáp ranh nước Bỉ, nơi đây bị tàn phá nặng nề trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918.

[58]Somme một tỉnh nằm trên miền tây - bắc Pháp, giáp biển Manche. Bretagne ở phía dưới khá xa, cũng giáp với biển Manche và cả với Đại Tây Dương.

[59]Nguyên bản: Compagnie des Corsaires Réunis, một tên hư cấu. Có lẽ dựa theo tên một hãng tầu biển của Pháp trước đây thường chạy sang các thuộc địa: Compagnie des Chargeurs Réunis - Công ty các nhà Bốc vác liên hiệp, mà nhân dân ta ở Hải Phòng thời Pháp thuộc thường gọi là Hãng Năm Sao.

[60]Đây là một nhãn dao cạo do tác giả đặt ra, có lẽ để nhại nhãn “Gillette”.

[61]Đây là tên những viên tướng thực dân đã đi chinh phục các thuộc địa: Charles Mangin (1865 - 1925) từng đánh chiếm Congo năm 1898; Louis Faidherbe (1818 - 1889) từng là toàn quyền ở Senégal; Joseph Galliéni (1849 - 1916), đã từng tham gia các trận đánh chiếm thuộc địa ở Soudan và Bắc Bộ Việt Nam.

[62]Absinthe: rượu ngải đắng (một thứ rượu bị cấm sản xuất ở Pháp); cassis: rượu lý đen.

[63]La Garenne – Bezons: một thị xã ngoại vi Paris.

[64]Pédéraste: kẻ loạn dâm đồng giới.

[65]Theo đạo Thiên Chúa, ngày 15-8 hằng năm là ngày lễ Đức Trinh nữ Maria lên trời. Đây là ngày lễ trọng. Tiếng Pháp là Assomption (Lễ Lên Trời).

[66]Bạn đọc sẽ thấy việc này xẩy ra ở quá dưới, cách ba chương. Trong truyện, tác giả viết là Rio del Rio, nhưng có lẽ đây là Rio Muni (nay là Mbini), một thuộc địa cũ của Tây Ban Nha, từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. Nay là một bộ phận của nước Ghi-nê Xích đạo, tuyên bố Độc lập từ năm 1968.

[67]Bên trên, tác giả viết nhà lão giám đốc bằng gồ, lợp rạ. Không hiểu sao ở đây lại là mái tôn.

[68]Giá trị đồng quan (franc) khi ấy không được như bây giờ.

[69]Phố Moncey là một đường phố lớn nằm ở quận IX, trung tâm Paris. Không rõ ở đây có trụ sở gì quan trọng. Phố này mang tên một công tước đã từng là người đầu tiên làm thanh tra hiến binh ở thủ đô Pháp năm 1801. Phải chăng tác giả ngầm lấy tên ông này dùng vào văn cảnh trên.

[70]La Rochelle-. thành phố chính của tỉnh Charente - Maritime, nằm trên bờ Đại Tây Dương, cách Paris 466km về phía tây-nam.

[71]Ariège: một tỉnh trong vùng núi Pyrénée, miền nam nước Pháp, tiếp giáp với Tây -Ban Nha.

[72]Négrier: kẻ buôn người da den, hoặc đối xử người da đen như nô lệ. Đây chỉ là cách gọi, thực chất mấy chú nhỏ này chưa phải như vậy.

[73]Nguyên văn là bougnole, tiếng của bọn thực dân phân biệt chủng tộc, khinh mạn gọi người da den và da mầu nói chung. Thậm chí cả dến nông dân vùng Bretagne ở Pháp cũng bị gọi như thế. Gốc của từ này theo tiếng Xê-nê-gan là ouolof hay bou-gnoul: người đen.

[74]Nguyên bản viết: cagna, tiếng của bọn lính Tây ngày trước, thời Pháp thuộc, nhại theo từ cái nhà trong tiếng Việt của ta để chỉ những ngôi nhà thô sơ tồi tàn.

[75]Francé: tức français - tiếng Pháp - phiên âm theo kiểu bồi. Những từ tiếp sau đó là tiếng lóng địa phương, chúng tôi không dịch được.

[76]Tác giả muốn nhắc đến việc Bardamu gặp và đi theo trung đoàn bộ binh ra trận, ở đầu truyện.

[77]Ở quá trên, tác giả viết là Tiểu Congo, dưới này lại viết Tiểu Togo. Về địa lý, hai nơi này ở cách nhau khá xa, tuy cùng trong vùng Xích đạo. Không rõ ý tác giả thế nào.

[78]Ckarleroi và Verdun là hai trận đánh lớn trong Chiến tranh 1914 - 1918. Trận Chareroi diễn ra trên đất Bỉ và quân Đức đã thắng (cuối tháng 8-1914). Trận Verdun (kéo dài từ tháng 2 đến tháng 12-1916) là một trận đẫm máu nhất trong cuộc chiến đó. Quân Pháp đã dũng cảm chiến đấu và chiến thắng.

[79]Nguyên bản Midi, miền nam nước Pháp.

[80]Tác giả chơi chữ: plus tropicale que les Tropiques, nhiệt đới hơn cả vùng Nhiệt đới - tức vùng Xích đạo.

[81]Calvados: rượu mạnh cất từ táo.

[82]Nguyên bản viết: Bon Dieu le Nouba: một vị thần ẩm thực của lính Bắc Phi xưa.

[83]Nguyên bản viết: Les bruits de la quinine, và tiếp đó lại viết: Les grosses mouches et la quinine. Chúng tôi đoán là muỗi rừng gây bệnh sốt rét phải chữa bằng kí ninh, nên họ lấy tên thuốc để gọi vật gây bệnh.

[84]Tác giả muốn nhắc đến những đêm hành quân gian khổ trong chiến tranh, với những khẩu phần gồm có món cá ngừ khó nuốt.

[85]Nguyên bản: Luna Park, một công viên giải trí nổi tiếng thế giới lập ra ở Hoa Kỳ từ năm 1904 trù định một chuyến dạo chơi trên mặt trăng. Năm 1909 ở Paris cũng lập ra một thứ Luna Park, nhưng đến 1948 thì đóng cửa.

[86]Noé, tiếng Do Thái là Noah. Theo Kinh thánh, ông là một trong các bậc anh hùng trong Cựu ước. Noé là hậu duệ thứ mười của Adam, do có đức tin nên được Chúa báo trước tai họa sẽ xẩy ra, nhờ vậy ông dã kịp đóng một chiếc tầu lớn chở cả vợ con và những mẩu của muôn loài qua khỏi cơn đại hồng thủy kéo dài suốt bốn chục ngày đêm. Ông được coi là thủy tổ của loài người.

[87]Chúng tôi không rõ ý của tác giả về cái tên này. Xin tạm hiểu là “quân y sĩ tổng hợp”. Tiếng Pháp, surgeon có nghĩa “chồi gốc”, “con nòi cháu giống”; còn tiếng Anh lại có nghĩa là “thầy thuốc phẫu thuật”. Viên chỉ huy trạm này có chức danh major tức thầy thuốc quân đội.

[88]Năm 1626, khi Mỹ còn là thuộc địa của Hà Lan, thành phố này mang tên New Amsterdam, là tên kinh đô của Hà Lan. Đến 1664, qua tay người Anh, thành phố đổi tên là New York, là tên của quận công York tức vua Anh James II về sau. Nước Mỹ giành được Độc lập vẫn giữ nguyên tên thành phố này, lấy nơi đây làm thủ đô đầu tiên của Hoa Kỳ (1789-90) và lễ đăng quang của vị Tổng thống đầu tiên Washington cũng được tổ chức ở đây năm 1789.

[89]Trong nguyên bản viết: Après les heures verticales, có nghĩa đen: Sau những giờ thẳng đứng. Chúng tôi đoán là những giờ mà hai kim đồng hồ dựng thành một đường thẳng đứng, tức là 6 giờ, và ở đây phải là 6 giờ chiều.

[90]Villejuif, một trong 49 tổng của tỉnh Val-de-Marne, nằm trong vùng ngoại ô phía nam Paris.

[91]Giống như câu tục ngữ ở miền Nam nước ta nói về quả mướp đắng: “Khổ qua tuy đắng mà ngon”. (Khổ qua = mướp đắng).

[92]Chabanais là một nhà thổ hạng sang mọc lên từ cuối thế kỷ XIX ở trung tâm Paris, nổi tiếng hầu khắp thế giới, nơi lui tới của những kẻ giàu có, quyền quý ở Pháp; Invalides tức Điện Phế binh, nơi thờ phụng các danh tướng Pháp, cũng ở trung tâm Paris.

[93]Nữ hoàng Elisabeth đệ nhất của nước Anh (1533 - 1603). Trong thời trị vì của bà, nền văn hóa và nghệ thuật Anh được phát triển mạnh mẽ. Shakespeare là một trong những người nổi tiếng của thời này.

[94]Tiếng Bồ Đào Nha trong nguyên bản. Có nghĩa: Tự do! Tự do!

[95]Tức đồ đạc vào thế kỷ 18 ở Pháp.

[96]Tiếng Anh trong nguyên bản. Có nghĩa: Cút! Cút! Cút!

[97]Detroit, một thành phố thuộc bang Michigan, phía tây thành phố New York, trung tâm sản xuất ô tô của Mỹ với hãng Ford nổi tiếng.

[98]Một nơi nghỉ mát bên bờ Đại Tây Dương, phía tây - nam nước Pháp, phía dưới Bordeaux.

[99]Tiếng Anh trong nguyên bản. Có nghĩa: bộ quần áo gồm bốn thứ: áo, quần, gi-lê và có lẽ thêm áo khoác ngoài.

[100]Về thời gian “ba mươi năm”, không rõ ý tác giả nói chung về nghề đó hay riêng đối với Robinson. Những từ ExitLavatory viết tiếng Anh trong nguyên bản, có nghĩa Lối ra và Nhà Vệ sinh.

[101]Nhà thờ Trái Tim Thiêng (Sacré-Coeur) ở mạn đông-bắc thành phố Paris.

[102]Xin xem lại chú thích 20.

[103]Chợ Đền (Marché du Temple), nơi bán đồ cũ nổi tiếng ở quận 3 trung tâm Paris, tương tự Chợ Trời ở Hà Nội.

[104]Honoraires: tiền thù lao trả cho thầy thuốc, thầy cãi... Cùng dạng với Honoraire: danh dự. Tác giả có ý mỉa mai.

[105]Tiếng Anh trong nguyên bản, có nghĩa: Không còn âu lo!

[106]Quartier des “Filles-du-Calvaire”, ở quận 3 trung tâm Paris. Đây cũng là nơi có nhiều gái làm tiền.

[107]Xứ Basque là một vùng thuộc Pháp, nằm ở hai sườn núi Tây Pyrénées, giáp Tây Ban Nha. Dân ở đây có nền văn hóa lâu đời và đến nay vẫn còn duy trì. Họ thường nổi dậy đòi quyền tự trị. Từ démeng nói theo giọng basque từ dément có nghĩa là điên rồ.

[108]Ngày trước đèn đường ở các thành phố Pháp còn thắp bằng lửa ga, nên phải có người chuyên đi châm đèn hoặc tắt đèn.

[109]Nguyên văn: Fantaisie bourgeoiso-byzantine de haut goùt. Chúng tôi tạm dịch như trên.

[110]Tác giả chơi chữ: Recherche vừa có nghĩa nghiên cứu cũng có nghĩa tìm kiếm. Nhân vật Bardamu đang tìm kiếm một người ở nơi người ta đang tiến hành những cuộc nghiên cứu khoa học.

[111]Laponie một vùng ở Bắc cực thuộc châu Âu, với khoảng 45.000 dân; Pérou một nước Nam Mỹ, bên bờ Thái Bình Dương, có gần ba mươi triệu dân.

[112]Hệ thống cung cấp hơi nóng đến từng nhà hoặc từng phòng từ một nguồn duy nhất của thành phố.

[113]Ses caoutchoucs có nghĩa là “đồ cao su”, “giầy cao su” và cũng có thể hiểu là “bao cao su”. Không rõ ý tác giả, nhất là dưới đó vài đoạn, bạn đọc sẽ thấy ông Parapine này bộc lộ rõ mình hơn.

[114]Ý nói không phải ai cũng một mình quyết đoán được.

[115]Michel Eyquem de Montaigne (1533-1592), nhà văn và nhà triết học Pháp. Nổi tiếng với tập Luận văn (Essais) mà ông viết trong hơn hai mươi năm, từ lúc 38 tuổi cho đến khi qua đời. Tập sách này viết với văn phong gần như đàm thoại, đề cập đến nhiêu loại vấn đề: văn học, chính trị, tôn giáo, tình bạn, giáo dục, cái chết... Trong đó, Montaigne đề cao chủ nghĩa chiết trung, sống theo tự nhiên. Ông nhận định tính chất con người là “uyển chuyển và da dạng”, và nhận định của ông đã có ý nghĩa quan trọng đối với sáng tác văn học.

[116]Plutarkos (tiếng Pháp viết là Plutarque) nhà văn cổ Hy Lạp thế kỷ thứ nhất công nguyên, có ảnh hưởng lớn đến Montaigne, Shakespeare...

[117]Nguyên văn: Avec des sels d’or. Chúng tôi tra cứu chưa tìm ra thật đúng nghĩa là gì.

[118]Xin xem lại trang 109: Gian hàng các dân tộc.

[119]Một tỉnh ở cực bắc nước Pháp, giáp với Bỉ.

[120]Tiếng Anh trong nguyên bản. Có nghĩa: Dành cho quý ông trước đã!

[121]Xin đọc lại trang (316)

[122]Trái bun (boule): trái tròn bằng gang, nhỏ bằng quả cam, dùng trong trò chơi trên hiên đất nện rất phổ thông ở Pháp, xuất xứ từ miên Nam, tên gọi Pétanque, có thể dịch là trò ném trái tròn. Đại khái như trò chơi bi của trẻ em; nhưng trò ném bun thường chủ yếu người lớn, người già tham gia.

[123]Tác giả cố ý viết tắt là Poléon.

[124]Epinal là tỉnh lỉ tỉnh Vosges, cách Paris 372km về phía đông, một trung tâm sản xuất tranh dân gian ở Pháp từ cuối thế kỷ 18.

[125]Xin đọc lại trang 134.

[126]Tên một đạo sĩ (hay thầy pháp) trong truyện cổ tích Ba Tư.

[127]Tiếng Anh trong nguyên bản. Tạm dịch: Em dù có đi đâu... dù có tìm đâu... thì cũng chỉ vì anh thôi.

[128]Bá tước La Pérouse, nhà hàng hải Pháp (1741 - 1788), được vua Louis XVI trao cho chỉ huy một cuộc thám hiểm các hòn dào trên Thái Bình Dương. Ông chết trong một vụ đắm tàu.

[129]Tên một vở kịch của Corneille, từ giữa thế kỷ 17 ở Pháp.

[130]Tác giả nhắc đến nhân vật Princhard, một hạ sĩ, vốn là một thầy giáo dạy môn sử địa, tình nguyện nhập ngũ như Bardamu, cùng nằm bệnh viện tâm thần. Xin đọc lại trang 118.

[131]Một loại bánh ga tô có rắc nho và tưới rượu rum.

[132]Cayenne: thủ phủ “Guyane thuộc Pháp”, ở Nam Mỹ, nằm giữa Bra-xin và Xu-ri-nam. Hồi cuối thế kỷ 18 sang đầu thế kỷ 19, Cayenne là nơi tù đầy của các chính trị phạm, mà người ta mệnh danh là “cái máy chém khô”; đến giữa thế kỷ 19 đế quốc Pháp lập lại nhà tù ở đây, bị phản đối rất dữ; mãi đến năm 1938, nhà tù này mới thực sự bị bãi bỏ.

[133]Nguyên văn: Demi-sel, nghĩa đen là bơ hay pho mát nhạt muối, chỉ mặn khoảng 2%; nghĩa bóng là: kẻ giả bộ tự do phóng khoáng, tên chủ chứa không phải chỗ. Cũng có chỗ giải thích là một thứ hoạn quan.

[134]Jean de La Bruyère (1645-1696), nhà văn cổ điển Pháp. Ông chỉ viết một cuốn sách mà thành bất tử. Đó là cuốn: Les caractères de Théophraste, traduits du grec, avec les moeurs de ce siècle (Những tính cách, tác phẩm của Théophraste, dịch từ tiếng Hy Lạp, kèm theo những tính cách và phong tục của thế kỷ này). Sách được ra đời năm 1688, sau mười năm viết và mười năm sửa chữa bổ sung. Sách được người đương thời rất hoan nghênh và ngay khi ông còn sống đã phải in đi in lại tới chín lần. Tuy gọi là sách dịch nhưng phần dịch không được chú ý bao nhiêu bằng phần ông viết thêm, thêm mãi mỗi lần in. Nôi dung trào phúng, phê phán phong hóa suy đồi, chỉ trích những cái rởm của xã hội thượng lưu và nêu lên những suy nghĩ về các vấn đề lớn của xã hội đương thời. Xin lưu ý: Théophraste nói đây là nhà triết học,Hy Lạp ở thế kỷ thứ III; không phải Théophraste Renaudot là nhà báo và nhà y học Pháp (1586 - 1653) mà cuốn sách này của Céline được Giải thưởng văn học mang tên ông.

[135]Về nhân vật Alcide, xin đọc lại trang 269-286.

[136]Nơi này có thể nằm ở vùng ngoại ô phía tây-bắc Paris.

[137]Nguyên văn: Maison de Santé. Một cơ sở y tế tư nhân chuyên chữa bệnh tâm thần.

[138]Nguyên bản viết superconscience, một từ không thấy có trong các từ điển phổ thông Pháp. Chúng tôi tạm dịch là: hoang tưởng, vì trong tâm thần học có phân tích loại bệnh hoang tưởng tự đại về thiên tài...

[139]Xin đọc lại những chương tả cảnh sống ở châu Phi.

[140]Cà phê mầu đen... Áo sơ mi tôi mầu trắng... Vườn mầu xanh... Bardamu, hôm nay anh khỏe không?

[141]Anh nói thế nào từ “không thể” bằng tiếng Anh, hả Ferdinand?

[142]Xin xem lại chú thích 98.

[143]Tức Công tước James Scott (1649 - 1685), con hoang của vua Anh Charles II Stuart. Thủ lĩnh phái đối lập Tin lành, mưu đoạt ngôi vua của Jacques II nhưng không thành và bị xử tử.

[144]Bois de Colombes: một thị trấn nhỏ ở vùng ngoại ô tây-bắc Paris, không xa nơi tác giả đang kể.

[145]Xin đọc lại trang 580.

[146]Thuộc miền Trung nước Pháp.

[147]Đây chỉ là trò đua xe trong công viên hay đám hội.

[148]Xin đọc lại trang 109.

[149]Hồi ấy chưa có đèn flash, phải dùng bột magnesium để sáng tạo. Nhưng cũng chưa có “ảnh lấy ngay” như bây giờ. Tác giả nói kết quả xấu đẹp có lẽ là vế sau.

[150]Xin đọc lại những trang 70 và 80.

[151]Giải thưởng văn học Théophraste Renaudot mang tên một ký giả và cũng là một thầy thuốc Pháp (1586 - 1653), người đã sáng lập tờ báo đầu tiên của nước Pháp: La Gazetté, vào năm 1631. Giải này được lập ra từ năm 1925, hàng năm trao cho các tác phẩm văn học cùng lúc với Giải Goncourt, có giá trị ngang nhau.

[152]Tác giả chọn cho nhân vật chính của mình cái tên Bardamu đã hàm ý đó là một con người luôn luôn gặp gian nan cực nhọc, nghĩa đen của cái tên đó là: kẻ phải mang vác những thứ nặng nê lình kỉnh trên người.

[153]Một địa danh hư cấu. Trong đời thật, tác giả sang Cameroun.

[154]Cũng là một địa danh hư cấu.

[155]Henrouille có thể hiểu là “đồ han gỉ”.

[156]La Madelon, tên một bài ca được sáng tác ở Paris năm 1914, rất phổ biến trong các binh sĩ Pháp và đồng minh. Bài hát này cũng rất thịnh hành ở Việt Nam cho đến những năm 40.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.