Ấy thế mà cái thứ hòa bình cấm ca cấm cẩu ấy của chúng tôi cũng gieo mầm được vào cuộc chiến tranh.
Chỉ cần xem nó khuấy động trong quán rượu Olympia là ta có thể đoán được nó ra sao, cái trò cuồng loạn này. Ở tầng dưới, trong căn hầm dài dùng làm sàn nhảy đầm, mặt sàn bị giẫm đạp bụi mù, oang oang tiếng nhạc não nề pha trộn đủ thứ da đen - Do Thái - xắc-xông. Người Anh lẫn với người Phi, người Cận Đông với người Nga, chỗ nào cũng thấy họ, phì phèo, la hét rống lên, u sầu và lính tráng, trên suốt dẫy dài những chiếc xô pha đỏ sẫm. Những bộ đồng phục ấy mà người ta bắt đầu không còn nhớ được đã mất bao nhiêu cực nhọc mới gây được những mầm mống hôm nay, cái vẫn đang còn đâm chồi và còn phải hơi lâu nữa, theo thời gian, mới hoàn toàn trở thành phân bón.
Mỗi tuần, sau vài tiếng đồng hồ khởi động kha khá trong thú vui xác thịt ở Olympia, bọn tôi tụ tập thành từng nhóm kéo nhau đi thăm hỏi mụ Herote bán đủ thứ táp nham, đồ lót, găng tay, sách vở, trong hẻm herisinas, đằng sau tiệm ca vũ Folies - Bergère, nay đã biến mất, chỉ còn là nơi để các cô gái nhỏ dắt mấy con cún con đến làm cái việc cần thiết của chúng.
Chúng tôi đến đó mò tìm hạnh phúc của chúng tôi, cái mà thiên hạ dọa dẫm rất dữ. Ai cũng lấy làm xấu hổ về sự thèm khát ấy, nhưng vẫn cứ hùa nhau lăn vào. Chối bỏ ái tình khó hơn chối bỏ cuộc sống. Trên đời này, người ta dùng thì giờ để giết chóc hay để yêu đương thì cũng thế thôi, và làm luôn cả hai việc cùng một lúc. “Ta ghét mi! Ta yêu mi!” Người ta giữ miếng nhau, rồi lại trò chuyện với nhau, người ta đùn đẩy cuộc sống cho loài hai chân ở thế kỷ tiếp sau, với mọi sự cuồng nhiệt, bằng mọi giá, cứ y thể cái đó là cực kỳ thú vị để mà tiếp tục, y thể cái đó rút cục sẽ làm cho ta trở thành vĩnh cửu. Dẫu sao thì cũng thèm hôn hít như ngứa thì phải gãi.
Về mặt tinh thần tôi có khá hơn, nhưng về thân phận lính tráng thì vẫn còn khá bấp bênh. Người ta cho phép tôi được thỉnh thoảng ra phố. Như đã nói, mụ hàng đồ lót của chúng tôi tên là mụ Herote. Cái trán mụ đã thấp lại hẹp, đứng trước mặt mụ, ban đầu thì cũng hơi khó chịu, nhưng cứ nhìn vào cặp môi mọng và luôn nhoẻn miệng cười thì khó ai thoát được khỏi tay mụ. Núp trong sự ăn nói liến thoắng kinh khủng, cái khẩu khí khó quên, mụ ẩn giấu được hàng loạt những ý đồ đơn giản nhưng tham lam và đặc sệt tính con buôn sùng tín.
Cái vốn liếng mụ làm nên trong có vài tháng, nhờ vào các đồng minh và trên hết là nhờ vào cái bụng tròn trĩnh của mụ. Phải kể đến việc hồi năm ngoái người ta đã cắt bỏ cho mụ hai cái buồng trứng, phải mổ do bị viêm vòi. Cái sự thiến hoạn cứu tinh ấy làm ra của cho mụ. Đối với đàn bà, có những thứ bệnh phụ khoa lại trở thành may mắn. Kể ra thì làm đàn bà mà quanh năm suốt tháng cứ phải lo ngay ngáy cái sự chửa đẻ, thì chỉ là hạng người bại liệt, còn làm được gì nên hồn.
Đám già và cả đám trẻ nữa nghĩ rằng, và tôi tin là thế, họ đã tìm được cách làm tình dễ dàng mà giá cả lại không đắt ở ngay phía sau mấy cái quầy bán đồ lót và sách báo. Cái đó, vào khoảng hai chục năm trước thì quả đúng là thế, nhưng từ ấy thì nhiều cái đã chẳng còn thế nữa, nhất là đối với những trò tiêu khiển thật thích thú. Cái nếp sống khổ hạnh ănglô-xắcxông [34*]làm cho dân mình ngày thêm khô héo đi, nó đã làm tan biến gần hết những trò vui đùa rôm rả ngẫu hứng tại các phòng phía sau cửa hàng cửa tiệm. Tất cả đã quay sang cưới xin nghiêm chỉnh.
Mụ Herote biết tận dụng những cái môn bài cuối cùng để tổ chức trò ngủ đứng rẻ tiền. Một tay nhân viên phát mại vô công rồi nghề cứ vài chủ nhật lại một lần mò vào cửa hàng của mụ. Lão vào đó, ở lại đó. Lão hơi lẩm cẩm, mà cũng chỉ thế thôi, chẳng đòi hỏi gì nhiều. Cái trò hạnh phúc của họ chẳng gây ồn ào gì cho lắm. Dưới bóng những tờ báo cuồng nhiệt hô hào những hy sinh tối hậu và lòng yêu nước nồng nàn, cuộc sống đã ngặt nghèo và bị nhồi nhét toàn những chuyện xa vời, lại còn tiếp tục xảo trá với nhau hơn bao giờ hết. Đó là cái mặt trái và mặt phải của chiếc mề đay, y như ánh sáng và bóng tối.
Lão nhân viên của mụ Herote đã chuyển tài sản sang Hà Lan cho bạn bè, những tay thông thạo nhất, và gửi cả cho mụ Herote, khi mà hai bên đã thân thiết nhau hơn. Những chiếc cà vạt, những cái xu chiêng, những cái sơ mi lửng mụ ta bán ra, kể thì cũng được khách, cả giới nam cũng như giới nữ, họ thường lui tới hàng mụ.
Đa số những cuộc mua bán yêu đương với đám người nước ngoài và dân nội địa diễn ra dưới bóng phớt hồng của những tấm màn gió giữa những tiếng léo nhéo huyên thuyên không dứt của mụ chủ mà cái thân hình bồ cạp, lắm mồm và sực nức mùi nước hoa đến ngạt thở khiến cho những kẻ cằn cỗi nhất trong số khách làng chơi đau gan đau thận cũng phải trở thành những tay phóng túng lả lướt. Trong cái mớ hỗn tạp ấy, mụ Herote chẳng hề rồ dại, mà còn tìm ra lắm cái lợi, trước hết về tiền bạc. Bởi vì trong những vụ mua bán “tình cảm”, mụ thu được khoản hoa hồng kha khá, rồi còn bởi lẽ xung quanh cái đó, đã lắm cuộc tình được mụ tạo dựng hay phá đổ. Ghép cặp này, rẽ cặp kia với niềm vui thích ngang nhau, bằng những chuyện soi mói, bóng gió và phụ bạc.
Mụ không ngừng tưởng tượng ra những chuyện hạnh phúc và thảm họa. Mụ nuôi dưỡng và xô đẩy người ta vào một cuộc sống đầy dục vọng. Và món buôn ấy của mụ chỉ có mỗi ngày một phát tài hơn mà thôi.
Proust [35*] có hiện hồn về, với một tính bền bỉ phi thường đi nữa, thì cũng lạc vào cõi vô định, vào sự phù phiếm pha trộn cả những tập tục lẫn những lo lót quấn quít xung quanh đám người đời, đám người của trống rỗng, những con ma của sự đam mê xác thịt, những kẻ truy hoan luôn luôn chần chừ chờ đợi một Watteau [36*] của họ, những kẻ đi tìm không chút hào hứng những Cythère [37*] vị tất đã có thật. Nhưng mụ Herote, một người vốn dĩ bình dân và có chất lượng hẳn hoi, lại đang đứng vững trên trái đất này bằng những dục vọng thô sơ, thú vật và chính xác.
Nếu người đời có độc ác đến thế, có lẽ chỉ vì họ đã đau khổ, nhưng giữa cái lúc họ khỏi được nỗi đau với lúc họ đã trở nên tốt hơn thì cũng phải một thời gian dài. Sự thành đạt của mụ Herote về vật chất và thể xác chưa đủ thời gian để làm dịu đi cái tâm trạng muốn chinh phục của mụ.
Mụ, chẳng phải hạng người ganh ghét gì hơn những mụ tiểu thương quanh vùng, nhưng mụ cũng đa tốn nhiều công sức để cho anh thấy được điều ngược lại. Cái cửa hàng của mụ không chỉ là nơi hò hẹn mà còn là một loại cửa để thâm nhập vụng trộm vào cái thế giới giầu có, xa hoa mà cả đời tôi dẫu có ao ước đến đâu cũng không thể bén mảng đến, mà có đặt được chân vào đó thì cũng bị loại ra khỏi một cách chóng vánh và khốn khổ ngay sau cuộc du nhập đầu tiên và cuối cùng ấy.
Những kẻ giàu có ở Paris sống với nhau trong những khu phố của họ, thành một khối, như một gốc bánh ga tô mà cái đỉnh nhọn đâm thẳng vào điện Le Louvre, còn cái đáy tròn tròn nằm vào những hàng cây giữa cầu Auteuil và cửa ô Ternes. Đó. Cái miếng ngon nhất của Paris đó. Tất cả phần còn lại chỉ toàn nghèo cực, đáng khinh.
Khi mình bước chân vào khu phố nhà giầu, thì cũng không thấy ngay được cái gì khác lắm so với các khu phố khác, có chăng chỉ là ở đường sá sạch sẽ hơn một chút, thế thôi. Nhưng nếu anh muốn ngao du một chuyến vào tận bên trong những người và vật ở đấy thì hãy coi chừng những chuyện ngẫu nhiên và thầm kín.
Thông qua cửa hàng của mụ Herote, ta có thể tiến sâu hơn vào cái khu vực dành riêng này nhờ có những tay người Ác-giăng-tin từ các khu ưu tiên ưu đãi ấy mang xuống cung cấp cho mụ nào quần đùi nào sơ mi và đùa cợt luôn thể với cái lô đã được chọn lọc những cô bồ nhí tham lam, đóng kịch đã tồi, hát hỏng cũng dở, mà mụ Herote cố tình làm cho hấp dẫn.
Với một em trong đám ấy, tôi, kẻ xác xơ, chẳng có gì để trao tặng ngoài cái tuổi thanh xuân của mình, như người ta nói, tuy nhiên giữ được thế cũng là quá lắm rồi. Ở chốn ấy người ta gọi tên em là con nhỏ Musyne. [38*]
Ở con hẻm Beresinas này, mọi người biết nhau từ cửa hàng này sang quầy hàng khác, giống hệt như ở một tỉnh lẻ, đã từ nhiều năm kẹt lại với nhau giữa hai dẫy phố của Paris, có nghĩa là ở đó người ta rình rập nhau, vu khống nhau một cách thật là nhân tình đến mức điên dại nữa.
Về mặt vật chất, trước chiến tranh, các nhà buôn bán đó giành giật nhau trong một cuộc sống phải nhặt nhạnh ki cóp từng ly từng tí và phải dè sẻn chắt bóp đến tuyệt vọng. Giữa biết bao thử thách khốn khổ, nỗi buồn kinh niên của mấy chủ tiệm ấy là cứ đến khoảng bốn giờ chiều họ lại phải mò mẫm trong cảnh tranh tối tranh sáng để kiếm lấy chút lửa ga thắp sáng cho mấy cái quầy hàng. Nhưng, lui vào một chút, người ta sẽ thấy rằng như thế thì ngược lại chỉ tạo không khí thuận lợi cho những lời gièm pha tế nhị.
Dẫu xoay xở thế nào thì nhiều cửa hiệu cũng lâm vảo cảnh suy sụp vì chiến tranh. Trong khi đó, nhờ dựa vào mấy gã người Ác-giăng-tin, mấy tay sĩ quan giải ngũ sống bằng trợ cấp, và nhờ có lời khuyên nhủ của lão bạn tình nhân viên phát mại, cửa hiệu của mụ Herote cứ phát triển, và mọi người quanh đấy tha hồ bàn tán, cả những điều bỉ ổi mà ta có thể hình dung được.
Lấy thí dụ như, vào lúc ấy, cửa hàng bánh ngọt nổi tiếng ở số nhà 112 bỗng dưng mất hẳn đám khách các bà xinh đẹp, do ảnh hưởng của việc tổng động viên [39*]. Các bà nàng nếm bánh quen thuộc mang găng tay dài đến tận khuỷu ấy đã bị người ta trưng dụng mất ngựa, phải đi bộ, nên không trở lại đấy nữa. Các bà chăng còn bao giờ trở lại. Còn Sambanet, lão ghép nhạc, bỗng nhiên không cầm được cái thèm muốn xưa nay của lão là làm trò kê giao với mấy chú lính. Thế là vào một buổi tối, lão giở cái trò táo tợn ấy ra không đúng lúc, khiến lão phạm vào một tội không sao gỡ được đối với một số các nhà ái quốc, họ ngay tức khắc khép lão vào tội gián điệp, lão phải đóng luôn cái gian hàng của lão lại.
Trái lại, cô gái già Hermance, ở số nhà 26, mà nghề chuyên môn của cô ta cho đến tận hôm nay vẫn chỉ là cung cấp món bao cao su, chính đáng hay không thì cũng là do đã rất khéo xoay xỏa, nhờ vào thời thế, nếu không rõ ràng là cô ta phải vượt qua tất cả mọi gian nan trên đời để tiếp tế cái món “dụng cụ phòng bệnh” cô nhận từ bên Đức về.
Rút cục, chỉ có mụ Herote, trên ngưỡng cửa thời đại mới của món đồ lót tinh xảo và dân chủ, là dễ dàng tiến vào cảnh phồn vinh.
Giữa các cửa hiệu cửa hàng ấy, người ta viết cho nhau vô khối thư nặc danh, lắm cái tục tĩu nữa. Nhưng mụ Herote thì khác, để giải buồn, mụ lại thích gửi những thư ấy cho những nhân vật cao cấp hẳn hoi, chính từ chuyện này mà mụ thể hiện cái ý đồ vốn dĩ là bản chất tính khí của mụ. Ví dụ, mụ gửi hắn cho ngài Thủ tướng Nội các một bức thư đảm bảo rằng ông ta bị cắm sừng. Lại còn dựa vào từ điển mà viết thư tiếng Anh chọc tức hẳn ngài Thống chế Pétain. Thư nặc danh ư? Đó là những lời trách cứ độc ác bằng ngòi bút!
Mụ Herote, về phía mình, mỗi ngày cũng nhận được một bó những bức thư viết cho mụ nhưng không ai ký tên và xin cam đoan với các bạn rằng lắm bức thư còn khó ngửi nữa cơ. Mụ trầm tư, sửng sốt trong khoảng mươi phút, rồi lấy lại cân bằng được ngay, bất kể ra sao, với bất cứ cái gì, mà luôn luôn là thế, và còn vững vàng nữa, bởi vì trong cuộc sống nội tâm của mụ chẳng có chỗ cho sự hồ nghi và càng không có chỗ cho cả chấp lý nữa.
Trong số các khách hàng đàn bà và những người được mụ “che chở”, có khối cô nàng nghệ sĩ tìm đến mụ với nhiều nợ nần hơn là nhiều váy áo. Với tất cả bọn họ, mụ Herote đều lấy lời khuyên răn và họ cũng nhận là đúng, trong đó có cả Musyne mà tôi thấy hình như xinh nhất đám. Em thật đúng là một tiểu thiên thần âm nhạc, một cây vĩ cầm nữ đáng yêu, một tình yêu không còn thơ dại nữa, như em đã chứng tỏ với tôi. Với niềm khao khát khôn nguôi được thành đạt ngay dưới trần thế chứ không phải đợi lên tận trời cao, vào lúc tôi bắt đầu quen biết em, em đang cố xoay xở để được tham gia một vở kịch nhỏ, trong đó có đủ cả những gì là dễ ưa, là rất “pa-ri” và quên luôn được mọi sự đời, tại nhà hát Variétés (Tạp kỹ).
Em xuất hiện với cây vĩ cầm, trong một phong cách mào đầu ứng biến, có vần điệu du dương. Một kiểu mào đầu dễ thương nhưng cũng khá phức tạp.
Với cái tình cảm tôi dành cho em như thế, nên thời gian của tôi lúc nào cũng hừng hực như lửa, qua những cú nhảy vọt từ nhà thương sang cổng nhà hát. Nhưng chẳng mấy khi mà chỉ có mình tôi đón chờ em ở đấy. Các cậu lục quân thay nhau giành lấy em trong vòng tay, mấy cậu phi công cũng thế và còn dễ chiếm hơn, nhưng cái món quyến rũ không ai tranh vào đấy được lại thuộc về mấy gã người Ác-giăng-tin. Món hàng thịt lạnh của những gã này, nhờ có các lớp tân binh lúc nhúc kéo đến mà tăng tỷ lệ lên theo lực đẩy tự nhiên. Em Musyne đã khéo tận dụng những ngày làm ăn được ấy. Em đã hành động khá lắm, đám Ác-giăng-tin không còn đậu nổi ở đó.
Tôi không sao hiểu được. Tôi đã bị tất cả, tất cả mọi người bội bạc, cả đám đàn bà con gái, cả tiền bạc và ý nghĩ nữa. Mọc sừng và bất mãn. Vào thời ấy, tôi vẫn còn gặp được Musyne, một cách ngẫu nhiên thôi, cứ cách khoảng hai năm hay gần như thế, cũng như với phần lớn những người mà mình quen biết. Hai năm, đó là cái thời hạn phải có đối với chúng ta, để cho nhau biết, dù chỉ thoáng nhìn, nhưng không sao lầm lẫn được, y thể theo bản năng, những cái xấu xí mà khuôn mặt phải gánh chịu, ngay cả lúc ta gặp được thời vận tuyệt vời.
Ban đầu thì hơi chững lại một lát, nhưng rồi cũng đành chấp nhận những đổi thay với một sự lạc điệu ngày càng tăng, ngày càng ghê tởm trên khắp khuôn mặt. Cũng phải khá khen cho bức tranh châm biếm công phu và từ tốn ấy đã được khắc họa bằng cái thời gian chỉ có hai năm trời. Chấp nhận thời gian, đó là bức tranh của chúng ta. Vậy thì có thể nói là (cũng như cầm tờ bạc nước ngoài, mới thoạt nhìn, ai mà chẳng hơi do dự), chúng ta hoàn toàn nhận ra rằng chúng ta không lầm đường, rằng chúng ta đang đi đúng con đường của mình, dẫu chẳng có bàn bạc gì với nhau, con đường không thế bỏ qua trong hai năm tới, con đường của sự thoái hóa mục rỗng. Và tất cả là đó.
Khi Musyne tình cờ gặp tôi như vậy, trước cái cao ngạo mà tôi làm cho em phát khiếp, em hình như muốn trốn biệt khỏi tôi, né tránh tôi, quay ngoắt ngay đi, bất kể ra sao... Tôi cảm thấy ở em có chiều hướng xấu, cái đó là tất nhiên, cả một quá khứ cơ mà, nhưng tôi lại biết rõ được tuổi tác của em, dù đã quá nhiều năm em cố công che giấu, em hoàn toàn không thể buột ra khỏi tay tôi được lâu. Em đứng đó trước mặt tôi, với vẻ gượng gạo như đứng trước một con quỷ. Em vốn khá tế nhị, và lúc này có lẽ đang cố tự kiềm chế để khỏi phải tuôn ra với tôi những câu hỏi cục mịch, ngu xuẩn như đối với một kẻ phạm lỗi bị bắt quả tang. Đàn bà mang cái chất bẩm sinh là gia nhân đầy tớ. Nhưng Musyne có lẽ mới chỉ hình dung được cái đó hơn là cảm nhận được nó; đấy cũng là một thứ an ủi trong tôi. Có lẽ tôi nên gợi cho em thấy rằng tôi chỉ là một kẻ nhơ nhớp. Tôi có thể là một nghệ sĩ thuộc vào loại đó. Rút cục thì người ta cũng phải tự hỏi xem tại sao nghệ thuật lại không dành cho cái xấu mà chỉ dành cho cái đẹp thôi? Đấy cũng là một thứ phải vun trồng chứ, tất cả là thế đó.
Từ lâu tôi cứ tưởng cô em Musyne ngây dại, nhưng đó chỉ là suy nghĩ của một kẻ kiêu ngạo muốn yêu mà chẳng được yêu. Bạn có biết không, hồi trước chiến tranh, người ta còn dốt nát hơn, hợm mình hơn bây giờ nhiều. Người ta, nói chung, hầu như chẳng biết quái gì về mọi sự trên đời, tóm lại, chỉ là những người không có ý thức. Những thằng oắt vào loại tôi, không như bây giờ đâu, khi ấy còn dễ trông gà hóa cuốc, nhìn cái bong bóng mà cứ bảo là ngọn đèn. Yêu mê mệt em Musyne xinh đẹp, tôi cứ ngỡ rằng mình sắp được nàng phú cho đủ mọi sức mạnh, trước hết và trên hết là cái dũng cảm mà mình vốn thiếu, tất cả chỉ vì cô bạn nhỏ của tôi có sắc đẹp lại có tài âm nhạc! Ái tình giống như rượu mạnh, càng say khướt và bất lực lại càng tưởng rằng mình khỏe khoắn, tinh khôn và chắc mẩm vào quyền hành của mình.
Mụ Herote, bà chị họ của vô khối anh hùng quá cố chỉ ló ra khỏi con hẻm của mụ khi có đám tang lớn; hơn nữa, mụ cũng hiếm khi ra phố, vì lão nhân viên phát mại bạn tình của mụ thường tỏ ra con người cả ghen. Chúng tôi tụ họp với nhau trong phòng ăn ở phía sau cửa hàng, mà nhờ ở sự phồn vinh đã thực sự mang dáng dấp một phòng khách. Bọn tôi đến đây tán gẫu, giải buồn, một cách tử tế, đứng đắn dưới ánh lửa ga. Em Musyne chơi dương cầm, khiến chúng tôi mê say các bản nhạc cổ điển, chỉ có cổ điển thôi, cho nó thích hợp với thời buổi đang lắm đau buồn. Chiều chiều, cùng kề vai nhau, với lão nhân viên ngồi giữa, chúng tôi an ủi nhau, làm dịu bớt cho nhau những nỗi sợ, những điều thầm kín và những niềm hy vọng.
Chị đầy tớ của mụ Herote mới vào làm, thường hay dòm ngó theo dõi cặp này cặp kia đang sắp sửa lấy nhau. Vì ở quê chị, không ai quan niệm được cái món tự do kết hôn thế này. Tất cả những tay Ác-giăng-tin, những tay sĩ quan, những khách hàng hay xục xạo đó đều gây cho chị ta một nỗi lo âu gần như theo bản năng tự nhiên.
Musyne thì ngày càng luôn luôn bị đám khách người Nam Mỹ chiếm đoạt. Nhưng cũng qua đó mà tôi hiểu được ngọn nguồn những thủ đoạn và những chuyện nội bộ của mấy ngài này, những khi cố chờ cho được em yêu ở văn phòng các vị. Hơn nữa mấy gã hầu phòng của các vị lại còn nghĩ rằng tôi là một thằng ma cô. Và rồi, cuối cùng, tất cả bọn họ đều coi tôi là ma cô, kể cả Musyne nữa, cùng lúc với việc tôi cũng nghĩ tất cả những khách quen của cái cửa hiệu mụ Herote đều thế cả. Tôi chẳng biết làm thế nào. Vì sớm hay muộn thì người ta cũng xếp anh vào hạng người đó thôi.
Tôi được các nhà chức trách quân sự cho nghỉ thêm hai tháng dưỡng bệnh và người ta còn nói cả đến việc tôi sẽ được phục viên nữa. Musyne bàn với tôi và hai đứa quyết định đưa nhau ra ở tại Billancourt [40*]. Thật ra thì đây cũng là một cái mẹo của em, lợi dụng việc chúng tôi ở xa nội thành để em có cớ mà về nhà thưa hơn. Luôn luôn em tìm được cớ này cớ khác để ở lại Paris.
Những đêm Billancourt thật êm đềm, đôi lúc xáo động bởi những cuộc báo động trò trẻ về máy bay và khí cầu của địch, nhờ đó mà dân thành thị tìm được cách để chứng minh cho những cái rùng mình của mình. Trong lúc chờ đợi người tình, tôi đi dạo khi bóng đêm đã buông xuống, đến tận cầu Grenelle [41*], bóng tối từ dưới sông hắt lên tận thành xe điện ngầm, với những chùm đèn giăng giăng giữa đêm đen, với khối sắt cũ to tướng ầm ầm như sấm động đang len lỏi vào giữa những dẫy nhà cao tầng ở bến Passy.
Trong các thành phố thường có những góc phố xấu xí một cách ngớ ngẩn như vậy, khiến cho ta có lọt vào đó thì luôn luôn cứ thấy mình đơn độc.
Rồi thì Musyne chỉ về cái thứ mái ấm đó của chúng tôi mỗi tuần có một lần. Em càng thường xuyên đi đệm đàn cho các nữ ca sĩ ở các nhà hàng của đám Ác-giăng-tin. Em có thế chơi đàn và kiếm sống được ở các rạp chiếu bóng, là nơi mà tôi có lẽ dễ tìm đến đón em, nhưng đám Ác-giăng-tin vui nhộn hơn và trả cao hơn, trong khi các rạp chiếu bóng thì buồn tẻ và trả ít. Những sự so đo ấy là cả cuộc đời đấy.
Cái Nhà hát quân đội[42*] bất thần ra đời càng làm đầy thêm nỗi bất hạnh của tôi. Tức thì Musyne tạo ra hàng trăm mối quan hệ quân sự với Bộ Chiến tranh và lại càng thường xuyên hơn ra mặt trận giải khuây cho các chú lính của chúng ta, lắm khi cả tuần liền. Em biểu diễn đến từng chi tiết các bản sonate và adagio trước các bồn hoa của bộ Tham mưu, và được xếp chỗ ngồi rất khéo để có thể ngắm cặp giò của em. Lính tráng ngồi các bậc phía sau các thủ trưởng và chỉ được thừa hưởng những dư âm mê ly của các thủ trưởng. Sau đó, em không tránh khỏi những đêm rất ư phức tạp trong các khách sạn của khu vực các quân đoàn. Một hôm em từ các quân đoàn về với tôi rất nhí nhảnh vui nhộn, đem theo một tấm bằng phong anh hùng, do một trong các vị tướng lớn của chúng ta ký tên, thưa bạn. Tấm bằng đó là nguồn gốc quyết định sự thành đạt của em.
Đối với cái cộng đồng Ác-giăng-tin nọ thì em lại biết làm cho chuyện này thành một chuyện cực kỳ bình dân. Họ ăn mừng với em. Họ mê mệt vì cô em Musyne của tôi, cô chiến sĩ nghệ sĩ vĩ cầm xinh đẹp! Tươi mát, phòng the còn khép kín mà thêm vào đó lại còn là anh hùng nữa chứ! Những anh chàng Ác-giăng-tin đó mang ơn cái xứ sở đang nuôi dưỡng mình, họ hiến dâng cho các thủ trưởng lớn của chúng ta một trong những tuyệt phẩm của họ, không chỉ gọn lỏn trong một cái túi dết thôi đâu, và khi em Musyne của tôi trở về với họ, cầm trong tay tấm bằng thực hẳn hoi, với nét mặt trẻ thơ xinh xắn, những ngón tay nhỏ nhắn nhanh nhẹn và đáng tự hào, thì bọn họ anh nào cũng đua nhau mà tỏ lòng yêu mến em, cứ như trong một cuộc bán đấu giá không bằng!
Cái thứ thơ phú ca ngợi anh hùng thường chi phối mà không hề bị chống cự, những kẻ không hề phải ra trận và nhất là những kẻ đang làm giầu kinh khủng bằng chiến tranh. Đó là chuyện hợp lệ thôi mà.
Chà! cái thứ chủ nghĩa anh hùng tinh quái ấy, tôi xin nói với bạn là nó đang suy yếu dần. Các lão chủ tầu buôn ở Rio [43*] trao tên tuổi và hoạt động của họ cho cô em xinh đẹp, và phải công nhận em là người đã khéo léo nữ hóa cái sự kiên cường và thiện chiến của nước Pháp để làm công cụ cho họ. Lại phải thừa nhận rằng, Musyne đã biết cách tạo ra một lô nho nhỏ những chuyện rất có duyên về những việc xảy ra trong chiến tranh và, giống như một chiếc mũ nghịch ngợm của nhà ảo thuật, nó đang làm cho em trở thành tuyệt diệu. Ngay cả tôi cũng thường phải ngạc nhiên về sự khéo xử của em và, nếu có thể tin vào đó, thì tôi xin thú thực rằng, mình chỉ là một kẻ vờ vĩnh thô thiển chuyện phịa chuyện bên cạnh em. Em có được cái biệt tài đặt những khám phá của mình vào một chốn xa xăm nào đó, nơi mà tất cả đều trở nên và mãi mãi là của quý hiếm và thấm sâu lòng người. Chúng ta cứ khăng khăng mình là những chiến sĩ, nhưng kỳ thật, như tôi bỗng nhận ra, đó chỉ là những chuyện tào lao thô thiển nhất thời và hoàn toàn chính xác là thế. Người đẹp của tôi lao động trong cái vĩnh hằng. Ta phải tin ở Claude Lorrain [44*], rằng trên một bức tranh, những lớp cận cảnh luôn luôn gây những cảm giác chán ghét và nghệ thuật đòi hỏi người ta đặt cái quan trọng của tác phẩm vào những chốn xa xăm, không thể nắm bắt được, đó là nơi ẩn náu của những ảo ảnh hư cấu, cái giấc mơ bị thộp quả tang ấy, và cũng là tình yêu duy nhất của cánh đàn ông. Đàn bà họ biết để tâm đến cái bản chất khốn khổ của chúng ta và dễ dàng trở thành cô em yêu quý, thành niềm hy vọng cần thiết và tối cao của chúng ta. Ta chờ đợi ở bên nàng, để nàng giữ gìn cho ta cái lẽ sống lếu láo, nhưng trong lúc chờ đợi thì nàng có thể dựa vào cái chức năng thần diệu ấy mà kiếm sống một cách hậu hĩ. Musyne, theo bản năng, tất cũng không xem nhẹ cái đó đâu.
Người ta thấy những gã Ác-giăng-tin ở bên cửa ô Ternes, nhất là ở ven rừng Boulogne, tại một nhà hàng tư nhân nho nhỏ, rất kín đáo, choáng lộn, trong những ngày đông giá lạnh này mà lọt vào đấy thì anh sẽ thấy tỏa ra một không khí ấm áp dễ chịu và muốn sao thì sao đầu óc anh cũng bỗng lạc quan hẳn lên.
Trong nỗi thất vọng chập chờn, tôi lại còn khổ thêm nữa là cứ làm những điều hớ hênh, như tôi đã kể, là càng thường xuyên hơn đến chờ em ở nơi làm. Tôi kiên nhẫn chờ, đôi khi đến tận sáng, buồn ngủ rũ ra nhưng cơn ghen đã giữ cho tôi tỉnh táo, lại thêm cái món vang trắng mà đám gia nhân cho tôi uống rất hào phóng. Bọn chủ Ác-giăng-tin thì tôi rất hiếm khi gặp mà chỉ nghe thấy ồn ĩ những bài hát và cái thứ tiếng Tây Ban Nha của họ, và cả tiếng đàn dương cầm không lúc nào ngưng nghỉ, nhưng rất thường là do những bàn tay nào khác chơi chứ không phải Musyne. Vậy thì trong thời gian đó, cô gái ấy làm gì với đôi bàn tay của mình?
Khi chúng tôi gặp nhau vào lúc trời sáng ở ngoài cửa, vừa thấy tôi là em nhăn mặt lại. Vào thời ấy, tôi vẫn còn giữ được cái bản chất tự nhiên như một con vật, không muốn buông thả người đẹp của mình, như con vật không chịu buông thả khúc xương, thế thôi.
Ta đánh mất phần lớn nhất cái tuổi thanh xuân của mình vì những chuyện vụng về. Thật rõ ràng là người tôi yêu quý đang sắp từ bỏ tôi hoàn toàn và chóng vánh. Thì ra tôi vẫn còn chưa hiểu được rằng có hai thứ nhân văn rất khác nhau, nhân văn của người giầu và nhân văn của người nghèo. Cũng như biết bao chàng trai khác, tôi đã phải trải qua hai mươi năm tồn tại và chiến tranh, để biết bám víu vào cái hạng người của mình, biết hỏi xem giá của những vật và người, trước khi sờ vào và trên hết là trước khi cầm lấy.
Được sưởi ấm ở nơi em làm, nhờ các tay gia nhân vừa đánh bạn, tôi không thể hiểu được trên đầu tôi các vị thần của nhà hàng Ác-giăng-tin này, là người Đức, người Pháp hay người Tàu, cái đó không quan trọng, mà chỉ cần biết đó là những vị Thần, những kẻ giầu có. Những kẻ đó ở trên kia với Musyne, còn tôi ở dưới này, chẳng với ai cả. Musyne nghĩ nghiêm chỉnh đến tương lai của em nên em chọn thực hiện việc ấy với một vị Thần. Tôi dĩ nhiên cũng nghĩ đến tương lai của mình, nhưng trong một thứ hoang tưởng, bởi vì lúc nào cũng âm thầm sợ bị giết trong chiến tranh cũng như lo chết đói trong hòa bình. Tôi là kẻ bị treo cái án tử hình và cái án yêu đương. Cái đó không chỉ là ác mộng đâu. Không xa chỗ chúng tôi lắm, chỉ dưới một trăm cây số, hàng triệu hàng triệu người, dũng cảm, được vũ trang tốt, được huấn luyện tốt, đang chờ đợi tôi làm công việc của mình và những người dân Pháp cũng đang chờ tôi đem mạng sống ra mà chấm dứt chiến tranh, trừ phi tôi muốn bỏ mặc cho những kẻ ở phía bên kia băm vằm nước Pháp máu me tơi tả ra từng mảnh.
Trên thế gian này, đối với kẻ nghèo, có hai phương cách lớn để mà chết, hoặc bởi sự thờ ơ tuyệt đối của đồng loại trong thời bình, hoặc bởi sự đam mê giết chóc cũng của những đồng loại ấy khi chiến tranh xẩy đến. Nếu như họ có hạ cố nghĩ đến anh, chẳng qua là từ sự hành hạ anh mà họ nghĩ ngay đến những người khác, và chỉ có thế thôi. Bọn đểu giả ấy chỉ quan tâm đến người ta máu me đầy mình thôi. Về mặt này, Princhard quả là có lý. Trong cái cảnh lò mổ xảy ra đến nơi kia rồi, người ta chẳng còn bao nhiêu công sức mà suy tính đến những gì thuộc tương lai của mình, hầu như chỉ còn nghĩ đến yêu đương trong những ngày còn lại, bởi đó là biện pháp duy nhất để quên lãng một chút cái thân xác của mình đang ngày một ngày hai bị đem đi lột da từ đầu đến chân.
Giữa lúc Musyne tránh né tôi, tôi tự xem mình như một kẻ lý tưởng chủ nghĩa, đó là cách người ta tô điểm cho những bản năng nhỏ nhoi của mình bằng những từ ngữ to tát. Ngày phép của tôi đang hết. Các báo đang khua chiêng trống kêu gọi tất cả các chiến binh có khả năng đều phải tái ngũ, trước hết là những kẻ tứ cố vô thân. Về mặt chính thức thì lúc này chỉ được nghĩ đến chiến thắng.
Giống như Lola, Musyne cũng hết sức muốn tôi gấp rút quay ra mặt trận và ở lại ngoài ấy. Khi thấy tôi có vẻ chần chừ thì em xử sự thô bạo, xưa nay chưa thế bao giờ.
Tối hôm đó, cũng là một tối hãn hữu hai đứa lại đi với nhau vè Billancourt, gặp lúc lính cứu hỏa thúc còi tí toét và mọi người trong khu nhà chúng tôi đang hùa nhau xuống hầm để “chào mừng” không biết cái khinh khí cầu quỷ nào đó của địch.
Những cơn hốt hoảng vặt này, trong đó cả một khu phố mặc áo ngủ, theo sau mẩu nến, miệng lục cục lào quào giục nhau khuất dần xuống các tầng sâu để tránh một hiểm họa gần như hoàn toàn tưởng tượng, khiến ta có thế thấy được cái mức độ của mối lo phù phiếm trong nhưng sinh linh này, khi thì là những con gà mái nháo nhác sợ hãi, khi lại là những chú cừu hợm hĩnh thỏa thuê. Những sự lông bông quỷ quái như thế làm cho người kiên nhẫn nhất, bền chí nhất trong các nhà yêu mến xã hội [45*] cũng phát ngán đến chết.
Liền ngay sau tiếng kèn báo động đầu tiên Musyne quên béng rằng người ta vừa mới phát hiện rõ ràng chí khí anh hùng của em tại Nhà hát Quân đội. Em nằng nặc thúc tôi phải cùng em lao mau xuống tận đáy các đường hầm, hoặc đường xe điện ngầm, hay các đường cống ngầm, bất cứ đâu có thể trú ẩn và phải xuống đến tầng sâu cùng kiệt, trước tiên là phải xuống ngay lập tức! Cứ nhìn họ lao xuống thang như thế, ông lớn bà bé, lông bông hay oai vệ, bốn người một, chui xuống cái lỗ cứu khổ cứu nạn, thì rút cục chỉ càng làm cho tôi thờ ơ hơn. Hèn nhát hay dũng cảm, chẳng có gì là ghê gớm. Cùng một người ấy, nhưng ở đây là thỏ đế, ở kia là anh hùng, với anh ta ở đây hay ở đằng kia có gì khác nhau đâu. Tất cả mọi cái không mang lại tiền bạc, anh ta đều dứt khoát và vĩnh viễn bỏ qua. Sống chết, anh ta đều không cần biết. Ngay đến cái chết của bản thân, anh ta cũng không suy nghĩ được đúng sai nữa cơ mà.
Anh ta chỉ cần biết có tiền bạc và du hý thôi.
Musyne khóc lóc trước sự chống đối của tôi. Những người hàng xóm giục giã chúng tôi chạy theo họ, cuối cùng thì tôi cũng đành phải chiều theo. Xuống lọt dưới tầng hầm rồi thì lại mỗi người mỗi ý. Cái hầm của lão hàng thịt được đa số tán thành, người ta cho rằng nó nằm sâu nhất trong mọi căn hầm ở khu nhà này. Nhưng vừa đến ngưỡng cửa đã thấy xông lên cái thứ mùi nồng nặc tôi vốn là thằng đã ngửi quen mà cũng không sao chịu được.
-Em định xuống dưới ấy với những tảng thịt trên móc hay sao? tôi hỏi em.
-Sao lại không? em trả lời tôi, với vẻ rất ngạc nhiên.
-Này em, như thế sẽ gợi lại cho anh những kỷ niệm cũ, thôi cứ để anh leo lên trên kia, tốt hơn.
-Vậy là anh đi à?
-Bao giờ hết báo động, em lên tìm anh.
-Nhưng có thể báo động lâu đấy...
-Anh thích chờ em ở trên kia. Anh không chịu được mùi thịt sống, mà cũng sắp báo yên rồi.
Đã yên ổn đâu đấy trong hầm, các ông bà hàng xóm của tôi mới rúc rích chào hỏi nhau. Mấy bà xuống sau, chỉ kịp khoác lên người cái áo choàng, khép nép một cách lịch sự và ý tứ đến gần cái vòm nặng mùi mà ông bà hàng thịt đã có nhã ý đón chào và xin cáo lỗi về cái khí lạnh nhân tạo dùng để bảo quản món hàng của họ.
Musyne biến luôn cùng những kẻ khác. Tôi đã chờ em ở trên nhà cả một đêm, suốt một ngày, một năm... Em chẳng còn bao giờ trở lại tìm tôi nữa.
Từ đó, về phần mình, tôi trỏ nên ngày càng khó yên thân và chỉ còn có hai ý nghĩ trong đầu: giữ lấy mạng sống và đi Mỹ. Nhưng thoát được khỏi chiến tranh là việc đầu tiên và việc đó tháng này qua tháng khác lắm lúc làm cho tôi đến đứt hơi.
“Đại bác nào! binh lính nào! đạn được nào!”, các nhà yêu nước hò ra rả không còn biết mỏi mồm nữa. Hình như người ta không còn chợp mắt đi được chừng nào cái nước Bỉ khốn khổ và cái vùng Alsace nhỏ bé thơ ngây chưa thoát được ra khỏi cái ách Nhật nhĩ man [46*]. Người ta khẳng định với chúng tôi rằng, đấy là nỗi ám ảnh làm trở ngại việc hít thở, ăn uống và đi lại với đàn bà của những người con ưu tú nhất của chúng ta. Nhưng hình như chẳng có vẻ gì là cái đó làm trở ngại việc họ kiếm chác ởnhững người sống sót. Tinh thần ở hậu phương có thể nói là vẫn tốt mà.
Phải cấp tốc khôi phục các trung đoàn của chúng ta. Nhưng ngay sau buổi khám đầu tiên, người ta thấy sức khỏe của tôi còn thấp xa dưới trung bình, song lại vừa đủ tốt để chuyển sang một nhà thương khác, nơi chuyên chữa bệnh về xương và thần kinh. Một buổi sáng, sáu đứa chúng tôi từ phân đội lưu quân ra đi, ba thằng pháo binh và ba thằng kỵ binh, đứa thương binh, đứa bệnh binh kéo nhau đi tìm cái nơi cứu chữa sự dũng cảm đã đánh xổng mất, những phản xạ đã bị phế bỏ và những cánh tay đã gãy. Cũng như tất cả các thương binh hồi đó, trước tiên là phải đến kiểm tra ở Val-de-Grâce [47*], ngôi thành xệ bụng, ra dáng quý tộc lắm, chỗ nào cũng rậm rạp cây cối, lại sặc mùi xe thổ mộ [48*] chạy trên các hành lang, cái mùi mà ngày nay và hẳn mãi mãi không còn, thêm vào đó đủ thứ mùi hổ lốn chân người, mùi rơm rạ và mùi đèn dầu. Chúng tôi chẳng phải ở đó lâu la gì, vừa hỏi han chúng tôi được ít câu, hai tay sĩ quan quản lý nhà thương, do quá bù đầu và quá sức, đã sạt chúng tôi ra trò, dọa đưa chúng tôi ra Hội đồng và đùn đẩy chúng tôi về các cơ quan hành chính đường phố. Họ bảo là không còn chỗ cho chúng tôi và trỏ cho chúng tôi đến một nơi bâng quơ: một cái pháo đài ở đâu đó trong các vùng xung quanh thành phố.
Từ các quán nhậu đến các pháo đài, từ những ly rượu đến những tách cà phê sữa, thế là sáu đứa chúng tôi kéo nhau đi theo những phương hướng mù mịt để tìm hú họa cái nơi ẩn náu mới hình như chuyên trị những loại anh hùng bất lực như lũ chúng tôi.
Chỉ có mỗi một đứa trong bọn chúng tôi là có được món tài sản thô lậu, chứa tất cả vào nhõn một cái hộp bích quy Pernot, hãng bánh quy nổi tiếng thời ấy mà nay tôi không còn nghe thấy nói đến nữa. Trong cái hộp kẽm nhỏ ấy, cậu bạn tôi giấu mấy điếu thuốc, một cái bàn chải răng, anh em phát phì cười cả với nhau về sự kỹ tính khác người của cậu ta, đến cơ sự này mà vẫn còn săn sóc hàm răng, và cũng vì cái sự cầu kỳ khác thường ấy mà chúng tôi coi cậu ta là một thằng “đồng tính”.
Cuối cùng, thì vào khoảng nửa đêm, sau nhiều lần do dự, chúng tôi cũng đến được bên những ụ đất tối om của cái pháo đài Bicêtre [49*], gọi là pháo đài “43”. Thế là hay rồi.
Người ta mới tân trang cái pháo đài này để đón nhận những người què cụt và người già. Ngay cái vườn vẫn còn chưa làm xong.
Lúc chúng tôi đến thì trong cái khu dành cho quân nhân mới chỉ có chị thường trực là cư dân độc nhất. Trời mưa mau. Chị ta sợ hãi khi nghe thấy chúng tôi, nhưng chúng tôi đã làm cho chị ta phì cười bằng cách đặt tay vào đúng chỗ. Chị ta nói:
-Tôi cứ ngỡ là bọn Đức!
-Chúng nó đi xa rồi! Chúng tôi trả lời.
-Thế các anh bị bệnh ở đâu?
- Khắp người, nhưng không ở con cu! Một cậu pháo binh trả lời.
Chà, có thể nói đó là ý thực đấy, mà chị thường trực nghe vậy cũng thích. Cùng trong pháo đài này, đến sau chúng tôi có các ông già bà già do cứu tế xã hội chuyển đến. Người ta cấp tốc xây dựng những ngôi nhà mới với hàng cây số cửa kính để giữ các cụ trong ấy như con sâu con bọ, cho đến khi nào hết chiến sự. Trên những mô đất xung quanh, chia thành nhiều thửa hẹp, đất bùn nhão nhoét chen giữa những túp lều tạm bợ. Núp dưới những túp lều này, thỉnh thoảng mọc lên một cây tỏi và ba cây cải củ, cũng chẳng biết được tại sao, chỉ béo mấy chú sên bẩn thỉu được vinh hạnh làm chủ.
Cái nhà thương của chúng tôi sạch sẽ, trong mấy tuần lễ đầu tiên này phải liệu mà đi xem mau mau mọi thứ, bởi vì rồi ra sẽ chẳng có ai biết trông nom gìn giữ, về mặt này thì toàn là quân thật sự bẩn thỉu như nhau cả thôi. Bọn tôi lớ ngớ thế nào lại được nằm trên giường sắt và dưới ánh trăng, vì khu nhà này còn quá mới nên điện chưa đến được.
Sáng dậy, vị y sĩ trưởng mới của chúng tôi đến làm quen, có vẻ như rất bằng lòng được thấy chúng tôi, bề ngoài thấy hòa nhã lắm. Ông ta có lý do để mà sung sướng, vừa được thăng lên bốn lon mà. Con người ấy lại còn được trời phú cho cặp mắt đẹp nhất trần đời, mượt như nhung, siêu tự nhiên nữa, hẳn ông ta dùng nó vào việc làm rung động bốn cô y tá tình nguyện không lương bám quanh ông ta với những điệu bộ ân cần chẳng bỏ sót tí gì. Ngay sau buổi tiếp xúc đầu tiên, ông ta đã nắm được tâm trạng chúng tôi như dự kiến. Không chút khách sáo, ông ta thân mật nắm vai một cậu trong bọn tôi, lay đi lay lại như thể cha con, ông ta phác cho chúng tôi biết các quy cách và con đường ngắn nhất dẫn chúng tôi một cách vui vẻ và chóng vánh đến chỗ lại được dần cho một trận nữa.
Dù cho họ có từ đâu đến thì rõ ràng là họ đều chỉ nghĩ đến chuyện đó thôi. Người ta có thể nói rằng như thế là họ làm việc thiện. Đó là một tật xấu mới. Ông ta cất giọng hót: “Các bạn ơi, nước Pháp đã đặt niềm tin vào các bạn, nước Pháp là một phụ nữ, một phụ nữ đẹp nhất trần đời! Nước Pháp trông cậy vào chí khí anh hùng của các bạn! Là nạn nhân của một cuộc xâm lược hèn hạ nhất, bỉ ổi nhất, nước Pháp có quyền đòi hỏi những người con của mình rửa mối thù sâu này! Phải khôi phục lại lãnh thổ toàn vẹn của nước Pháp, dù có phải trả giá bằng sự hy sinh cao nhất? Về phần mình, chúng tôi ở đây sẽ làm tất cả mọi việc phải làm, đó là nghĩa vụ của chúng tôi; các bạn ơi, các bạn hãy làm nghĩa vụ của các bạn! Khoa học của chúng tôi là thuộc về các bạn! Nó là của các bạn! Tất cả mọi của cải phương tiện ở đây chỉ để phục vụ việc cứu chữa các bạn. Đến lượt các bạn hãy trợ giúp chúng tôi bằng thiện chí của các bạn! Tôi biết rằng sẽ nhận được thiện chí đó của các bạn! Và chẳng mấy chốc các bạn sẽ có thể trở về vị trí của mình bên cạnh đồng đội trong các chiến hào! Vị trí thiêng liêng của các bạn! Để bảo vệ mảnh đất thân yêu của chúng ta! Nước Pháp muôn năm! Tiến lên!” Ông ta biết ăn nói với lính đấy chứ.
Chúng tôi mỗi đứa đứng ở chân giường, trong tư thế lập nghiêm, nghe ông ta. Một cô tóc hung trong nhóm các cô y tá xinh đẹp đứng sau ông ta, không nén được nỗi xúc động đến tắc thở, khiến cho mấy giọt lệ đã phải tuôn trào. Một cô vội an ủi: “Em thân yêu ơi, chị đảm bảo với em rằng... Cậu ấy sẽ trở về thôi mà...” Đó là cô chị họ, tóc hoe vàng hơi đậm người, ra sức an ủi cô ta. Khi dìu cô em họ đi qua chúng tôi, cái cô đậm người ấy cho tôi biết là cô em xinh đẹp xỉu đi vì người yêu bị động viên vào hải quân mới ra đi đây thôi. Bị chưng hửng, ông thầy hăng say đó cố làm nhẹ bớt cơn xúc động đẹp đẽ và bi thảm do bài diễn văn ngắn và rung cảm của ông ta. Ông rất bối rối và phiền lòng trước cô ta. Khơi dậy một nỗi lo lắng đau buồn trong một trái tim ưu tú, chắc chắn là thống thiết, hoàn toàn nhậy cảm và dịu dàng. Cô chị họ tóc vàng vẫn còn thì thầm: “Thưa thầy! Biết thế này thì chúng em đã thưa trước với thầy... Nếu thầy biết được hai đứa yêu nhau thắm thiết thế nào!...” Nhóm nữ y tá và cả ông thầy vừa nói với nhau vừa biến dần trên hành lang. Họ chẳng còn quan tâm đến chúng tôi nữa.
Tôi cố nhớ lại và cố hiểu xem ý nghĩa của bài diễn văn vừa rồi của ông ta, người có đôi mắt sáng ngời ấy. Nhưng với tôi, những lời lẽ được chuẩn bị kỹ càng của ông ta còn xa mới có thể làm cho tôi buồn, mà trái lại, càng nghĩ tôi càng thêm kinh tởm cái việc phải chết. Đấy cũng là ý kiến của các bạn tôi, tuy có hơi khác ở chỗ họ không thấy sự thách thức và nhục mạ trong đó. Các cậu ấy chẳng cần tìm hiểu làm gì mọi việc xẩy ra trong cuộc sống xung quanh mình, mà chỉ nhận thức được, cũng mới đây thôi, rằng từ mấy tháng nay sự cuồng nhiệt của người đời xem ra ngày càng tăng mạnh, và trong tình hình như vậy thì rõ ràng là không còn có thể đặt sự sống của mình lên những cái chẳng có gì là vững chắc cả.
Ở nhà thương này cũng hoàn toàn giống như trong cái đêm ở vùng cánh đồng Flandres, cái chết cũng vẫn cứ quấy rầy chúng tôi, nó đã thành định mệnh giống như ở đằng kia, thật thế, chỉ có điều là ở đây, cái chết lao vào thân hình run rẩy của anh qua bàn tay chăm sóc của ban quản trị.
Ở đây, người ta không rầy la chúng tôi, tất nhiên, người ta còn nói năng với chúng tôi dịu dàng, luôn luôn chỉ nói đến những chuyện ngoài cái chết, tuy nhiên bản án của chúng tôi vẫn thể hiện rất rõ trên từng góc giấy tờ mà họ yêu cầu chúng tôi ký tên vào, ở mỗi sự thận trọng của họ đối với chúng tôi: Huân chương... Vòng tay... Nghỉ phép... Bất kỳ một lời khuyên nào... Chúng tôi cảm thấy mình đang bị tính đến, rình rập, đánh số trong cái dự trữ lớn những kẻ phải ra đi nay mai. Vậy là không thể khác được, nếu đem so sánh thì tất cả đám thường dân và nhân viên y tế quanh đây đều có vẻ nhẹ nhõm hơn chúng tôi. Các cô y tá, những cô gái ấy, không phải chia sẻ số phận với chung tôi, các cô, trái lại, chỉ nghĩ đến việc sống lâu, thật lâu hơn và sống để yêu, cái đó rõ rồi, để dạo chơi và để nghìn vạn lần làm tình rồi lại làm tình. Mỗi ả thiên thần ấy vẫn còn giấu dưới đũng quần của họ một đồ án nhỏ về đường tình ái của các cô, như những tên tù khổ sai [50*], để chờ cho đến sau này, khi chúng tôi đã mục xương dưới một đống bùn đâu đó, có Trời biết!
Đến lúc ấy, các cô sẽ có thể dành cho anh những cái thở dài thương cảm đặc biệt thống thiết, và cũng làm cho các cô càng hấp dẫn hơn. Các cô có thể gợi ra những phút thầm lặng đầy xúc động, những thời khắc bi thảm của chiến tranh... “Các bạn nhớ chăng đến anh chàng Bardamu nhỏ thó, - các cô sẽ nói vào lúc hoàng hôn xuống khi nhớ đến tôi, - người mà chúng ta đã phải ra sức kìm giữ qua những cơn ho... Tinh thần anh ta không được tốt lắm, anh chàng khốn khổ... Giờ đây anh ta đã ra sao nhỉ?...”
Mấy lời thương tiếc nên thơ và đúng lúc ấy thật là phù hợp với người phụ nữ cũng như mấy sợi tóc mây phơ phất dưới ánh trăng.
Núp sau những lời lẽ và những sự ân cần của họ, ngay bây giờ ta phải hiểu ra thế này: “Anh chàng quân nhân ngoan ngoãn kia ơi, anh đang sắp chết đấy... Anh sắp chết rồi đấy... Chiến tranh là thế mà... Mỗi người có cuộc sống của mình... Vai trò của mình... Cái chết của mình... Chúng tôi có thể chia sẻ nỗi tuyệt vọng với anh... Nhưng chẳng ai chia sẻ cái chết của ai cả... Mọi người phải giữ cho thật khỏe cả thể xác lẫn linh hồn, phải liệu cách mà tiêu khiển, không hơn không kém, và chúng tôi là những cô gái trẻ, chắc nịch, xinh đẹp, được quý mến, lành mạnh, có giáo dục... Đối với chúng tôi, chẳng có gì phải suy nghĩ, cứ kệ đấy, mọi cái sẽ theo luật sinh học tất yếu trở thành một vở kịch vui vẻ, biến thành một niềm vui. Như thế đòi hỏi chúng tôi phải có sức khỏe! Và chúng tôi không thể chấp nhận những chuyện buồn không đáng có... Đối với chúng tôi phải là những gì kích thích, chỉ những cái kích thích thôi... Các anh sẽ sớm bị rơi vào quên lãng, các anh lính bé nhỏ ơi... Hãy ngoan ngoãn đi, chết cho mau đi... Và chiến tranh hãy chấm dứt để người ta còn có thế kiếm một tấm chồng trong số những sĩ quan đáng yêu của các anh chứ... Tốt nhất là được một chàng tóc hung!... Tổ quốc muôn năm! như bố vẫn thường hô... Tình yêu phải đẹp, khi anh ấy từ chiến trường trở về!... Người chồng bé bỏng của tôi sẽ được gắn huân chương!... Anh ấy sẽ được vị nể... Anh lính bé nhỏ ơi, đến lúc ấy mà còn sống, thì anh sẽ có thể đến đánh giầy cho anh ấy vào hôm chúng tôi làm lễ cưới đấy... Liệu lúc đó anh có chia vui với hạnh phúc của chúng tôi không, anh lính bé nhỏ?...”
Mỗi sáng, chúng tôi lại thấy ông ta, thấy ông y sĩ trưởng, có các cô y tá theo sau. Chúng tôi được biết đó là một nhà bác học. Xung quanh những gian phòng dành cho chúng tôi, mấy ông già từ bên nhà dưỡng lão mò sang bước thấp bước cao và chẳng được tích sự gì, la cà hết phòng này qua phòng khác để phun ra những chuyện đặt điều, xoi mói, những chuyện bới xấu nhau đã lỗi thời. Nơi đây, bị vây hãm trong cảnh khốn cùng như ngập sâu dưới đống bùn nhão nhoét, những người lao động già nua ấy gặm dần cái lớp cứt gà sáp bám quanh những linh hồn mòn mỏi sau những năm dài tủi nhục. Những mối hận không bao giờ trả nổi cằn cỗi đi trong sự nhàn cư đến vãi đái ở các căn phòng công cộng. Họ chỉ còn sử dụng được cái sức tàn lực tận để mà tự mình hủy hoại và tàn phá dần tí một cái gọi là thú vui trong hơi thở phều phào.
Thú vui tuyệt đỉnh! Trong cái thân hình khô đét của họ, không còn lấy một phân tử nào mà không mang tính ác...
Ngay sau khi nghe nói mấy thằng lính chúng tôi san sẻ những thứ tiện nghi tương đối trong pháo đài, là mấy ông già đó tỏ ra khó chịu cái sự đồng tâm ấy của chúng tôi, tuy vậy họ vẫn không phải là không kéo nhau theo bám riết chúng tôi để xin những mẩu thuốc thừa hoặc những mẩu bánh rơi vãi dưới gầm ghế. Những khuôn mặt khô khốc nhăn nheo dí sát mũi vào mấy ô cửa kính nhà ăn những lúc chúng tôi ăn ở bên trong. Giữa những nếp nhăn trên hai cánh mũi, mấy cặp mắt đầy dử nhớn nhác ngó quanh như những con chuột đói thèm ăn. Trong số những người tàn phế ấy có một lão già có vẻ xạo hơn, ranh ma hơn, lão dọn giọng hát những bài hát nho nhỏ thời xưa của lão để chúng tôi khuây khỏa. Người ta gọi lão là bố già Birouette [51*]. Lão sẵn sàng làm mọi trò theo yêu cầu, miễn là thưởng cho lão thuốc lá; sẵn sàng làm mọi việc, trừ cái việc đi sang nhà xác của pháo đài này, chắc cũng không mấy lúc để không. Một trong những trò người ta thường bầy ra để trêu lão, là dắt lão đi, giả vờ là đi dạo, nhưng lại dẫn sang phía nhà xác, tới gần cửa mới hỏi: “Bố già vào đây chứ?” Thế là lão càu nhàu ù té bỏ đi thật mau, thật xa, hai ba ngày sau cũng chẳng ai thấy mặt lão Birouette. Lão đã thoáng nhìn thấy cái chết mà.
Y sĩ trưởng có cặp mắt đẹp của chúng tôi, giáo sư Bestombes, nhằm lấy lại tinh thần cho chúng tôi, đã trang bị cả một bộ máy rất cầu kỳ toàn những đồ điện sáng loáng mà chúng tôi phải nhận lấy những luồng điện theo định kỳ, được bảo rằng đó là những liều bổ dưỡng và phải nhận lấy, trừ phi muốn bị tống cổ đi. Hình như ông ta, cái ông Bestombes ấy rất ư là giầu, có thế thì mới tậu được cả cái cỗ máy xử tử bằng điện ấy chứ. Bố vợ ông ta là một chính trị gia cỡ bự, đã kiếm bẫm trong một vụ buôn bán đất của chính phủ, nhờ vậy mà ông ta mới hào phóng được thế.
Phải tận dụng mới được. Mọi việc đâu có đó cả thôi. Tội ác và trừng phạt. Ông ta có thế đi nữa thì chúng tôi cũng chẳng oán ghét gì. Ông ta khám thần kinh cho chúng tôi một cách đặc biệt cẩn thận, hỏi han chúng tôi bằng một giọng điệu thân mật lịch sự. Cái sự hiền từ được chăm chút rất mực này làm sướng mê các cô y tá phục vụ ông ta, cô nào cũng ra dáng cả. Mỗi sáng, các cô nàng xinh đẹp ấy mong đợi khoảnh khắc được vui vẻ trước sự biểu lộ cái tử tế cao độ đó của ông ta, thật là tuyệt diệu. Tất cả chúng tôi, rút cục, cùng chơi một vở kịch, trong đó Bestombes chọn cho mình vai nhà bác học từ thiện và nhân đạo sâu sắc, đáng mến, tất cả chỉ còn là sự ăn ý với nhau thôi.
Tại nhà thương mới này, tôi nằm chung phòng với tay đội Brandelore, một tay tái đăng; tay Brandelore này là khách nhẵn mặt của nhiều nhà thương. Cậu ta đã kéo dài cái ruột thủng từ nhiều tháng nay, qua bốn nhà thương rồi.
Trong những ngày nằm ở đây, cậu ta học được cách thu hút rồi giữ được cảm tình rất có công hiệu của các cô y tá. Cậu Brandelore ấy thường hay nôn ra máu, đái và ỉa vãi ra máu, lại còn rất khó thở, nhưng tất cả những cái đó chẳng đủ để cậu ta tranh thủ được ân huệ hoàn toàn đặc biệt của các nhân viên điều trị ở đây đã từng thấy những bệnh nhân còn ghê rợn hơn cơ. Thế là, cứ giữa hai cơn khó thở mà thoáng thấy một thầy thuốc hay một y tá đi qua là cậu Brandelore lại hét toáng lên: “Chiến thắng! Chiến thắng! Chúng ta nhất định chiến thắng!” hoặc giả, tùy từng trường hợp, khi thì cậu ta chỉ thầm thì khi lại phồng cả hai lá phổi ra mà la... Như vậy là hoàn toàn thích ứng với cái văn chương cháy bỏng tính tiến công. Bằng hiệu quả của màn diễn hợp thời, cậu ta đưa cái tinh thần của mình leo lên tận tột đỉnh. Quả là con người có biệt tài.
Thì chỗ nào mà người ta chẳng đóng kịch, Brandelore cũng phải và có lý để làm việc ấy; cũng chẳng có gì là ngốc nghếch hơn và đáng cáu hơn là một khán giả trơ ì bỗng nhiên lại nhảy tót lên sân khấu. Khi đã leo lên đấy, thì anh phải biết lấy giọng, phải múa may, phải chơi và phải biết cái gì mà chọn, hoặc là biến. Đàn bà là họ chỉ ham xem kịch, và không thương nể gì những anh chàng nghiệp dư lạc lõng. Chiến tranh, không còn tranh cãi, là cửa mở cho các buồng trứng của các bà các chị và họ đòi hỏi phải là những anh hùng cơ, còn những ai không được cái vinh dự ấy thì có thế nào cứ tự phơi bầy như thế hoặc sẵn sàng chịu đựng một trong những số phận nhục nhã nhất.
Sau tám ngày sống với nhóm phục vụ mới này, chúng tôi hiểu ra sự khẩn cấp phải thay đổi cái bộ tịch lố lăng và, nhờ có Brandelore (khi còn là thường dân, cậu ta chuyên nghề chào hàng thêu ren mà), cũng vẫn những con người lúc đến đây còn bị ám ảnh bởi những ký ức xấu xa của các lò mổ, những con người sợ sệt đi tìm lại vong linh, nay biến thành một lũ láu tôm láu cá một cách đáng ghét, anh nào cũng ra bộ quyết tâm giành chiến thắng, và tôi có thể đảm bảo rằng anh nào cũng được tạo cho ra mẽ người với đủ thứ chuyện kinh khủng. Lời ăn tiếng nói thô lỗ trở thành ngôn ngữ thật sự của chúng tôi, đôi khi làm cho các bà các chị phải đỏ mặt vì những câu tục tĩu quá xá. Tuy thế, họ chẳng phàn nàn bao giờ, vì coi đó là chuyện dĩ nhiên, đã là một chiến sĩ gan dạ thì cũng thường vô tâm và lại còn thô lỗ nữa kia, mà càng thô lỗ lại càng gan dạ.
Lúc đầu còn ra sức bắt chước Brandelore, nhưng điệu bộ yêu nước của chúng tôi chưa được chỉnh, chưa có sức thuyết phục. Phải mất đến một tuần, có lẽ hai tuần tập dượt ráo riết mới luyện được thật đúng giọng điệu.
Vị thầy thuốc của chúng tôi, giáo sư thạc sĩ Bestombes, nhà bác học, ngay sau khi ghi nhận tiến bộ nổi bật về phẩm chất tinh thần của chúng tôi, ông liền quyết định khích lệ chúng tôi bằng việc cho phép đón người nhà vào thăm, bắt đầu từ bố mẹ, họ hàng.
Theo như tôi được thuật lại thì một vài cậu thật trội, tỏ ra rằng mình xung trận với một tinh thần ngây ngất thậm chí còn thích thú hăng say nữa. Về phần mình, khi cố hình dung xem cái sự thích thú hăng say ấy nó ra thế nào là tôi đã phát ớn ít ra cũng cả tuần. Tôi thấy mình không sao giết nổi lấy một người, có lẽ tốt hơn cả là từ chối phắt và kết thúc luôn chuyện đó thôi. Không phải là tôi thiếu kinh nghiệm, người ta đã từng làm đủ thứ để tạo cho tôi có cái sở thích giết người, nhưng tôi không có được cái tài ấy. Có lẽ phải nhập môn chầm chậm hơn vậy.
Một hôm tôi quyết định thông báo cho giáo sư Bestombes biết rằng tôi rất muốn trở nên can đảm để đáp ứng những đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ dĩ nhiên là cao cả, nhưng khốn nỗi tôi gặp quá nhiều khó khăn cả về thể xác lẫn tinh thần. Tôi đoán là ông sẽ coi mình là một thằng bố láo, ba hoa xấc lấc đây... Nhưng không. Trái hẳn lại! Thầy tuyên bố rằng ông hoàn toàn sung sướng thấy tôi đã thẳng thắn bộc lộ trạng thái bối rối tình cảm của mình.
“Thế là anh đang khá hơn rồi đấy, anh bạn Bardarmu! Hoàn toàn đơn giản là anh đang khá lên!” Và đây là kết luận của ông. “Cái điều tâm sự anh vừa cho tôi biết, hoàn toàn tự phát, tôi coi đó là một chỉ dẫn rất khích lệ về tiến bộ đáng kể trong tình trạng tinh thần của anh đó, Bardamu ạ... Hơn nữa, ngay từ năm 1802, Vaudesquin, nhà quan sát khiêm tốn nhưng rất sáng suốt, đã tóm tắt kết quả quan sát của ông về sự sa sút tinh thần của binh sĩ thời Đế chế, trong một báo cáo khoa học đến nay đã trở thành kinh điển, tuy rằng các sinh viên thời nay hờ hững rất không đúng; theo tôi, ông đã ghi lại rất đúng đắn và chính xác những hiện tượng gọi là “tự thú” - dấu hiệu tốt hơn cả - diễn ra ở những bệnh nhân tâm thần đang hồi phục. Gần một thế kỷ sau, Dupré vĩ đại [52*] của chúng ta, cũng từ một triệu chứng tương tự, đã lập ra được một danh mục nổi tiếng từ thời ấy, trong đó hiện tượng giống thế được thể hiện dưới tiêu đề “tập hợp kỷ niệm”[53*] mà theo tác giả thì, một khi đợt điều trị được tiến hành đúng hướng, hiện tượng ấy là tiền đề cho sự tháo chạy tán loạn hàng loạt những ý niệm ưu phiền và giải thoát vĩnh viễn cho trường ý thức của mình, tóm lại đó là một hiện tượng khác nữa trong quá trình phục hồi tâm lý. Ngoài ra Dupré còn sáng tạo một thuật ngữ khá hình ảnh mà ông là người độc quyền: “tháo tỏng suy tư về giải thoát” [54*]. Ông dùng thuật ngữ này để đặt tên cho cái hiện tượng vừa kể, thường kèm theo ở bệnh nhân một cảm giác sung mãn mãnh liệt, một sự phục hồi rất rõ ràng các hoạt động ngoại tiếp, trong đó đáng kể là sự phục hồi giấc ngủ, bệnh nhân bỗng ngủ li bì suỗt mấy ngày liền, cuối cùng đến giai đoạn bội hoạt hóa rất rõ nét các chức năng sinh dục, đến mức không hiếm những trường hợp ta thấy cũng bệnh nhân ấy trước đó còn lãnh cảm mà bây giờ lại “thèm khát tình dục đến cồn cào”. Từ đó mới có công thức: “Bệnh nhân không từ tốn đi vào sự bình phục mà nhảy xổ vào đó”. Lời lẽ mô tả như vậy thật tuyệt diệu về những thành công trong việc phục hồi sức khỏe cho người bệnh, mà Philibert Margeton, một nhà tâm thần học lớn khác của chúng ta trong thế kỷ trước, đã làm rõ đặc tính của việc phục hồi thành công thật sự những hoạt động bình thường của một bệnh nhân mắc bệnh sợ hãi... Về chuyện liên quan đến anh, Bardamu ạ, ngay từ bây giờ tôi coi anh đã là người thật sự bình phục... Bởi lẽ chúng ta đã đạt được cái kết luận đáng hài lòng ấy, liệu anh có quan tâm đến việc ngày mai, phải đúng ngày mai, tôi sẽ trình bầy trước Hội Tâm lý học quân sự một báo cáo về những phẩm chất cơ bản trong tâm linh con người?... Báo cáo khoa học ấy có chất lượng đấy, tôi tin là vậy.
-Dĩ nhiên, thưa Thầy, những vấn đề ấy làm tôi mê say...
-Vậy thì, tóm lại là anh nhớ cho rằng ở đó tôi sẽ bảo vệ luận đề: trước chiến tranh, con người đối với nhà tâm thần học còn là một kẻ vô danh khép kín và các khả năng tinh thần của anh ta còn là một ẩn số...
-Thưa thầy, đó cũng là thiển ý của tôi...
-Anh thấy đấy, Bardamu, bằng những phương tiện không gì so sánh được mà nó cho ta để thử thách các hệ thần kinh, chiến tranh đã có hiệu lực như thể một thứ thuốc hiện hình mầu nhiệm đối với tâm linh con người! Đã hàng bao nhiêu thế kỷ, chúng ta trầm tư mặc tưởng, chăm chú theo dõi những phát hiện mới về bệnh lý, nhiều thế kỷ miệt mài nghiên cứu... Ta phải thú thật rằng... Cho đến nay ta mới chỉ hoài nghi những khả năng phong phú về cảm xúc và tinh thần của con người! Nhưng bây giờ, nhờ có chiến tranh, việc ấy đã xong... Bằng một sự xâm nhập lén lút, và dĩ nhiên là đau đớn nữa, nhưng đối với khoa học, cái đó có tính quyết định và may mắn, chúng ta đã len lỏi được vào tâm tình thầm kín của họ! Ngay sau những phát hiện đầu tiên, nghĩa vụ của nhà tâm lý học và nhà đạo đức học hiện đại, theo ý tôi, Bestombes, không còn nghi ngờ gì nữa! Một sự cải cách hoàn toàn các quan niệm tâm lý học của chúng ta đã được đặt ra”.
Đó cũng đúng là ý kiến của tôi, Bardamu.
-Thưa Thầy, như vậy là, tốt hơn hết người ta nên...
-Chà! anh cũng nghĩ thế ư, Bardamu, tôi không khơi cho anh nói thế đâu nhỉ! Ở con người ta, anh thấy đấy, cái tốt và cái xấu cân bằng nhau, bên này là thói ích kỷ, bên kia là tính vị tha... Ở những người ưu tú thì vị tha nhiều hơn ích kỷ. Có đúng thế không? Có phải thế không?
-Dạ đúng thế, thưa Thầy, đúng thế đấy ạ...
-Và trong con người ưu tú, tôi muốn hỏi anh, Bardamu, cái thực thế nào cao nhất mà ta biết, có thể kích thích tính vị tha của anh ta và buộc anh ta biểu lộ một cách không ai chối cãi được cái tính vị tha đó?
-Thưa Thầy, đó là lòng yêu nước!
-Chà! Anh thấy không, không phải tôi mớm lời cho anh nhé! Anh hoàn toàn hiểu tôi... Bardamu! Lòng yêu nước và hệ quả của nó, sự vinh quang, sự minh chứng của nó, hoàn toàn đơn giản là thế.
-Vâng, đúng thế ạ!
-Chà, các chiến sĩ bé bỏng của chúng ta, anh hãy để ý mà xem, ngay từ những thử thách đầu tiên qua lửa đạn, họ đã biết chủ động thoát ra khỏi tất cả những cái mầu mè và thứ yếu. Theo bản năng, họ tức khắc hòa nhập vào cái lẽ sống chân chính của chúng ta, đó là Tổ quốc. Muốn đạt tới chân lý đó, thì trí thông minh chẳng những là thừa mà còn gò bó chúng ta đây, Bardamu ạ! Tổ quốc, đó là chân lý của con tim, như mọi chân lý thiết yếu khác, nhân dân không lầm dâu! Chỉ có nhà bác học tồi mới lạc lõng trong đó thôi...
-Thưa Thầy, cái đó thật là đẹp! Quá đẹp! Thật là cổ kính!
Ông ta, Bestombes, đưa hai tay nắm tay tôi một cách gần như trìu mến.
Với giọng thân mật như cha con, ông ta còn muốn bồi bổ thêm cho tôi: “Tôi muốn điều trị cho bệnh nhân của mình như thế đó, Bardamu ơi, bằng các luồng điện cho thể xác và tinh thần, bằng những liều thật mạnh cái luân lý yêu nước, bằng những phát thuốc bổ đạo đức thật sự!
-Thưa Thầy, tôi hiểu ý thầy ạ!
Tôi quả nhiên càng lúc càng hiểu thêm ra.
Từ biệt ông ta, tôi không trù trừ gì nữa lao thẳng đi tìm các bạn đã được tập hợp ở ngôi nhà nguyện mới toanh. Tôi bắt gặp Brandelore đang biểu diễn cái tinh thần cao siêu của cậu ta đằng sau cửa lớn ra vào, nơi cậu ta đang hăng say lên lớp cho đứa con gái nhỏ của chị thường trực. Tôi đến ngay đó như thế được cậu ta mời.
Chiều hôm ấy, bố mẹ, họ hàng từ Paris kéo đến thăm lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi ở đây và tiếp sau đó mỗi tuần.
Tôi đã viết cho mẹ tôi. Mẹ rất sung sướng tìm ra tôi, và mẹ khóc lóc như một con chó cái được người ta trả lại con. Có lẽ mẹ cũng nghĩ rằng mẹ an ủi được tôi nhiều bằng những cái hôn, tuy nhiên mẹ không được như con chó cái vì mẹ cả tin vào những lời người ta nói, tưởng rằng có thể đem được tôi đi. Chứ con chó mẹ kia thì ít ra nó chỉ tin vào cái gì nó ngửi thấy tận mũi thôi. Một buổi chiều, tôi cùng mẹ đi dạo một vòng rộng các phố gần nhà thương, lững thững trên những đường phố mới mở, nhiều chỗ còn chưa kịp sơn những cột đèn đường, giữa những dẫy nhà mặt tiền còn rỉ nước, những ô cửa sổ còn chăng hàng trăm thứ bà dằn, từ những giẻ rách đến những chiếc áo sơ mi của người nghèo, nghe tiếng tí tách lèo xèo của mỡ ôi rán trên lửa xông mùi khét lẹt... Trong cái cảnh buông quăng bỏ vãi bao quanh thành phố, nơi mà tấm màn dối trá về sự cao sang toát ra và kết thúc bằng sự thối rữa, thành phố chiềng bầy cho ai đó muốn thấy cái mặt sau to đùng rác rưởi của nó. Ở đó có những nhà máy mà người đi dạo phải tránh xa, vì đủ thứ mùi xú uế bốc lên, thối hoắc không khí quanh vùng, không còn đâu hơn được. Ngay gần đó, nằm giữa hai cột ống khói so le cao ngất, một khu chợ phiên phải bỏ xó trong nhiều tuần liền, mấy con ngựa gỗ phai màu, đám trẻ nhỏ có thèm chơi cũng đành chịu vì quá đắt, mấy đứa bé còm nhom thò lò mũi, dán mắt vào đó, ngập ngừng nửa ở nửa đi, rồi cũng đành bỏ lại cái nghèo với tiếng nhạc.
Tất cả trôi qua trong cố gắng lánh cho xa cái sự thật ở những nơi này, nhưng rồi vẫn trở lại than khóc không ngừng cho thiên hạ. Người ta ráng làm, ráng uống, mà lại thứ rượu đỏ đậm đặc như mực, trời xanh xin cứ ở nguyên trên ấy, khép kín lại, để mà chứa cho hết những đám khói ngoại ô này.
Ở dưới mặt đất, bùn lầy đang níu kéo nỗi nhọc nhằn của anh và sự sống cũng bị bủa vây chặt tứ phía bởi những khách sạn và những nhà máy, lại nhà máy nữa! Về mặt này thì các bức tường đã biến thành nhưng cỗ áo quan. Lola đi hẳn rồi, Musyne cũng vậy, tôi chẳng còn ai. Chính vì thế tôi chỉ còn mẹ để mà viết thư thôi, vấn đề là có ai đó để mà gặp. Ở tuổi hai mươi mà tôi đã chỉ còn có quá khứ. Ngày chủ nhật, tôi cùng mẹ đi hết phố này sang phố khác. Mẹ kể cho tôi nghe những chuyện tỉ mẩn trong việc buôn bán của mẹ, về những chuyện người trong phố, xung quanh mẹ, bàn tán về chiến tranh, rằng chiến tranh thật là buồn, “kinh khủng” nữa, nhưng với tất cả lòng can đảm của mình, chúng ta đang quyết ra khỏi chiến tranh, đối với mẹ những người hy sinh chẳng qua chỉ là gặp nạn không may thôi, cũng giống như đua ngựa, anh mà ngồi cho vững thì làm sao ngã được. Còn về phần mẹ, mẹ chỉ khám phá thấy trong chiến tranh một nỗi buồn mênh mông mới mẻ mà mẹ cố giữ không khuấy nó lên; nỗi buồn ấy làm cho mẹ phát sợ; nó ứ tràn lên những chuyện kinh hãi mà không sao hiểu được. Mẹ tin sâu sắc rằng lớp người nghèo hèn như mẹ thì chỉ được sinh ra để chịu đựng đủ mọi thứ, rằng đó là số phận đã an bài trên thế gian này, và rằng nếu như những chuyện ấy mới chỉ xấu có thế chứ xấu nữa cũng phải ráng, chỉ tại số đông các người đã phạm quá nhiều tội lỗi chồng chất đấy thôi, những kẻ hèn kém ạ... Có thể là họ đã làm những điều ngu ngốc mà không biết, tất nhiên, nhưng dù sao thì họ cũng là thủ phạm và người ta để cho họ có thời cơ mà chuộc tội như thế là tốt lắm rồi... Mẹ tôi quả là một “tiện dân” [55*].
Cái thứ lạc quan nhẫn nhục và bi thảm ấy đã được bà lấy làm đức tin và tạo lập cơ sở cho bản chất của bà.
Hai mẹ con tiếp tục đi trong mưa, theo những dẫy phố đang chia ra từng lô; các vỉa hè ở đằng kia rẽ ngang, sâu khuất vào trong, mấy cây tần bì non mọc ven đường còn đọng lại khá lâu những giọt nước mưa trên cành, run rẩy trong ngọn gió đông, mỏng mảnh một cảnh tiên kỳ diệu. Con đường đi tới nhà thương chạy qua nhiều khách sạn mới mở, cái thì đã có tên, nhiều cái chưa có tên nữa. Chỉ đơn giản dòng chữ: “Cho thuê trọ cả tuần”. Chiến tranh đã làm cho chúng trống huếch trống hoác, cả những cái gì trong đó, cả những cai thầu và thợ xây. Còn khách trọ thì cũng chẳng ai dại gì mò về đây để hứng lấy cái chết. Chết cũng là một việc đấy, nhưng người ta thà trả món nợ ấy ở ngoài kia.
Mẹ vừa dẫn tôi trở về nhà thương vừa khóc nức nở, mẹ chấp nhận cái chết của tôi như một tai nạn, chẳng những mẹ thuận lòng, mà còn tự hỏi liệu tôi có cam chịu như mẹ không. Mẹ tin vào định mệnh như tin vào cái thước đẹp đẽ của trường Mỹ Nghệ [56*], mà mẹ thường nói với tôi một cách thành khẩn, bởi vì hồi còn trẻ mẹ đã được dạy cho biết rằng cái dụng cụ đo lường mà mẹ dùng trong nghề buôn hàng xén của mẹ là bản sao chính xác cái vật chuẩn chính thức tuyệt vời đó.
Giữa những mảnh đất được chia ra từng lô trên cái vùng nông thôn bị truất quyền này vẫn còn lại vài thửa ruộng và đất trồng trọt rải rác đó đây, và vẫn còn cả mấy ông già nông dân bám chặt lấy những mẩu đất còn sót lại kẹt giữa những ngôi nhà mới. Hôm nào giờ về còn sớm, tôi cùng mẹ đi xem mấy ông nông dân kỳ cục ấy mải miết đào xới những mẩu đất mềm và mầu mỡ, nơi chôn cho rữa xác những người chết và từ mảnh đất ấy dù sao cũng đem lại bánh mì. Mỗi lần đứng nhìn các ông lão, mẹ lại băn khoăn tự hỏi: “Đất ở đây chắc phải rắn lắm!” Thật ra thì mẹ mới biết được những nỗi khổ của những người dân ở thành thị cùng cảnh ngộ với mình, mẹ cố hình dung xem nó khổ ra làm sao đối với dân nông thôn. Đó là sự tò mò duy nhất mà tôi chưa hề thấy ở mẹ, và có lẽ cái đó cũng đủ được coi như một thú tiêu khiển trong một ngày chủ nhật của mẹ. Mẹ đem theo cái đó về trong thành phố với mình.
Tôi chẳng còn nhận được tin gì của Lola và cả Musyne cũng vậy. Mấy con bà nàng ấy rõ ràng chỉ đứng về phía tốt của tình hình, nơi bao phủ bởi cái quân lệnh niềm nở mà lại khắt khe rằng phải loại trừ những kẻ như bọn chúng tôi, những khối thịt dành cho lễ hiến sinh. Đã hai lần họ tống chúng tôi vào những nơi nhốt con tin. Vấn đề chỉ còn là thời gian và chờ đợi. Ván đã đóng thuyền cả rồi.