Mọi việc cứ tiếp diễn và đến lượt tôi được đề bạt làm đội trưởng vào khoảng cuối tháng tám năm ấy. Tôi thường phải đi làm nhiệm vụ với năm cậu nữa, theo lệnh của ông tướng Des Entrayes. Ông thủ trưởng này, người nhỏ thó, trầm lặng, thoạt nhìn không thấy được vẻ gì là dữ dằn hùng hổ... Nhưng hãy coi chừng... Hình như cái mà ông ta khoái nhất là được mọi người biết chiều đúng cái ý thích của mình; tuy chỉ là những cái lặt vặt thôi nhưng anh nào lơ mơ trái ý ông ta thì phải biết... Từ hơn tháng nay chúng tôi bán xúc xích trong những cuộc chuyến quân, nhưng ông ta chẳng bao giờ bỏ qua được những thích thú riêng. Mọi người cùng bị vạ lây nếu như anh chàng cần vụ không dọn được một cái giường cho tươm tất, một cái bếp trang bị thật tối tân ngay khi ông ta vừa đặt chân đến nơi trú quân mới.
Đối với trưởng ban tham mưu, một trung tá bốn vạch [4*], thì sự chú tâm quá quắt đến tiện nghi của ông tưởng, quả là một công việc đòi hỏi nhiều nỗ lực. Những yêu sách của tướng Des Entrayes khiến cho tham mưu trưởng phát bực. Nhất là lão trung tá này, da vàng bủng, có thể do bệnh đường ruột và táo bón, không xài được các món ăn tạp nham. Thế mà cứ phải ngồi cùng bàn để tiếp ông tướng, nhắm mắt nhắm mũi nuốt trứng la COÓC, và nhận lấy những lời ca cẩm của ông ta. Nhưng thử hỏi anh có phải quân nhân không đã? Tuy thế tôi cũng chẳng bênh vực cho lão ta, vì trong các sĩ quan ở đây thì lão là tay đểu cáng có hạng. Phải nhìn nhận lão cho đúng. Kéo lê cuộc hành quân cho đến tận chiều tối, băng qua hết các đoạn đường đồi, các cánh đồng cỏ linh làng, tới một cánh đồng trồng cà rốt, cuối cùng thì cũng phải dừng chân để kiếm chỗ cho ông tướng ngả lưng. Tìm mãi rồi cũng ra được một ngôi làng tĩnh mịch, kín đáo, chưa có cánh quân nào đến đóng, mà giả dụ có đơn vị nào đóng trước thì cũng liệu mà nhổ trại cho mau, đơn giản là bị tống khứ, kéo nhau ra chỗ đồng không mông quạnh thôi, dẫu cho các anh đã sắp xếp dàn quân thành cụm...
Ngôi làng này phải dành riêng cho ban tham mưu, cho ngựa nghẽo, càng tin, kho quân trang, và tất nhiên cả lão trung tá đểu cáng ấy. Tên thằng cha chó đẻ ấy là Pinçon [5*], trung tá Pinçon. Tôi hy vọng là vào giờ phút này thì lão ta đã chui vào cửa tử rồi, mà không phải đã được chết già đâu. Nhưng vào cái thời điểm tôi đang kể lại đây thì lão Pinçon khốn nạn ấy vẫn đang còn sống nhăn. Tối tối lão tập hợp bọn liên lạc chúng tôi lại, thét lác một chập bắt mọi người đứng vào hàng lối rồi lão ra sức lên dây cót tinh thần hăng hái trong chúng tôi. Suốt ngày đã phải lẽo đẽo bám theo ông tướng, đến tối lão lại tống chúng tôi đến những nơi xa lạ chết tiệt. Cuốc bộ, cưỡi ngựa, rồi lại cuốc bộ. Cứ thế lão ra lệnh thế này thế nọ. Có dễ xong được việc thì chúng tôi đã chết ngụp cả rồi. Mà như thế có khi lại thực tế hơn cho cả mọi người.
-Nào bây giờ thì cút hết cả! Tất cả trở về trung đoàn! Mau mau lên đi! - lão gân cổ lên gào thét.
-Nhưng thưa trung tá, trung đoàn đóng ở đâu?
-Ở Barbigny.
-Barbigny là đâu ạ?
-Ở đằng kia kìa!
Đằng kia kìa! Nhìn theo ngón tay lão trỏ, chỉ thấy khoảng trời đất tối om chỗ nào cũng như chỗ nào. Đêm tối mênh mông đã ngoạm hết cả mặt đường, cách nhau hai bước cũng khó mà thấy rõ mặt nhau, dẫu có mẩu đường nào ló ra thì cũng chỉ to bằng cái doi đất mà thôi.
Vậy thì đi đến tận cùng thế giới, mà tìm cái làng Barbigny. Có thể phải hy sinh cả cái đại đội này họa chăng mới tìm ra được cái làng ấy. Mà lại là một đại đội toàn những tay gan dạ! Còn tôi, tôi chẳng mảy may gan dạ dũng cảm mà cũng chẳng bao giờ thử hỏi xem tại sao lại phải gan dạ dũng cảm. Bởi thế điều dĩ nhiên là tôi cũng như mọi người chẳng hào hứng gì cái việc đi tìm ngôi làng Barbigny mà ngay cả lão ta cũng chỉ nói với chúng tôi một cách bâng quơ. Cứ như thế người ta thả sức mắng mỏ mình thậm tệ để không chịu được thì liệu đường chết quách cho xong. Những trò ấy có hay không ở nơi họ, ai mà biết được.
Trong toàn bộ cái đêm tối đầy đặc ấy, đến mức giá có duỗi cánh tay ra ngang vai cũng không nhìn thấy được bàn tay của chính mình nữa, thì tôi chỉ còn biết mỗi một việc, hoàn toàn chắc chắn, là cái việc trong đó hàm chứa những ham muốn giết chóc ghê gớm không kể xiết.
Cái mõm của lão tham mưu trưởng ấy chỉ ngừng sủa khi trời đổ tối và chúng tôi đã được ném vào cõi chết, để rồi hôm sau lại sủa tiếp, thường nhằm lúc mặt trời lặn. Chúng tôi thình thoảng cũng có phản ứng với lão bằng những cú chây ì, hoặc làm ra bộ không tiếp thụ được những chỉ lệnh của lão, cũng có khi là cứ loanh quanh lẩn quất trong doanh trại thèm được lúc nào hay lúc ấy, cho đến khi không còn một gốc cây nào để ấn nấp, thì cuối cùng cũng đành phải nhích dần đến cái chết một chút; khi ấy thì bữa cơm tối của ông tướng cũng đã dọn ra.
Rồi mọi sự diễn ra từ cái thời điểm ấy, phó mặc cho may rủi. Có khi thấy mà có khi không thấy đâu cái trung đoàn của chúng tôi và ngôi làng Barbigny. Ấy thế rồi nhờ có một sự lầm lẫn mà lại tìm ra nhau: khi chúng tôi hú họa tiến gần được đến nơi đóng quân của trung đoàn, đám lính gác đêm thấy động thì cứ bắn phứa. Tất nhiên là cuối cùng cũng nhận ra nhau, rồi thường là suốt đêm ấy phải bắt tay vào đủ mọi thứ cỏ vê, từ khuân vác những bao tải chứa cỏ mạch cho ngựa, xách hàng chục xô nước tràn phè sóng cả ra ngoài, đứa nọ lại còn chửi đứa kia, nhưng đứa nào cũng mệt lử cò bợ, buồn ngủ rũ ra....
Sáng ra lại lên đường, cả nhóm liên lạc năm người, để phục vụ hành dinh tướng Des Entrayes, để tiếp tục cuộc chiến tranh.
Nhưng cũng lắm lúc chúng tôi chẳng tìm được ra trung đoàn ở đâu thì chỉ còn nước chờ sáng, cùng nhau lòng vòng trên những con đường lạ lẫm quanh các xóm làng đã tản cư hết sạch hoặc trong những khu rừng trụi khả nghi mà chúng tôi thường phải tránh xa vì dễ đụng độ với bọn tuần tra Đức. Tuy vậy vẫn phải tìm lấy nơi nào yên yên để chợp mắt cho qua đêm. Làm sao mà tránh cho hết được. Từ cảnh này lại càng thông cảm với nỗi cực của những chú thỏ hoang.
Tình thương đến với chúng tôi kỳ cục thế đấy. Giá có ai bảo lão trung tá Pinçon rằng lão là một kẻ sát nhân bẩn thỉu khốn kiếp thì không chừng lão lại coi như nhận được một niềm vui lớn. Đó là cái vui được dịp sai tay đại úy hiến binh bắn bỏ chúng tôi ngay tức khắc. Còn tay đại úy hiến binh thì không rời lão trung tá đến nửa bước, và lúc nào cũng chỉ rình có thế. Mà tay hiến binh ấy thì chẳng muốn nhằm vào bọn Đức đâu.
Thế là hết đêm này qua đêm khác, những đêm tối tồi tệ nối tiếp nhau, chúng tôi cứ phải né tránh những cuộc phục kích, chỉ với một hy vọng phải chăng thôi, là được thoát chết và cũng chỉ có thế. Giả sử có thoát khỏi cái chết thì cũng phải nhớ đời, tuyệt đối không bao giờ được quên, rằng người ta đã phát hiện ra trên thế giới này một loại người có thân hình cân đối giống như anh hay như tôi, nhưng lại độc ác hơn cả những con cá sấu và cá mập lượn lờ giữa hai dòng nước, há hốc những cái mõm kinh tởm của chúng đón đớp rác rưởi và thịt thà thiu thối từ những con tầu chở ra đổ ở ngoài khơi xa, vùng biển La Havane.
Cái thất bại lớn nhất, rút cục là sự lãng quên mất kẻ đã xô đẩy anh vào chỗ chết và chết mà chẳng hề biết đưực rằng con người ta lại có thể tàn ác đến cực điểm như thế. Khi chúng ta đã bị ném kề miệng lỗ thì chớ có làm ra vẻ tinh khôn, cũng không được quên, mà phải kể lại trung thực từng chữ từng lời, về những gì đã thấy trong các thói hư tật xấu tồi tệ nhất ở con người, rồi hãy nhắm mắt, rồi hãy chịu để quăng xuống mồ. Công việc cả đời người đến đấy mới là hoàn tất.
Có lẽ tôi phải làm sao ném được cả lão trung tá Pinçon và tay đại úy hiến binh của lão cho bầy cá mập ngốn ngấu, để chúng học được cách sống là thế nào, rồi cả con ngựa của tôi nữa để nó khỏi còn phải đau đớn vì phải chở tên khốn kiếp đẫy đà ấy trên lưng, cứ nhìn hai mảng lưng nó bị ép sát dưới cái yên, lở loét bằng cả hai bàn tay tôi, trơ thịt trơ xương ra, máu mủ chảy ri rỉ xuống tận cẳng khoeo. Thế mà nó cứ phải chịu đau, chạy nước kiệu, một, hai... Nó vừa chạy vừa oằn mình lại, nhưng giống ngựa thường là nhẫn nhục hơn giống người. Nó oằn mình trong nước kiệu. Rồi họ cũng phải thả nó ra giữa rừng, vì để nó trong chuồng thì các vết thương của nó bốc mùi thum thủm ai mà chịu được. Mỗi lần có ai leo lên mình nó thì nó lại ngoan ngoãn khuỵu hai chân sau xuống, hạ thấp cả cái bụng, để người ta nhẹ nhàng leo lên yên, chính là để nó đỡ đau. Chẳng khác gì leo lên lưng con lừa. Nhưng cũng phải thừa nhận là như thế lại tiện hơn. Đến ngay lũ chúng tôi thì đứa nào đứa ấy cũng đều mệt lử với đống sắt thép chất nặng trên đầu, trên vai...
Trong ngôi nhà dành riêng cho ông ta, tướng Des Entrayes đang ngong ngóng chờ bữa ăn tối. Bàn đã dọn sẵn, ngọn đèn đã đặt vào chỗ của nó.
“Nào, giải tán cả đi, lũ khốn, - một lần nữa lão Pinçon lại ra lệnh cho chúng tôi, mồm lão la, tay lão đung đưa cái đèn lên ngang cánh mũi - Thôi, đến giờ ăn của các quan rồi! Đừng để phải nhắc nữa! Bọn chó chết có cút đi cả không thì bảo!” lão gào rống, lão lại lên cơn, cái mặt bềnh bệch của lão đỏ bừng lên từng đám, lão đang muốn đẩy chúng tôi vào cõi chết.
Một đôi lần, tay đầu bếp của ông tướng cũng tuồn trộm cho chúng tôi vài miếng nho nhỏ trước khi ra đi. Vả lại, một mình ông tướng ấy sực những bốn chục suất, tọng làm sao cho hết vào bụng, thừa mứa đổ đi cũng thế thôi. Ông ta cũng chẳng còn trẻ trung gì, sắp đến tuổi về hưu rồi còn gì. Cặp giò bước đã khòng khòng. Có lẽ bộ ria kia đã được nhuộm đen.
Mấy cái mạch máu của ông ta nổi vồng lên trên hai thái dương, qua ánh đèn chúng tôi thấy giống như những khúc uốn lượn của con sông Seine đang tuôn dòng chảy ra cửa Paris. Người ta kháo nhau rằng mấy đứa con gái ông tướng này đều lớn tuổi cả rồi mà vẫn chửa chồng con và cũng giống bố ở chỗ chẳng có của nả gì. Có thể mặc cảm về những chuyện đó nên ông ta hay bẳn gắt, y như một con chó già bị quấy rầy và cản trở các thói quen, đang sục tìm mãi chẳng thấy cái ổ nằm thì lại bị người ta mở cửa tống khứ ra ngoài.
Ông tướng ấy rất thích ngắm vườn cảnh, nhất là những vườn hồng. Trên đường hành quân của chúng tôi, chẳng bao giờ ông ta bỏ lỡ dịp ngắm lấy một vườn hồng. Mấy ai được như các ông tướng để mà ngắm hoa ngắm cảnh! Cái ấy thì đã rõ.
Dẫu thế nào thì cũng phải lên đường. Việc của chúng tôi là phải xua mấy con nghẽo này chạy nhanh lên. Chúng nó chẳng buồn nhích bước, trước tiên vì những vết thương trên mình, lại còn vì sợ chúng tôi và sợ đêm tối nữa. Cái gì mà chúng nó chả sợ. Ngay chúng tôi cũng thế thôi. Có đến mười lần chúng tôi quay lại hỏi lão trung tá đường đi thì lần nào lão cũng cáu gắt rầy la chúng tôi là đồ ăn hại, là quân đại lãn tởm lợm. Cuối cùng thì chúng tôi cũng phải thúc ngựa qua bốt gác, trao mật khẩu cho cậu liên lạc rồi phóng một mạch vào cuộc phiêu lưu khốn nạn, vào cái đêm tối mịt mùng trên những xứ sở vô chủ này.
Ra sức luồn lách từ bóng cây này qua bóng cây khác, chán rồi thì chúng tôi cũng tìm ra được một con đường, hay ít ra cũng tin là vậy... Bao giờ mà chẳng thế, hễ cứ thấy đám mây này sáng hơn đám mây kia là mình lại thích thú nhủ thầm như thấy được ra một cái gì đó... Nhưng trước mặt, rõ ràng chỉ có tiếng vó ngựa phi khua vang rồn rập tới lui, một thứ tiếng vang khiến cho anh tưởng như muốn nghẹt thở, không còn sao chịu được... cư như đàn ngựa đang phi lên tận trời cao để hô hoán toàn thể giống ngựa chúng nó trên khắp trái đất này đổ về đây xéo nát lũ chúng tôi đi. Nhưng con người thì, muốn làm được việc ấy, chỉ cần một bàn tay, một khẩu cạc-bin, phục kích sau một gốc cây nào đó, rình rập chúng tôi. Tôi vẫn bụng bảo dạ rằng cái lóe sáng đầu tiên mà mình thấy được nhất định sẽ phát ra từ một họng súng kết liễu đời mình đây.
Chiến tranh kéo dài đã bốn tuần. Bốn tuần nay, quá mệt mỏi, quá khốn khổ, và hình như nhờ thế mà tôi cũng đã quên bớt được phần nào nỗi sợ của mình trên dọc đường. Khổ sở vì suốt ngày đêm bị họ, những kẻ đeo lon, có cấp bậc, hạch sách, mà mấy thằng cấp càng thấp, càng đần độn, thì lại càng bần tiện, càng hằn học hơn cả thói thường. Bị chúng hạch sách quá quắt, đến những tay cứng đầu cứng cổ nhất cũng không còn muốn sống nữa.
Chà! ước gì đi ngay được đến chỗ nào đó để mà ngủ một cái cho đã! Và nếu thật sự không còn cách gì mà kiếm lấy một chỗ ngủ thì chẳng còn gì để mà ham sống nữa! Khốn nỗi chừng nào anh còn sống thì còn phải làm ra vẻ vẫn tìm đường tới trung đoàn.
Muốn khuấy đảo cái đầu óc của một thằng xuẩn ngốc thì phải làm cho nó đối mặt với thật nhiều chuyện, mà rặt những chuyện dữ dằn. Kẻ làm cho tôi lần đầu trong đời phải động não, động não thật sự, biết suy nghĩ và hiểu ra những cái rất thiết thân, những cái đúng là của mình, kẻ ấy chắc hẳn là thằng cha trung tá Pinçon, cái thằng đồ tể ấy. Tôi huy động toàn bộ cái tư duy mà mình có thể có để suy nghĩ về hắn ta, trong lúc đang còn lảo đảo, gập người xuống vì phải vác nặng vũ khí, cái thứ đạo cụ trong tấn trò quốc tế khó tin này, mà tôi đã chót dại hăng hái dấn thân vào... Tôi thú thực là thế.
Mỗi tấc đất tối om trước mặt là thêm một hứa hẹn cho nó kết thúc và nổ bung ra cho rồi, nhưng bằng cách nào cơ chứ? Trong chuyện này hầu như chẳng có gì là bất ngờ mà chỉ còn xem đồng phục của kẻ thừa hành là thuộc phía bên này hay phía bên kia thôi.
Tôi thì tôi chưa có làm điều gì đối với thằng cha Pinçon. Tôi coi hắn ta cũng chẳng khác gì hơn bọn Đức... Cái đầu hắn ta giống như quả lê ủng, bốn cái vạch trung tá nhấp nha nhấp nhánh suốt từ đầu đến rốn, hai cái ria mép vểnh lên cùng hai cái đầu gối nhọn hoắt, lại thêm cặp ống nhòm đeo lủng lẳng trên cổ như cái chuông đeo cổ bò, và cái bản đồ tỷ lệ 1/1000, như vậy ư? Tôi tự hỏi, không biết sự rồ dại của thằng cha này đến mức nào mà cứ xô đẩy người khác vào chỗ chết? Mà những người khác thì chẳng có được cái bản đồ như hắn ta.
Bốn đứa chúng tôi, bốn thằng lính kỵ binh, ra sức khua vang vó ngựa như thế cả nửa trung đoàn hành quân. Người ta phải nghe thấy tiếng vó ngựa của chúng tôi cách đó đến nửa ngày đường ấy chứ! Hay là họ đã bưng tai? Có thể thế lắm... Hay có lẽ họ sự vì tưởng chúng tôi là bọn Đức? Ai mà biết được?
Một tháng buồn ngủ đã nặng trĩu cả hai mí mắt, nặng cả trong đầu, lại còn thêm những cân sắt thép đồng nát này nữa.
Mấy cậu kỵ binh cùng đi với tôi ăn nói kém. Toàn là thứ người ăn không nên đọi nói chẳng nên lời... Các cậu ta đi nghĩa vụ từ một vùng sâu của xứ Bretagne và có học hỏi được gì chăng thì cũng chẳng phải từ nhà trường mà chủ yếu ở cái trung đoàn này. Trong cái buổi tối ấy, tôi thử trò chuyện một chút về ngôi làng Barbigny với cậu đi cạnh tôi, tên là Kersuzon.
-Này, Kersuzon, cậu có biết là chúng mình đang ở trong vùng Ardennes... Cậu có thấy gì ở phía xa xa trước mặt chúng mình không? Tớ thì chẳng thấy đếch gì cả...
-Tối đen như cái lỗ trôn! cậu ta trả lời, chỉ thế thôi.
-Này, thế hồi chiều cậu có nghe nói đến Barbigny không? Cái làng ấy ở đâu nhỉ? tôi lại hỏi cậu ta.
-Không!
Thế đấy.
Chúng tôi chẳng bao giờ tìm được ra cái làng Barbigny. Loay hoay với nhau đến tận sáng bảnh mắt, cho đến lúc tới được một cái làng, thế quái nào lại trúng ngay nơi mà thằng cha đeo ống nhòm đang chôm chúng tôi. Còn ông tướng của hắn ta thì đang nhấm nháp cà phê dưới giàn hoa phía trước tòa nhà xã trưởng.
Vừa thấy mặt chúng tôi, ông ta nói tướng lên với lão tham mưu của mình:
-Ái chà, cái đám trẻ này mới đẹp đẽ làm sao hè, Pinçon!
Đoạn, ông ta đứng dậy đi đái rồi lại chắp tay sau đít, dưới cái lưng còng còng. Tay cần vụ thì thầm với tôi rằng, sáng nay ông tướng rất mệt mỏi vì mất ngủ, người ta kháo nhau là ông ta đang bị cái gì đó quấy rối trong bọng đái.
Kersuzon thì trước sau vẫn chỉ biết có mỗi câu trả lời như khi tôi hỏi cậu ta đêm qua, và rồi tôi cũng quên khuấy chuyện đó, tuy hai ba lần cậu ta còn nhắc đến chuyện đêm tối, chuyện cái lỗ trôn. Rồi, không bao lâu sau, cậu ta chết khi chúng tôi vừa ra khỏi làng. Tôi nhớ chuyện ấy lắm. Chúng tôi lạc sang một làng khác, và cậu ta bị bắn bởi chính người Pháp mình, do tưởng lầm chúng tôi là quân của đối phương!
Sau cái chết của Kersuzon mấy hôm, chúng tôi suy nghĩ và tìm ra được một mẹo nhỏ để tránh khỏi bị lạc đường trong đêm tối. Thế là, mỗi lần khi bị họ sai phái ra khỏi doanh trại, thì, được thôi! chúng tôi chẳng thèm nói lại nửa lời, mà họ cũng chẳng còn gì mà rầy la. Cái mõm bằng sáp ấy lại ra lệnh theo thường lệ: “Nào, cuốn xéo đi thôi chứ!”
- Rõ, thưa trung tá!
Và thế là từ đấy chúng tôi bảo nhau đi về phía có tiếng đại bác. Cả năm đứa chẳng van xin lấy một lời. Cứ như là rủ nhau vào vườn anh dào vậy. Ở phía ấy có khá nhiều thung lũng. Đó là vùng châu thổ sông Meuse, với những ngọn đồi, những cánh đồng nho đang giữa mùa thu đều còn xanh, nhà cửa trong làng bằng gỗ, vừa qua ba tháng hè, rất nỏ, rất dễ bốc cháy.
Sở dĩ bọn tôi nhận ra điều này là do một đêm không còn biết đâu mà đi nữa. Ngôi làng ở phía có tiếng dại bác ấy thì cứ bốc cháy ngùn ngụt. Chúng tôi cũng chẳng lại gần làm gì, có thể nói là chẳng khác nào những khán giả đứng xem từ xa, có lẽ đến mươi mười hai cây số. Vào dạo ấy, tối nào cũng có khá nhiều làng bốc cháy ở phía chân trời, cứ thế lặp đi lặp lại; mà người ta thì xúm nhau quây xung quanh thành một cái vòng người rất rộng như đi xem hội, cái hội hè lạ lùng của tất cả các làng xã đang ngút lửa, lửa trước mặt, lửa hai bên, lửa bốc cao lem lém tận các vầng mây.
Chúng tôi đứng xem mọi cái ngụp dần trong biển lửa, các nhà thờ, các kho thóc cái này nối tiếp cái kia, những cây rơm cháy mau nhất và ngọn lửa cũng bốc cao hơn những cái khác, rồi đến những chiếc cột nhà dựng đứng thẳng tắp trong màn đêm với những ngọn lửa nhỏ bám quanh y như những chòm râu, trước khi đổ nhào trong vầng sáng.
Đứng xa hàng hai chục cây số mà cũng thấy rõ được cả một làng cháy trụi ra sao. Vui mắt lắm cơ. Một xóm nhỏ chẳng thấm tháp gì, lọt thỏm trong cái làng quê xấu xí, ban ngày thì có ai để ý, thế mà ban đèm trông nó cháy cũng ra phết lắm. Người ta tưởng như Nhà thờ Đức bà! Dù là một ngôi làng nhỏ thì cũng phải cả một đêm mới thiêu trụi hết, cuối cùng trông nó như một bông hoa to tướng, rồi chỉ còn như cái nụ, rồi chẳng còn gì sất.
Khói bốc lên, thế là trời vừa sáng rõ.
Đàn ngựa vẫn nguyên cả yên cương, được thả trên cánh đồng bên cạnh chúng tôi, vẫn đứng yên cả đấy. Chúng tôi đi kiếm cỏ cho ngựa, chỉ để lại một cậu đến phiên gác. Kể ra, có được những đám cháy mà xem như đêm qua thì cũng thật dễ chịu, chẳng còn thấy mệt nhọc, cũng chẳng còn thấy đơn độc.
Khốn nỗi có còn được bao nhiêu làng đâu... Chỉ trong vòng một tháng, cả cái tổng này không còn lại làng nào. Các cánh rừng cũng bị dại bác cầy xới, không còn sống nổi lấy tám ngày. Xem rừng cháy lại càng thích mắt, nhưng cũng chẳng được lâu.
Chỉ có đơn vị chúng tôi là tiến không được mà lui cũng không xong, dành chết gí một chỗ.
Sắp sửa nối đuôi nhau mà chết cả đây. Không còn lính thì ông tướng cũng chẳng tìm đâu ra chỗ đóng quân. Tướng hay quân, cuối cùng đều sẽ ngủ bờ ngủ bụi ngoài đồng tuốt. Anh nào ít nhiều còn cái gọi là trái tim thì cũng quẳng đi nốt. Từ những tháng ấy trở đi, người ta đem lính ra bắn để nâng cao tinh thần, từng tiểu đội một, và thằng cha hiến binh tha hồ mà được tuyên dương bởi cái cách bắn thi thố trong cuộc chiến nho nhỏ của hắn, một cuộc chiến sâu sắc, cuộc chiến đích thực của đích thực.