Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

❊ ❊ ❊

Trên đường, tôi vẫn thường nghe rõ tiếng thú rừng, những tiếng rền rĩ, líu lo và cả những tiếng gọi bầy đàn, nhưng không nhìn thấy chúng bao giờ, mà tôi cũng chẳng tin được cái con lợn rừng bé nhỏ đã có lần làm cho mình suýt nữa đi lạc về chỗ ở cũ. Với hàng tràng những tiếng kêu, tiếng gọi, tiếng hú, cứ tưởng như chúng phải gần mình lắm, tưởng chúng lúc nhúc có đến hàng trăm hàng nghìn con. Nhưng cứ đến gần chỗ phát ra những tiếng ồn ào đó thì lại chẳng thấy ma dại nào, ngoài mấy con gà gô lướng vướng trong bộ lông mầu xanh lơ sặc sỡ như đi dự lễ cưới và khục khục vụng về nhảy nhót từ cành này sang cành khác, tưởng như chúng vừa gặp tai nạn.

Thấp hơn, trên thảm lá mục của tầng dưới rừng, những con bướm to nặng, rung rung đôi cánh rộng với những đường viền riêm rúa như một tấm thiếp báo hỷ, còn lũ chúng tôi thì đang lội bì bõm trong lớp bùn vàng. Chúng tôi vất vả nhích từng bước, nhất là những người da đen ấy lại phải khiêng tôi trên một chiếc cáng khâu bằng các bao tải. Lúc qua một nhánh sông cụt, tôi tưởng họ có thể quẳng mình xuống sông. Nhưng tại sao họ không làm thế nhỉ? Về sau này tôi mới biết. Hay là họ còn có thể ăn thịt tôi theo tục lệ của họ?

Thỉnh thoảng tôi ấp úng hỏi, thì họ luôn luôn trả lời: Vâng vâng. Tóm lại là không có ai chống đối. Những con người tử tế cả. Khi tôi vừa bớt được ỉa chảy thì sốt rét lại xuất hiện ngay lập tức. Không thế nào ngờ được tôi lại có thể ốm đến mức ấy.

Tôi bắt đầu không nhìn rõ gì cả, hay nói đúng hơn là nhìn cái gì cũng ra mầu xanh lá cây. Ban đêm có lẽ tất cả muông thú trên trái đất kéo đến vây quanh chỗ chúng tôi cắm trại, vì chúng tôi đốt lửa. Mặc dầu tấm màn đen bao la phủ kín chúng tôi, những tiếng kêu đây đó vẫn lọt qua. Một con thú bị chọc tiết tuy khiếp sợ con người và ánh lửa vẫn mò đến gần chúng tôi để kêu than.

Đến ngày thứ tư, tôi không còn nhận ra được cái gì thật hư trong những cái vô lý do bệnh sốt rét tạo ra và tuôn lần lần vào đầu óc mình cùng với những mảnh đời, những mẩu quyết tâm và những mẩu vô vọng chẳng bao giờ hết.

Nhưng dẫu sao thì, cho đến hôm nay, mỗi khi nhớ đến nơi đó, tôi cứ tự hỏi mình phải chăng đã có một tay da trắng rậm râu mà tôi gặp một buổi sớm mai trên mô đá sỏi nhô ra nơi tiếp giáp hai con sông? Và nhớ ngay cả tiếng ầm vang của một dòng thác gần đó. Tay ấy cũng loại như Alcide, nhưng là một trung sĩ Tây Ban Nha. Đoàn người chúng tôi vừa buộc phải vượt qua hết đường mòn này sang đường mòn khác gặp đâu hay đấy, trên cái thuộc địa Rio del Rio, một lãnh thổ cũ của Vương triều Castille. Anh chàng quân nhân Tây Ban Nha khốn khổ ấy cũng có một túp lều. Tôi thấy hình như anh ta rất khoái, khi nghe tôi kể những gian truân của mình và những gì tôi đã làm với túp lều của tôi! Lều của anh ta, thật ra thì có hơn cái của tôi, nhưng cũng không hơn bao nhiêu. Nỗi khổ của anh ta lại đặc biệt là nạn kiến đỏ. Hàng năm, đến mùa di trú, kiến chọn cái lều này để kéo đàn kéo lũ trẩy qua, đã hai tháng nay rồi vẫn chưa hết những con ranh này.

Kiến bò khắp chỗ, mình không còn xoay xở vào đâu được, mà đụng phải thì nó đốt cho phải biết.

Anh ta rất thích món ra-gu đậu của tôi, vì từ ba năm nay anh ta chỉ có độc một món là cà chua. Tôi chẳng biết nói sao. Anh ta bảo, một mình anh ta đã sực hết hơn ba nghìn hộp cà chua. Chán chẳng muốn nấu nướng gì, anh ta giải quyết một cách giản đơn nhất đời, là đục hai lỗ rồi húp như húp trứng sống, thế là xong.

Vừa đánh hơi thấy anh ta có món đồ hộp mới, từng đàn kiến đỏ đã kéo nhau bủa vây xung quanh mấy hộp ra-gu nấu đỗ. Chỉ cần bỏ vương bỏ vãi một hộp hơi thủng là có lẽ cả nòi cả giống kiến đỏ sẽ kéo đàn kéo lũ vào cái lều này. Biết đâu lại không ăn thịt luôn cả anh chàng Tây Ban Nha ấy.

Tôi được chủ nhà cho biết rằng thủ phủ của Rio del Rio là San Tapeta, một thành phố cảng nổi tiếng khắp miền duyên hải này và có thể vượt cả ra xa nữa, về khả năng trang bị cho những chiếc thuyền ga-le bơi tay chạy đường dài.

Con đường mòn chúng tôi đang đi sẽ dẫn đúng đến đấy: chỉ còn đi tiếp ba ngày ba đêm là tới. Vấn đề là làm sao cho đỡ được những cơn mê sảng, tôi nhờ tay Tây Ban Nha ấy mách giùm xem có thứ thuốc hay nào của dân bản xứ có thể giúp tôi hồi sức. Đầu tôi quay đảo kinh khủng. Nhưng anh chàng xem ra không muốn nghe đến những chuyện ấy. Đối với một tay thực dân Tây Ban Nha thì bất kỳ cái gì của người châu Phi hắn cũng kiêng kỵ một cách lạ lùng. Đến mức đi ỉa cũng không dám chùi đít bằng lá chuối địa phương, mà phải rọc sẵn từng chồng giấy báo Boletín de Asturias gửi từ Tây Ban Nha sang để chỉ dùng vào việc ấy. Anh chàng này chẳng bao giờ thèm đọc báo, lại cũng hoàn toàn giống như Alcide.

Từ ba năm nay anh ta sống ở đó, một mình với lũ kiến, vài thói tật vặt và đống báo cũ, và còn với cái giọng Tây Ban Nha kinh khủng cứ như là có thêm một người thứ hai thật là khỏe phụ họa với anh ta, khó ai có thể phấn hứng được. Khi anh ta quát tháo đám da đen thì cứ như trời nổi trận lôi đình, Alcide không ở đó mà học anh quát tháo. Tôi nhường lại tất cả món ra-gu nấu đỗ cho anh chàng Tây Ban Nha ấy vì tôi rất ưa anh ta. Đáp lại, anh ta làm cho tôi một cái thông hành khá đẹp trên giấy vân lụa có in hình quốc huy Vương quốc Castille với một trong những chữ ký tỉ mỉ mà anh ta nắn nót đến mười phút đồng hồ.

Anh ta nói đúng, đường đến San Tapeta không thể nào lạc được, cứ việc đi thẳng phía trước mặt. Tôi không nhớ chúng tôi đã đến được đó như thế nào, nhưng chắc chắn một điều là vừa tới nơi, họ giao luôn tôi cho một ông linh mục hình như cũng dầm dề, ngửi mùi ông ta đứng cạnh là mình đủ thấy như khôi phục được lòng dũng cảm. Nhưng cũng không lâu.

Thành phố San Tapeta áp sát vào một sườn núi đá trông thẳng ra biển, rực lên một mầu xanh lá cây. Nhìn từ ngoài vũng, có thể nói quang cảnh tuyệt đẹp, đôi chỗ nhìn từ xa thấy lộng lẫy nhưng lại gần thì cũng chỉ là những tảng thịt quá lao lực như ởFort-Gono và cũng không ngừng mọc mụn, không ngừng chín nục. Còn đám da đen trong đoàn tôi, trong một lúc tỉnh táo, tôi đã để họ về nhà. Họ bảo, họ đã vượt qua một khu rừng lớn nay trở về họ lo sợ không biết có vẹn toàn được mạng sống không. Họ khóc lóc khi từ biệt tôi, còn tôi thì không đủ sức để thương xót họ. Tôi quá đau đớn và mồ hôi vã ra quá nhiều. Không gì hãm được cái đó lại.

Những gì tôi còn nhớ được ở đó là, những tiếng ỉ eo của đám người ở cái thị tứ rõ ràng là khá đông dân này, ngày đêm kéo đến lăng xăng quanh chỗ tôi nằm, được bố trí trong phòng ông linh mục. Hẳn là San Tapera hiếm trò giải trí. Ông linh mục đổ đầy mồm tôi thứ thuốc nước sắc từ lá cây. Cây thập tự dài mạ vàng lấp lánh trên bụng ông ta. Bên trong cái áo thụng đen nổi cộm lên, mỗi lần ông đứng sát vào tôi thì những đồng tiền va vào cạnh giường lại vang lên sủng sẻng. Với tôi, không còn vấn đề trò chuyện với dân chúng, lúng búng trong mồm cũng đủ mệt rồi.

Nghĩ rằng cuộc đời thế là xong, tôi cố ngước nhìn qua khung cửa sổ phòng ông linh mục để còn thấy được chút gì của cái thế gian này. Những gì hôm nay tôi mô tả về khu vườn đó, tôi không dám khẳng định rằng không có những sai sót thô thiển và quái gở. Nhưng cái gì chứ ánh nắng mặt trời thì chắc chắn quá đi rồi, ở đây cũng thế thôi, cũng là cái nắng như thiêu như đốt, như người ta mở nắp nồi hơi to tướng cho nó phả nóng vào mặt anh; trên trời là thế, dưới này thì nắng cũng đọng trên các lùm cây ngọn cỏ bên đường, cái thứ rau riếp ở đây phát triển cao dễ bằng cây sồi, còn hoa bồ công anh thì ba bốn cây tụm lại cũng bằng một cây dẻ loại bình thường ở bên mình. Phải thêm vào đó một vài con cóc, chúng nặng có lẽ bằng con chó săn ê-pa-nhơn và khi bị săn đuổi là chúng lon ton từ mỏm đá này sang mỏm đá khác.

Nhưng kết cục về con người, xứ sở, sự vật vẫn ở cái mùi. Mọi cuộc phiêu lưu đều phải trải qua cái lỗ mũi. Tôi đã nhắm mắt lại, mà thực sự thì tôi cũng không thể mở mắt. Thế là cái mùi khăn khẳn của châu Phi, đêm này qua đêm khác đã mờ dần. Càng lúc càng khó thấy lại sự pha trộn nặng nề giữa mùi đất khô cằn, mùi đũng quần và mùi nghệ giã rập.

Với thời gian, với quá khứ và lại với thời gian tiếp nối rồi đến một lúc tôi phải chịu nhiều cú sốc và những cơn giật khác nữa rồi những chấn động đều đều như ru ngủ...

Nằm đó, tất nhiên là thế, nhưng như nằm trên một cái gì di động. Tôi đành kệ thế thôi, rồi tôi nôn mửa, khi tỉnh khi mơ. Đang trên mặt biển. Người phờ phạc, tôi cảm thấy không còn sức để mà chú ý đến cái mùi mới của thừng chão và nhựa đường. Không khí mát mẻ hơn trong cái xó xỉnh của con người vật lộn với sóng gió này, nơi tôi được tống vào đúng ngay dưới cái cửa sổ mở toang. Họ bỏ tôi nằm đó một mình. Tất nhiên cuộc hành trình cứ tiếp tục... Nhưng cuộc hành trình nào đây? Tôi nghe thấy những bước chân trên boong, một cái boong bằng gỗ, ngay bên trên mũi tôi và những tiếng nói, những tiếng sóng vỗ vào mạn.

Thật hiếm có những trường hợp mà cái sống trở lại bên giường bệnh của anh, nơi anh đã thế rồi, lại không mang một hình thức nào khác hơn là một trò chơi đểu cáng. Cái trò mà những kẻ ở San Tapera chơi với tôi có thể liệt vào loại đó. Phải chăng họ đã lợi dụng tình trạng tôi đang hôn mê dầm dề mà đổi tôi lấy việc trang bị cho một chiếc thuyền ga-le? Tôi tin rằng đó là một chiếc thuyền đẹp, đầy đủ các mái chèo, căng những cánh buồm đỏ thắm, một chàng trai trên người vàng rực, một con thuyền được lót đệm ở những chỗ dành cho các sĩ quan, trên mũi thuyền treo một bức tranh sơn dầu cá thu tuyệt đẹp vẽ hình Infanta Combitta mặc quần áo thể thao. Sau này người ta giải thích cho tôi rằng cô ta bảo trợ cho cái Vương quyền đó bằng cái tên và bằng cặp vú của cô ta, và con thuyền đang chở chúng tôi được hưởng cái vinh dự vương giả ấy của cô. Kể cũng sướng!

Ngẫm nghĩ về cuộc phiêu lưu, tôi thấy dẫu sao thì, giá có ở lại San Tapeta, còn đang ốm như một con chó, mọi cái đều quay cuồng, có thể chắc chắn là bị bỏ đói ở nhà ông linh mục, nơi đám da đen đã đặt mình ở đấy... Quay về Fort-Gono ư? Vậy là để hoài phí ở đó cái tuổi xanh hoạt bát của mình chỉ vì chuyện sổ sách thôi ư?... Ở đây ít ra còn nhúc nhích và đã thấy được hy vọng... Chắc hẳn lão thuyền trưởng Infanta Combitta cũng phải suy nghĩ chán mới đánh liều mua tôi vào lúc nhổ neo, dù có trả ông linh mục với cái giá rẻ mạt. Lão ta chịu thiệt tất cả tiền bạc trong vụ mua bán này. Có thể là lão mất tất. Lão tính lợi dụng không khí tốt lành của biển khơi để làm cho tôi khỏe lại. Lão xứng đáng với phần thưởng dành cho lão. Lão sắp thắng vì tôi đang khá hơn lên và tôi thấy rất bằng lòng về việc này. Tôi vẫn còn mê sảng nhiều nhưng với một lô gích nào đó... Từ lúc thấy tôi mở mắt, lão thường xuống thăm tôi dưới cái xó ấy, đội mũ lông chim của thuyền trưởng hẳn hoi. Lão hiện ra trước mắt tôi như thế.

Lão rất vui thấy tôi cố nhỏm dậy khỏi ổ mặc dầu cơn sốt vẫn còn níu lại. Tôi nôn mửa. Lão đoán trước: “Nào, chú mày, chẳng mấy chốc chú mày sẽ cầm được chèo bươn chải với chúng nó!” Kể thì lão cũng tử tế, miệng lão cười ha hả, tay dứ dứ chiếc roi da khẽ đập một cách thật thân mật vào gáy tôi, chứ không quất vào mông. Lão muốn tôi cũng vui lên, cũng hưởng thú vui với lão trong cái vụ lão vừa tiến hành để mua được tôi.

Thức ăn ở trên thuyền xem ra cũng chấp nhận được. Tôi vẫn chưa hết nói lúng búng. Đúng như lão thuyền trưởng đã dự đoán, tôi hồi sức khá nhanh để có thể thỉnh thoảng tham gia bơi chèo với các bạn. Nhưng mắt tôi còn lóa: nhìn vào một chục cậu mà cứ tưởng như một trăm.

Kể thì chuyến đi cũng không mệt lắm, vì phần lớn thời gian thuyền chạy bằng buồm. Ngồi chèo bên mạn cũng chẳng đến nỗi buồn nôn hơn là những hành khách bình thường đi các toa hạng bét trên các chuyến tầu chủ nhật và còn đỡ lo hơn cả những ngày tôi phải chịu đựng trên con tầu Đô đốc Bragueton để đến đây. Chúng tôi luôn luôn gặp được gió lộng trên chặng đường từ đông sang tây Đại Tây Dương. Khí hậu cũng dịu xuống. Không có tiếng thở than nào trong khoang thuyền. Chỉ có điều là người ta thấy chuyến đi hơi dài. Đối với tôi, thế cũng đủ những cảnh biển khơi rừng rú cho đến muôn đời rồi.

Lắm lúc tôi có ý hỏi lão thuyền trưởng về mục đích và phương tiện của chuyến đi biến này, nhưng từ lúc thấy tôi khá lên thì lão cũng thôi luôn việc lui tới thăm hỏi. Mà tôi thì cũng hay nói lẩn thẩn lắm. Tôi chỉ còn thấy lão từ xa, như một ông chủ thật sự.

Trên thuyền, tôi cố tìm trong đám chèo thuyền xem có Robinson không và đã nhiều lần tôi gào to lên gọi hắn, cả trong đêm hôm yên tĩnh. Chẳng có ai trả lời, trừ mấy tiếng chửi thề và đe dọa: Muốn làm tù chèo thuyền hả?

Tuy vậy, càng nghĩ đến những chi tiết và những tình huống gặp phải trong cuộc phiêu lưu của tôi, thì tôi lại càng cảm thấy rất có thể là người ta cũng đã đối xử với hắn như với tôi ở San Tapeta. Có chăng là Robinson đang bơi chèo trên một chiếc thuyền khác đấy thôi. Những tay da đen trong rừng hẳn đều là những kẻ thạo nghề buôn bán và mưu mô. Ai cũng đều đến lượt, đó là chuyện bình thường. Phải biết sống cho giỏi và biết giành lấy để đem bán những đồ vật và cả những con người mà mình không ăn thịt ngay được. Cái tử tế tương đối của những người bản xứ đối với tôi có thể giải thích như vậy.

Chiếc Infanta Combitta còn phải tiếp tục bơi trong nhiều tuần và nhiều tuần, vượt qua những đợt sóng lừng đại dương và những cơn say sóng, rồi một buổi chiều tốt đẹp xung quanh chúng tôi tất cả đều yên lặng. Tôi không còn mê sảng nữa. Chúng tôi nao nức chuẩn bị quanh chiếc neo. Hôm sau vừa thức giấc, mở các cửa sổ ra, chúng tôi biết rằng mình vừa đến đích. Cảnh vật thật kỳ lạ!

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.