Một khi đã đâm lao thì phải đâm cho trúng đích. Họ cho chúng tôi đi ngựa, nhưng rồi chỉ được khoảng hai tháng, chúng tôi lại phải cuốc bộ. Có lẽ vì tốn kém quá. Thế rồi, một buổi sáng, ông đại tá đi tìm con ngựa mà cậu cần vụ có lẽ đã giấu nó vào chỗ khuất nào đó để tránh các làn đạn ác hiểm ngoài đường cái. Trong khi chính ông đại tá và tôi lại đang bò ra tận đó, tay tôi còn ôm theo cuốn sổ ghi mệnh lệnh của ông ta.
Từ trên mặt đường cái, chúng tôi thấy phía xa xa có hai chấm đen di động; tuy cách nhau khá xa nhưng cũng đủ nhận ra hai thằng lính Đức đang mải miết ngắm bắn ở giữa đường, có đến mười lăm phút đồng hồ.
Ông đại tá liệu có biết được hai thằng Đức ấy đang ngắm bắn vì nguyên cớ gì, và tất nhiên hai đứa ấy đã biết được lý do; còn tôi thì, thú thực là tôi chẳng biết gì cả. Lục lọi trong trí nhớ, từ trước đến giờ mình chẳng làm điều gì có hại cho người Đức. Lúc nào cũng đối xử tử tế, nhã nhặn với họ. Tôi hiểu biết họ ít nhiều, vì lúc còn bé đã theo học một trường của họ ở ngoại thành Hanovre. Tôi nói được tiếng của họ. Tôi còn nhớ là hồi đó, những thằng nhóc con có vẻ đần đần mà cứ luôn mồm la hét toáng lên, hai con mắt thì nhờ nhờ và hay nhìn lén như mắt chó sói; cứ tan giờ học là lại rủ nhau đi sờ soạng bọn con gái ở trong các khu rừng nhỏ quanh đấy, nơi lũ học trò chúng tôi thường chơi trò bắn súng hay bắn nỏ mua vé bốn đồng mác hẳn hoi. Rồi kéo nhau đi uống bia ngọt. Thuở ấy là thế, vậy mà bây giờ chúng nó lại nhằm bắn chúng tôi ngay giữa đường giữa sá chẳng thèm nói trước với nhau một lời, thì quả là đã có một khoảng cách, thậm chí một vực thẳm ngăn cách nhau rồi. Lắm cái khác biệt quá chừng rồi.
Chiến tranh, tóm lại, là tất cả những gì mà chẳng ai có thể hiểu được. Không thể cứ tiếp tục như thế mãi.
Phải chăng những con người kia đã trải qua những cái gì đó khác thường mà tôi chẳng nhận được ra chút nào? Mà mình cũng hà tất phải nhận biết cái đó làm gì.
Tình cảm của tôi đối với họ luôn luôn không có gì thay đổi. Tuy cũng có lúc thử tìm hiểu xem cái tàn bạo ở họ ra sao, nhưng trước hết tôi muốn thoát ra khỏi nơi đây đã, muốn ghê gớm, muốn tuyệt đối, đến mức như mọi cái đó bỗng nhiên hiện ra trước mắt tôi như thể do tác động của một sai lầm khủng khiếp.
“Đã thế này thì chẳng còn quái gì nữa, chỉ còn nước tếch đi thôi”, cuối cùng thì tôi cũng tự nhủ mình như thế...
Trên đầu chúng tôi, cách khoảng hai ly, có lẽ chỉ cách thái dương có một ly, mấy viên đạn vừa rít lên vạch thành hai đường chỉ thép dài nhằm giết chúng tôi, trong cái không khí ngày hè nóng nực.
Chưa bao giờ tôi lại thấy mình vô tích sự giữa những làn đạn và dưới ánh nắng chói chang thế này. Một sự giễu cợt mênh mông, phổ cập.
Hồi ấy tôi mới có hai mươi tuổi. Xa xa là những trang trại bỏ hoang, những nhà thờ trông rỗng toang hoác, cứ như thể bà con nông dân ở đây bỏ cửa bỏ nhà suốt ngày để sang dự lễ hội ở tận bên kia hàng tổng, họ tin cậy giao cho chúng tôi trông giữ tất cả của nả, cả làng quê, những cỗ xe, những chiếc cáng ngổn ngang trên đường làng, rồi cả đồng ruộng, nhà kho, đường sá, cây cối và cả những con bò, con chó bị xích, tất tần tật... Để kệ ai muốn làm gì thì làm trong khi họ vắng mặt. Như thế thì bà con cũng tử tế đấy chứ. “Cứ cho là thế đi - tôi thì thầm - nếu họ không rời đi nơi khác, nếu ở đây vẫn còn có người làng thì chắc chắn không ai lại cư xử bỉ ổi đến thế này! Thật là tồi tệ! Có lẽ chẳng ai dám làm như thế trước mắt bà con đâu! Nhưng còn có ai để mà kiểm soát chúng tôi! Hơn nữa chúng tôi lại đang hăm hở như cặp vợ chồng vừa làm xong lễ cưới, chỉ nhăm nhăm đợi họ hàng khách khứa kéo nhau ra về là hai đứa thả sức làm những trò con lợn”.
Tôi cũng nghĩ thầm (ở sau một gốc cây) rằng có lẽ mình cũng muốn thấy lão ta ở đây, cái lão Déroulède [1*] mà người ta thường nhắc đến, để xem lão làm thế nào khi đón nhận một phát đạn trúng cái bụng căng tròn của lão.
Mấy thằng lính Đức vẫn ngồi chồm hỗm trên đường cái, ngang bướng nhưng xem ra có vẻ là lũ bắn tồi, tuy chúng nó sẵn đạn để mà vung vãi, có thể những ổ đạn của chúng nó vẫn đầy ắp không chừng. Chiến tranh thì rõ ràng là vẫn chưa kết thúc! Đại tá của chúng tôi, phải nói rằng, ông ta có vẻ là con người dũng cảm kinh người. Ông ta cứ thản nhiên tản bộ ngay giữa đường cái, dọc ngang giữa các đường đạn, như người đang chờ đón bạn trên sân ga xe lửa không bằng, chỉ hơi có vẻ sốt ruột một chút mà thôi.
Còn tôi thì xin nói ngay rằng, tôi chưa bao giờ biết được nông thôn ra thế nào, tôi cứ thấy nó buồn buồn, lúc nào cũng chỉ thấy bùn lầy nước đọng, nhà cửa thì chẳng có ma nào ở, đường sá mù mịt chẳng biết dẫn tới đâu. Lại thêm chiến tranh nữa, thật không sao mà chịu được. Đã thế gió lại nổi từng cơn, thô bạo, từ cả hai bên sườn dốc, những hàng dương xào xạc trong gió giật trộn lẫn tiếng đạn réo khô khốc trên đầu. Mấy thằng lính quèn ấy bắn trượt hoài, dẫu rằng trăm nghìn cái chết đang bủa vây mà chúng tôi vẫn cứ thấy rằng mình được bao bọc che chở. Tôi không còn dám cựa mình nữa.
Ông đại tá thì quả là quỷ sứ nhà trời! Tôi có thể đoan chắc rằng lúc này ông ta còn tệ hại hơn cả con chó, không thèm mường tượng đến cái chết là gì nữa! Cùng lúc, tôi nhận ra rằng trong hàng ngũ chúng ta hẳn không ít người can đảm như ông ta, những tay can đảm, và cả phía bên kia cũng có thể như thế lắm chứ. Ai đếm được xem là có bao nhiêu? Một, hai hay nhiều triệu người như thế chăng? Từ đó, cái sợ trong tôi trở thành một nỗi kinh hoàng, cứ với những con người như thế thì sự ngu xuẩn hung bạo này sẽ còn tiếp diễn vô cùng vô tận. Ừ mà tại sao nó phải ngừng lại cơ chứ? Chưa bao giờ tôi thấy ra cái bản án khép cho con người và sự vật lại trở thành thứ định mệnh không sao tránh được như lúc này. Phải chăng tôi là thằng hèn nhát duy nhất trên trái đất? Tôi nghĩ thế, và thấy nó mới hãi hùng làm sao!
Phải chăng tôi đang lạc lõng giữa hai triệu thằng điên anh hùng, không bị xiềng xích và được vũ trang đến tận chân tơ kẽ tóc? Kẻ đội mũ sắt, kẻ không mũ, không ngựa, kẻ cưỡi mô tô la hét, kẻ ngồi trên ô tô bóp còi inh ỏi, lính biệt kích, lính gài mìn, đứa ngồi sau tay lái, đứa quỳ gối, đào xới, ẩn núp hay tung tăng trên những con đường mòn, súng nổ ran như pháo, lắm đứa giam mình trên khoảng đất giống như cái chòi con để thỏa sức tàn phá sạch sành sanh, cả nước Pháp, nước Đức, cả các Lục địa, phá tuốt những gì đang thở, cuồng dữ hơn cả bầy chó dại lên cơn (tất cả những gì mà chó dại cũng không làm), nghìn lần rồ dại hơn cả nghìn con chó dại và còn đồi bại hơn biết mấy! Cứ nhìn thử chúng tôi mà xem, mới đẹp làm sao! Rõ ràng là tôi đã nhận ra điều đó và thấy rằng mình đang lao vào một cuộc thập tự chinh tận thế.
Chúng tôi là những gã trai tơ của sự kinh hoàng cũng như trai tơ của khoái lạc. Khi rời quảng trường Clichy, tôi đâu có thể nghi ngờ được về cái sự kinh hoàng này? Ai thấy trước được rằng mình sắp đâm đầu vào một cuộc chiến tranh chứa đựng cái tâm linh bẩn thỉu, vô tích sự lại mang màu sắc anh hùng của con người? Hiện tại, tôi đang kẹt trong cuộc tháo chạy hàng loạt để lao vào cuộc chém giết chung, vào máu lửa... Cái đó đến từ những nơi sâu kín và nó đã xảy ra kia rồi.
Ông đại tá vẫn không nhúc nhích, tôi nhìn thấy ông ta đứng trên một gò cao, tiếp nhận những mảnh thư của ông tướng gửi đến, rồi xé vụn ra sau khi đọc vội đọc vàng giữa những loạt đạn. Không có mảnh thư nào cho lệnh chấm dứt ngay tức khắc cái trò ghê tởm này hay sao? Từ các cấp trên không ai nói cho ông đại tá biết là có sự lầm lẫn hay sao? Sai lầm kinh khủng? Hiểu lầm? Rằng người ta đã sai lầm? Rằng đó chỉ là những trò người ta muốn bầy ra để cười vui chứ không phải là những vụ giết người! Không đâu! “Tiếp tục đi, đại tá. Ông đang đi đúng hướng đấy!” Đó, có lẽ ông tướng Des Entrayes, chỉ huy cả sư đoàn, thủ trưởng của tất cả chúng tôi, đã viết cho ông đại tá như thế. Cứ năm phút, ông đại tá lại nhận được một phong thư, do một người liên lạc mang đến. Mỗi lần cậu ta phải đem thư đến thì cái sự lại càng làm cho cậu ta tái xanh tái tử và khiếp nhược thêm. Có lẽ tôi có thế kết nghĩa với chàng trai run rẩy ấy! Nhưng ở cái chốn này thì còn hơi sức đâu mà bầy chuyện kết nghĩa anh em.
Như thế là không có chuyện sai lầm sao? Cái trò bắn súng vun vút trên đâu, dẫu chẳng nhìn thấy mặt mũi nhau thế nào, là chuyện không ai cấm đoán sao? Cái đó cũng là chuyện có thế làm như mọi chuyện khác mà không lo ai rầy la sao? Có lẽ những người đứng đắn cũng thừa nhận, khuyến khích, như thể đối với chuyện rút thăm, chuyện hứa hôn hay một trò săn đuổi mà thôi!... Chẳng có gì phải nói! Tôi bỗng như khám phá được ra toàn bộ cuộc chiến tranh này. Y như một chàng trai bị phá tân. Phải gần như đơn độc đối diện với cuộc chiến tranh như tôi lúc này đây thì mới thấy rõ được từ mọi phía, cả nhìn thẳng lẫn nhìn nghiêng cái con bò điên cuồng ác độc ấy. Người ta vừa nhóm lên ngọn lửa chiến tranh giữa chúng tôi và những kẻ đối diện. Và bây giờ thì lửa đã bén, y như ngọn lửa cháy giữa hai thỏi than ở chiếc đèn hồ quang. Và thỏi than chẳng có vẻ gì muốn tàn lụi cả. Tất cả mọi người đang phải lần lượt chui qua cái khe lửa ấy. Ông đại tá cũng như lũ chúng tôi, dầu cho ông ta có tinh khôn thế nào thì cái thứ thịt bèo nhèo của ông ta chắc cũng chẳng quay được giòn hơn thịt da tôi khi dòng lửa lem lém xiên qua giữa hai bờ vai.
Thì ra ở trên đời có vô số cách để mà chịu tội chết. Trời! Vào lúc ấy tôi rất có thể làm cho mình bị cầm tù để khỏi phải dấn thân vào chỗ chết mà sao tôi không làm, thật là một thằng ngốc! Tỉ dụ như gặp được thời cơ, mình cứ ăn cắp một vật gì đó, ở đâu đó, không phải suy tính gì cả, cốt để bị bắt, để được ngồi tù, nhưng đến lúc hết chiến tranh mình được thả ra thì mạng sống vẫn còn. Tất cả những gì còn lại chỉ dặt chuyện ngôn từ thôi.
Giả dụ như tôi còn thời giờ, nhưng đến lúc này thì đã muộn mất rồi. Chẳng còn cái quái gì nữa để mà ăn cắp! Tôi nghĩ thầm, phải chi mình được giam trong một nhà tù nho nhỏ nhưng yên ổn, mũi tên hòn đạn không lọt tới, thì hay biết mấy! Không lọt tới được! Tôi đã từng biết một nhà tù như thế, rất sẵn sàng tiếp nhận mà lại có đủ cả ánh nắng mặt trời sưởi ấm nữa! Trong giấc mơ tôi thấy rõ cái nhà tù ấy, nó ở Saint-Germain, ngay cạnh rừng, ngày trước tôi thường đi qua đó, tôi biết rõ lắm. Mọi cái đã đổi thay rồi! Khi ấy tôi còn trẻ con, mỗi lần đi qua nhà tù là phát khiếp lên. Chỉ vì tôi nào đã biết gì về con người! Giờ thì tôi không còn tin được những gì người ta nói, người ta nghĩ nữa. Chỉ có con người, chỉ có họ là đáng sợ, mãi mãi là thế.
Liệu phải bao lâu nữa lũ quỷ ấy mới dứt cơn điên dại, mới kiệt sức? Cơn điên này còn kéo dài bao lâu nữa? Nhiều tháng? Nhiều năm? Bao nhiêu lâu? Có lẽ phải đến lúc tuyệt diệt cả cái thiên hạ này, cả lũ điên rồ này? Cho đến đứa cuối cùng chăng? Và trong khi mọi sự diễn ra theo chiều hướng tuyệt vọng thì tôi quyết định thử đánh ván bài liều được ăn cả ngã về không, thử đi một nước cuối cùng, tối hậu, tôi, một mình tôi thôi, thử tìm cách chặn đứng chiến tranh lại! Ít nhất thì cũng ở cái xó xỉnh tôi đang có mặt này.
Ông đại tá nhích lên hai bước. Tôi tính nói với ông ta điều mà tôi chưa hề làm. Đến lúc này thì phải dám làm. Ở chỗ chúng tôi đang đứng đây thì chẳng có quái gì để mà lo thua thiệt cả. “Chú muốn gì?”, tôi tưởng tượng đến việc ông ta sẽ hỏi tôi với thái độ rất ngạc nhiên về sự táo bạo dám cắt ngang luồng suy nghĩ của ông, và khi ấy người ta sẽ thấy được ông ta, ngài đại tá, nghĩ gì. Mọi sự chỉ là những gì ta phải tự giải đáp trong cuộc sống. Có điều là muốn làm được việc đó thì hai người vẫn hơn là chỉ có một mình mình.
Tôi đang sắp thực hiện cuộc vận động có tính quyết định ấy thì vừa đúng lúc một anh chàng kỵ sĩ chạy bộ (theo cách gọi thời ấy) cao lêu nghêu, lỉnh kỉnh đủ thứ trên người, rảo bước chân như một vận động viên thế thao, tiến đến phía chúng tôi với chiếc mũ cối lật ngửa trong tay y như tướng Bélisaire ngày trước [2*], người lấm bùn, run rẩy, mặt xanh nhớt hơn cả cậu giao thông lúc nãy. Anh chàng kỵ sĩ lắp ba lắp bắp, dường như muốn chứng tỏ rằng anh ta mới từ dưới mồ lên, thoát ra khỏi một tai họa chưa từng có và đang đau thắt trong tim. Vậy ra cậu chàng này cũng không thích thú gì những đường đạn của con ma ấy chăng?. Hay cậu ta cũng đã nhận ra được những cái đó như tôi? “Cái gì đây”? Ông đại tá chặn cậu ta lại, với giọng bực bội vì bị quấy rầy và ném một cái nhìn lạnh như thép vào cái hồn ma ấy.
Càng nhìn anh chàng kỵ binh khốn khổ trong bộ quân phục chẳng mấy chính quy, thảm hại trong cơn xúc động, ông đại tá lại càng nổi nóng. Ông ta không thế nào chấp nhận những kẻ khiếp nhược. Điều đó là dĩ nhiên rồi. Nhất là cái mũ cối lật ngửa trên tay cậu ta như chiếc mũ quả dưa, đã đủ làm xấu đi thậm tệ cái trung đoàn chủ công này, một trung đoàn đang tiến ra trận tiền. Thế mà cậu ta, cái cậu kỵ sĩ chạy bộ ấy, lại còn làm ra vẻ hoan nghênh cuộc chiến tranh ấy, khi dấn thân vào.
Dưới cái nhìn miệt thị đó, cậu chàng đưa thư chuệnh choạng lập nghiêm, hai tay duỗi thẳng theo đường khâu của ống quần, như tư thế thường thấy trong những trường hợp tương tự. Anh chàng lảo đảo lắc lư, người cứng đơ, trên gò cao, mồ hôi vã ra chảy ròng ròng xuống cổ, hai hàm răng run cầm cập phát ra những tiếng ú ớ như một con chó ngủ mơ. Không còn làm sao mà biết được rằng cậu ta muốn nói với chúng tôi hay muốn khóc.
Mấy thằng Đức chồm hỗm ở phía đằng kia con đường cũng đúng lúc thay xong binh khí. Bây giờ chúng nó dùng súng liên thanh để chơi tiếp những trò ngu xuẩn của chúng; cứ như là chúng nó xòe lửa từng bao diêm lớn một; xung quanh chúng tôi đạn bay vun vút như đàn ong vỡ tổ.
Rồi thì anh chàng cũng mở được miệng, làm liền một lèo:
-Thưa đại tá, thầy đội Barousse vừa hy sinh.
-Sao nữa?
-Trình đại tá, thầy đội bị giết trong khi đi tìm chiếc xe chở bánh trên đường Étrapes.
-Sao nữa?
-Thầy đội bị một quả trái phá nổ tung.
-Rồi sao nữa, đồ khốn kiếp!
-Thưa, có thế thôi ạ, trình đại tá.
-Chỉ có thế thôi à?
-Thưa vâng, tất cả chỉ có thế, thưa đại tá.
-Thế còn bánh thì sao? đại tá hỏi.
Đó là đoạn kết của cuộc đối thoại, vì tôi vẫn nhớ được rằng ông ta chỉ còn đủ thì giờ để hỏi lại vỏn vẹn có một câu: “Thế còn bánh thì sao?” Rồi tất cả cũng chỉ có thế. Và liền sau đó thì chẳng có gì ngoài lửa cháy và những tiếng đạn nổ kèm theo. Tuy nhiên trong những tiếng nổ ấy có một tiếng nổ chát chúa chưa từng thấy. Ngay lập tức, tôi thấy nó tận mắt, nghe tận tai, đầy cả mồm miệng, mặt mũi, ngỡ rằng mình đã hết đời rồi, đã biến thành lửa, thành tiếng nổ luôn rồi.
Nhưng không, lửa tan đi, còn tiếng nổ thì cứ oang oang mãi trong đầu tôi, rồi như có ai đó đứng đằng sau xô đẩy khiến cho chân tay tôi run lên bần bật như sắp sửa rụng rời ra khỏi người. Cứ thế, hai tay hai chân như rụng ra rồi lại lắp vào như cũ. Khói đạn cay sè hai mắt khá lâu, mùi thuốc súng, mùi diêm sinh hăng hắc bám quyện lấy người như muốn trừ tiệt mọi giống chấy rận trên toàn trái đất này.
Liền ngay đó, tôi nghĩ đến thầy đội Barousse bị tan xác như cậu chàng nọ cho biết, đó là một tin hay. Càng tốt! Tôi nghĩ luôn thế này: “ít ra thì cũng bớt đi được một thằng chó chết trong trung đoàn”. Hắn ta đã có ý muốn lôi tôi ra hội đồng kỷ luật chỉ vì một hộp thịt. Tôi tự nhủ: “Thôi thì thằng nào có phận thằng ấy”. Về mặt đó, phải thừa nhận rằng đôi lúc chiến tranh cũng có vẻ phục vụ được cái gì. Tôi còn biết rõ ba bốn thằng rác rưởi khốn kiếp khác trong trung đoàn mà tôi có thể sẵn sàng trợ giúp chúng nó tìm được những viên trái phá như Barousse.
Còn đối với ông đại tá, tôi chẳng muốn nghĩ điều gì xấu cho ông ta. Hơn nữa ông ta cũng đã chết rồi. Trước tiên là tôi sẽ chẳng còn được thấy ông ta nữa. Ông ta đã bị phát đạn nổ hất tung qua cái gò nổi, sóng soài bên sườn gò, và thế quái nào lại rơi luôn vào vòng tay cu cậu kỵ sĩ chạy bộ. Cái anh chàng đưa thư ấy cũng toi mạng. Hai người từ nay sẽ mãi mãi ôm nhau, chỉ tội cho cậu kỵ sĩ bị cụt mất đầu, còn lại có cái cửa mở phía trên cổ, máu vẫn sôi ùng ục ở bên trong như nồi hầm mứt quả. Ông đại tá thì bụng phanh ra toang hoác ruột gan, mặt nhăn nhúm lại đến phát khiếp. Chắc ông ta đã phải qua một cơn đau ghê gớm sau khi trúng đạn. Thôi cứ kệ xác ông ta! Giá mà ông ta chịu rời khỏi chỗ này từ lúc những phát đạn đầu tiên bay đến thì đã không nên nông nỗi.
Cả mấy tảng thịt ấy đều tuôn máu xối xả.
Cả hai bên phải trái hiện trường, đạn vẫn nổ liên hồi.
Không chút chần chừ, tôi bỏ đi luôn, và thật sung sướng có được cái cớ đẹp đẽ để đánh bài chuồn. Thậm chí còn hát lẩm nhẩm trong mồm, tung tăng bước chân như anh chàng vừa thắng cuộc đua thuyền leo lên bờ với đôi cẳng trông đến kỳ cục. “Chỉ một phát trái phá! Chỉ cần một phát trái phá là xong tuốt thôi mà!” tôi nghĩ thầm. Rồi cứ thế lặp đi lặp lại: “Ái chà, anh bạn! Ái chà chà, anh bạn!”...
Trên đường chẳng còn lấy một mống nào. Bọn Đức cũng đã cút rồi. Tuy vậy từ những chuyện vừa xảy ra, tôi rút luôn được bài học là muốn bảo mạng thì phải lẩn vào những rặng cây. Trong lúc hối hả về chỗ đóng quân của trung đoàn xem liệu còn có ai chết trong khi đi trinh sát, tôi cũng thầm nghĩ đến những cung cách để cho quân địch bắt làm tù binh!... Đây đó vẫn còn những đám khói bám trên các mô đất. “Đến lúc này có thể là họ đã chết cả rồi chăng?” tồi tự hỏi. Chỉ vì họ chẳng cần biết sự thể ra sao. Ấy thế mà lại hay, lại thực tế, vì họ đều được chết rất chóng vánh... Như vậy thì mình có thể kết thúc được chuyện này ngay lập tức... Mình sẽ có thể trở về nhà... Có lẽ sẽ qua cả quảng trường Clichy một cách vinh quang... Có lẽ sẽ chỉ còn một vài người sống sót... Trong sự mong muốn của tôi... Mấy chàng trai tử tế, cân đối, đi theo sau ngài đại tướng, còn những cậu khác chắc ngoẻo cả như ông đại tá, như Barousse, như Vanaille (một thằng cha đểu cáng khác)... vân vân... Người ta sẽ phủ lên người chúng tôi đủ thứ huân chương, hoa lá, và tất cả sẽ diễu qua Khải hoàn môn. Mọi người chúng tôi có thể vào các quán ăn, được phục vụ không phải trả tiền, không phải trả bất cứ cái gì cả, suốt đời sẽ không bao giờ phải trả tiền gì nữa! Người ta đã là anh hùng mà! Có ai đó đòi tiền thì người ta sẽ tự xưng như thế. Những người bảo vệ Tổ quốc! Thế là đủ rồi!... Người ta sẽ trả bằng những lá cờ Pháp nho nhỏ!... Các cô thủ quỹ có lẽ cũng sẽ không nhận tiền của các anh hùng đưa trả mà có khi lại còn đưa tiền cho các anh nữa, cùng với những nụ hôn khi các anh đi qua quầy tiền của các cô. Nếu quả là thế thì sống cũng bõ lắm chứ!
Trong lúc chạy trốn, tôi nhận ra cánh tay mình rớm máu, nhưng chỉ mới trầy da tí chút thôi, chưa đủ để được coi là bị thương. Chuyện đó lại bắt đầu.
Trời lại đổ mưa. Các cánh đồng ở vùng Flandres ngập ngụa bùn lầy. Đi một thôi đã khá xa mà chẳng gặp một ai. Chỉ thấy có gió và mãi sau mới ló ánh mặt trời. Thi thoảng một phát đạn vu vơ đâu đó, rít trong tiếng gió, xiên qua ánh nắng, hình như nó vẫn ríu rít, ngoan cố dõi theo tôi, tìm cách hạ sát tôi trong cảnh cô đơn thế này. Sao thế nhỉ? Dẫu tôi có sống lấy một trăm năm nữa thì cũng sẽ không bao giờ thèm đi dạo vùng quê như thế này nữa, thề độc đấy!
Vừa đi tôi vừa nhớ đến cuộc lễ hôm trước. Trên một cánh đồng cỏ ở bên kia đồi, nơi tiến hành cuộc lễ, ông đại tá oang oang hô hào cả trung đoàn: “Hãy dũng cảm lên!... Dũng cảm lên! Nước Pháp muôn năm!” Khi người ta không có trí tưởng tượng thì cái chết chỉ là nhỏ nhoi, nhưng khi đã có rồi thì cái chết lại trở nên quá đáng. Đấy là ý kiến của tôi. Chẳng mấy khi mà cùng một lúc tôi lại hiểu ra được lắm thứ như thế.
Ông đại tá thì có lẽ chẳng có được trí tưởng tượng bao giờ. Tất cả nỗi bất hạnh của ông ta bắt nguồn từ đó. Liệu trong trung đoàn này tôi có phải là kẻ độc nhất có được trí tưởng tượng không? Tôi thích cái chết đến với tôi chậm hơn... Hai chục năm... Ba chục năm... Có thể lâu hơn nữa, mới đến cái mà người ta mong muốn ở tôi, là phải tọng vào mồm thứ bùn đất của xứ Flandres này, tọng thật đầy vào, đầy đến phải ựa ra, ngập lên tận cái mang tai đã bị đạn trái phá bửa ra. Người ta có quyền phát biểu về cái chết của mình chứ. Nhưng để rồi đi đến đâu? Cứ nhằm phía trước mà tiến lên à? Xây lưng lại phía kẻ thù à? Bọn hiến binh mà vớ được tôi đang nhởn nhơ thế này thì cứ liệu hồn. Lập tức, ngay chiều nay thôi, chúng nó sẽ lôi tôi ra xét xử hết sức mau lẹ, không cần nghi thức gì cả, tại một lớp học của ngôi trường bỏ hoang. Khắp những nơi chúng tôi hành quân qua, có khá nhiều trường học trống rỗng. Người ta sẽ diễn trò xử tội tôi giống như bọn học trò chơi trò như thế những lúc thầy cô vừa ra khỏi lớp. Những kẻ mang lon sẽ ngồi trên bục giảng, còn tôi thì phải đứng ở phía dưới, trước dẫy bàn học trò, tay bị còng. Rồi sáng ngày ra, có thể họ sẽ xử bắn tôi: mười hai viên, cộng thêm một viên nữa được gọi là cú gia ơn. Rồi sao nữa?
Và tôi lại nhớ đến ông đại tá. Một con người dũng cảm như ông ta, như tôi đã chứng kiến, dưới những làn đạn liên thanh và đại bác, sẽ được người ta rước đến một rạp ca vũ chật cứng khán giả như rạp Alhambra thuở ấy, với bộ áo giáp trên mình, với mũ sắt và hàng ria, có lẽ ông ta sẽ che lấp cả Fragson, một diễn viên giỏi kinh khủng ở cái thời mà tôi đang kể với các bạn đây. Đó chỉ là tôi nghĩ thế thôi. Tôi nghĩ rằng: “Nào ta hãy hèn nhát đi!”[3*]
Giờ này tiếp giờ khác, cuốc bộ, chui lủi và lò dò từng bước, cuối cùng thì tôi cũng đã thấy được mấy cậu lính cùng đơn vị đang loanh quanh trước một xóm trại. Nơi này là đồn tiền tiêu của chúng tôi. Có một đại đội đóng giữ. Họ cho tôi biết không có ai thương vong cả. Còn sống tuốt! Làm ra vẻ mình đang có một cái tin quan trọng, vừa đến gần cổng đồn, tôi đã gào tướng lên: “Đại tá tử trận rồi!” Nhưng tay đội trưởng Pistil lại đốp chát luôn: “Đại tá thì thiếu đếch gì!”. Chẳng biết tay ấy đang phiên trực gác hay đang bị phạt cỏ vê.
- Thôi nào, trong lúc chờ đợi người đến thay đại tá, thì cậu, thằng cu cà rốt kia, hãy tiếp tục đi tiếp phẩm với hai cậu Empouille và Kerdoncuff. Mỗi cậu vác về đây hai tải nhé. Ở phía sau nhà thờ ấy... Chúng nó đang còn ở đằng ấy cả... Mà này, chú ý đừng có khuân về rặt những xương xẩu như hôm qua nhé, cố xoay xở mà về với tiểu đội trước lúc tối trời đấy, lũ khốn.
Thế là cả ba đứa lại lên đường.
Bực mình, tôi bụng bảo dạ: “Khỏe thế, từ rày ông đếch thèm cho chúng nó biết chuyện gì hết!” Kể lại cái thảm cảnh mà mình vừa chứng kiến cho những thằng như thế chỉ phí lời, mà cũng đã quá muộn rồi, ai còn quan tâm đến những chuyện ấy nữa. Giá mà chuyện này xảy ra sớm hơn lấy tám ngày trước thì may ra người ta còn tương lên bốn cột báo với cả cái ảnh chân dung của tôi, người đã biết tường tận về cái chết anh hùng của một ngài đại tá... Rõ thật lũ đần độn.
Người ta đang chia phần thịt cho cả trung đoàn trên một bãi cỏ, dưới những rặng anh đào và ngay trên bãi cỏ úa vàng vì nắng hạ. Thịt thà đã chia sẵn từng cân quẳng lên những chiếc bao tải và những tấm vải bạt, quẳng cả lên cỏ lẫn đất cát. Từng đống, nào thịt nào lòng, mỡ vàng, mỡ xám, những con cừu bụng bị mổ phanh ra, ruột gan lộn tùng phèo, máu me chảy tràn ra khắp xung quanh. Có cả một con bò bị xả làm đôi, treo lơ lửng lên cành cây, bốn tay đồ tể của trung đoàn vừa gào vừa xỉa dao xẻo từng mảng thịt. Người của tiểu đội này cái nhau với người của tiểu đội kia tranh lấy phần nạc, đùn đẩy mỡ màng, bạc nhạc... Ruồi nhặng vo vo như những bầy chim nhỏ ríu rít.
Chỉ những máu là máu. Máu khắp chỗ. Trên nền cỏ, trên mặt đất. Từng vũng từng vũng, tìm chỗ dốc mà chảy xuôi xuống. Xa đó một tí, người ta đang mổ một con lợn cuối cùng. Bốn cậu lính cãi lộn với một tay đồ tể chỉ vì một khúc lòng.
“Này thằng lưu manh kia, có phải hôm qua mày đã nuốt tươi của ông một miếng lườn bò không?...”
Tôi còn đủ thì giờ để hai ba lần nhìn những cuộc giành giật thực phẩm ấy. Tựa lưng vào một gốc cây, cố nhịn để khỏi nôn mửa, nhưng cũng chỉ được một chốc là đã ngất xỉu.
Kể thì họ cũng còn tử tế, cáng tôi về tận trại, nhưng cũng không hề bỏ lỡ cơ hội, thuổng luôn của tôi hai cái túi bằng vải cao su.
Tôi tỉnh lại trong tiếng xỉ vả của tay đội trưởng. Thế là chiến tranh vẫn chưa qua!