Ở cái xứ thuộc địa Bambola-Bragamance này, ngự trị trên cao hết là một quan Toàn quyền. Mỗi lúc ngài đoái nhìn xuống anh nào, thì các thuộc hạ của ngài, dù là nhà binh hay công chức đều im thin thít, đến cả thở cũng không dám nữa.
Dưới hàng chức sắc này là đám thương nhân đến đây lập nghiệp để ăn cắp và làm giầu hình như dễ hơn ở châu Âu. Trên khắp lãnh thổ, không còn một quả dừa, một hột lạc nào thoát khỏi bàn tay cướp đoạt của họ. Đám công chức biết rằng, khi sức tàn lực kiệt thì chẳng còn trụ được ở chính quốc và sẽ bị ném đến đây, gắn cho vài cái chức tước, giao thêm mấy cái biểu mẫu để điền vào nhưng hầu như chẳng kèm theo chút xìn nào cả. Thế là họ nhòm vào đám thương nhân. Đám quân nhân lại càng thộn hơn hai đám kia, nên chỉ còn biết ngồi mà gặm cái vinh quang xứ thuộc địa, và để nuốt cho trôi cái đó thì đành chịu khó ních vào bụng cho nhiều thuốc kí ninh đồng thời vượt cho đủ số cây số theo Quy chế.
Điều thật dễ hiểu là, trong khi ra sức chờ đợi cho hàn thử biểu hạ xuống, thì mọi người càng ngày càng trở nên tàn ác hơn. Và những cuộc đụng độ riêng lẻ hoặc tập thể kéo dài vô tận và rất kỳ cục giữa đám quân sự với đám hành chính, rồi giữa đám này với đám thương nhân, lại còn giữa những đám liên minh tạm thời này với đám liên minh tạm thời kia, rồi tất cả bọn họ chống người da đen và cuối cùng thì giữa những người da đen với nhau. Thế là, những năng lượng hiếm hoi còn sót lại sau những cơn sốt rét, khát bỏng, nắng rát, lại bị đem thiêu đốt trong hận thù cay độc, dằng dai, khiến cho lắm tay thực dân phải vùi thân tại chỗ, tự đầu độc lẫn nhau, như những con bọ cạp.
Tuy nhiên, cái tình trạng vô chính phủ thật là ác liệt này được ém nhẹm trong một khuôn khổ khép kín, như bầy cua trong rọ. Các nhà công chức sùi bọt mép với nhau thế thôi, và quan Toàn quyền thì tìm cách tuyển người từ nơi khác để duy trì cái xứ thuộc địa dưới sự cai trị của ngài, tất cả những tay bảo an thảm hại mà ngài cần, cũng như hàng nghìn tay da đen nợ nần chồng chất và đói khổ trôi giạt ra vùng duyên hải, buôn bán thua lỗ, kiếm từng bát cháo qua ngày. Người ta dạy cho đám dân này biết thế nào là quyền và cách bái ngưỡng quan Toàn quyền. Có vẻ như quan Toàn quyền cho dát lên trang phục của ngài tất cả số vàng trong ngân khố, và với ánh mặt trời rọi chiếu thì không còn sao tin được vào mắt mình, chưa nói gì đến những lông chim gài lên đó. Hàng năm quan Toàn quyền nốc nước khoáng Vichy và chỉ đọc có Công báo. Số đông viên chức sống trong hy vọng có ngày nào đó được ngài ngủ với vợ họ, nhưng quan Toàn quyền lại không thích đàn bà. Ngài chẳng thích gì cả. Qua mỗi trận dịch sốt rét vàng, ngài Toàn quyền sống sót như nhờ có bùa mê, trong khi khối kẻ mong được chôn ngài lại chết nhăn răng cả lũ như những con ruồi con muỗi gặp cơn dịch hạch đầu tiên.
Người ta còn nhớ trong một ngày Quốc khách 14-7 nọ, trong lúc ngài đi duyệt trước hàng quân sĩ thuộc phủ Toàn quyền, tung tăng giữa đám kỵ binh cảnh vệ, một mình trước lá cờ to bằng này này, thì có một tay đội có lẽ bị lên cơn sốt, lao vào trước vó ngựa của ngài, gào lên: “Lui lại đi, đồ mọc sừng!” Hình như ngài Toàn quyền bị tác động mạnh bởi cái vụ mưu hại mà người ta đành chịu không giải thích được.
Thật khó mà nhìn đoán sự trung thực của những con người và sự vật ở vùng Xích đạo qua những mầu sắc thế hiện. Vì ở đây mầu sắc và sự vật luôn luôn sôi bỏng. Một hộp cá mòi mở ra giữa trưa trên hè phố sẽ tỏa vào mắt ta đủ thứ ánh phản chiếu, tưởng như một tai nạn gì nghiêm trọng. Ta phải cẩn thận, ở đấy không chỉ có những con người cuồng loạn, mà sự vật cũng vậy. Cuộc sống chỉ có thể chịu đựng nổi khi màn đêm đã buông xuống, nhưng bóng tối lại hầu như lập tức bị hàng đàn hàng lũ muỗi rừng chiếm cứ. Không phải một hai hay trăm nghìn con mà hàng tỉ con. Sống được trong những điều kiện ấy quả là một công cuộc tự bảo vệ đích thực. Ngày nhảy múa, tối vào mùng, chiến tranh thì kín đáo.
Khi túp lều đã bị bỏ trống, và lại có vẻ thuận lợi, yên tĩnh, thì mối sẽ kéo đến làm tổ, những con vật nhơ nhớp ấy sẽ vĩnh viễn chiếm cứ, đục khoét hết kèo cột gian lều của anh. Cầu cho cơn gió lốc thổi bay cái rèm đăng-ten lừa lọc này và toàn bộ các dẫy phố bốc hơi đi.
Cái thành phố Fort-Gono mà tôi giạt vào là như thế, đó là cái thủ phủ mỏng manh của xứ Bragamance, giữa rừng với biển, nhưng cũng trang hoàng đủ các thứ cần có cho một thành phố: những nhà băng, ổ điếm, quán cà phê, thềm nhậu, và cả một phòng tuyển mộ, cứ như thể mình là thủ đô chính quốc thu nhỏ đây, không quên một quảng trường Faidherbe và một đại lộ Bugeaud, để đi dạo, một quần thể những ngôi nhà choáng lộn giữa những vách đá nham nhở, nhồi nhét những dòi bọ và bị giẫm đạp bởi các thế hệ nối tiếp những quân đồn trú và những nhà cai trị bỏ chạy thục mạng.
Cái đơn vị nhà binh, cứ khoảng năm giờ, là gào rống lên xung quanh những ly rượu khai vị và rượu mùi mà khi tôi đến đây thì cũng vừa lúc rượu tăng giá. Một phái đoàn các khách hàng kéo nhau đến cầu xin ngài Toàn quyền ra nghị định cấm các tửu quán không được tùy thích đặt giá rượu áp-xanh và cát-xít [62*]. Cứ theo một số người quen thuộc đất này thì chế độ thuộc địa của chúng ta ngày càng cực nhọc vì chuyện nước đá. Việc cho du nhập nước đá vào các thuộc địa, thực tế là tín hiệu của sự yếu mềm hóa các nhà thực dân. Từ nay, bị cột chặt vào ly rượu khai vị có đá theo tập quán, nhà thực dân chối bỏ việc chế ngự khí hậu bằng sự kiên cường chịu đựng duy nhất của anh ta. Điểm lại mà xem, những Faidherbe, những Stanley, những Marchand chỉ nghĩ đến cái hay cái tốt của bia, của vang, của nước ấm ngầu bùn mà họ uống hết năm này qua năm khác có kêu ca phàn nàn gì đâu. Tất cả mọi sự là ở đó. Ta mất các thuộc địa như thế nào là ở đó.
Tôi còn biết được khối chuyện khác dưới bóng mát của những hàng cọ, nhờ thứ nhựa cây của nó thách thức với khí hậu, nên nó mọc sum sê suốt dọc những đường phố với những túp nhà yếu ớt mảnh dẻ. Chỉ có cái màu xanh sống sượng hiếm có này làm cho người ta thấy nơi đây không hoàn toàn giống với La Garenne-Bezons [63*] ở chính quốc.
Đêm đêm, bọn gái điếm bản xứ mời chào chèo kéo khách loạn cả lên giữa những đàn muỗi siêng năng và sỗ sàng dầy đặc như những đám mây gieo rắc bệnh sốt rét vàng. Lại còn cái lực lượng tăng viện người Xu-đăng sẵn sàng hiến dâng cho khách dạo chơi tất cả những gì họ có dưới chiếc xà lỏn. Với giá cả rất ư phải chăng, anh có thể đi lại với tất cả gia đình họ trong một hay hai tiếng đồng hồ. Kể ra nhởn nhơ với hết đĩ cái lại đĩ đực thì cũng khoái đấy, nhưng lúc này tôi buộc phải đi tìm chỗ nào có được việc làm đã.
Người ta bảo tôi rằng Giám đốc Công ty Pordurière Tiểu Congo đang kiếm một nhân viên mới ra trường để trông nom một trong những chi nhánh của lão trong rừng sâu. Không chậm trễ, tôi tìm ngay đến xin nhận những việc không hợp khả năng nhưng sẽ cố làm hết sức mình. Lão Giám đốc tiếp tôi chẳng có vẻ gì là vồn vã. Lão khùng ấy - phải gọi đích danh lão như vậy mới đúng - ở không xa Phủ Toàn quyền, trong một ngôi nhà gỗ lợp rạ khá rộng rãi. Ngay cả trước lúc đưa mắt nhìn tôi, lão đã đặt ra lắm câu hỏi khá thô bạo về quá khứ của tôi, rồi dịu xuống một chút sau những câu tôi trả lời thật là hồn nhiên, cái vẻ khinh khỉnh của lão chuyển thành độ lượng. Tuy vậy lão vẫn còn không chút nào coi tôi đáng để lão mời ngồi.
-Theo các giấy tờ thì anh biết ít nhiều về ngành y? lão nhận xét.
Tôi trả lời lão rằng đúng là tôi có học đôi chút về mặt này.
-Thế thì anh có thể sử dụng cái đó đấy! lão nói. Anh có uống uýt-ki không?
Tôi không uống rượu. “Anh hút thuốc?” Tôi lại từ khước. Sự tiết dục này khiến lão ngạc nhiên... “Liệu anh có phải loại pê-đê [64*]?... Cũng không? Thôi kệ!... Những anh chàng thế này ít ăn cắp hơn những đứa khác... Đó là cái tôi nhận thấy qua kinh nghiệm... À mà họ lại gắn bó với công việc... - có lẽ thấy mình quá lời nên lão sửa lại - Nhưng mà nói chung hình như tôi thấy cái đó là một đức tính của những tay pê-đê, một lợi thế... Anh sẽ chứng minh điều trái ngược chăng!...” Rồi tiếp luôn: “Anh nóng chứ nhỉ? Rồi anh sẽ xoay xở được thôi! Mà cũng phải xoay xở cho quen với cái nóng chứ! Còn chuyến đi thế nào?”
-Tồi tệ! tôi trả lời lão.
-Này, anh bạn, anh vẫn còn chưa thấy hết đâu, anh sẽ cho tôi biết những tin tức về cái xứ sở này sau một năm sống ở Bikomimbo, nơi tôi sẽ phái anh đến thay chân một thằng không đứng đắn ở đấy...
Cô gái da đen, ngồi xổm gần bàn, nắn bóp hai chân lão, gãi chân lão bằng một mẩu gỗ nhỏ.
-Cái con xoăn này, lão chủ bảo cô gái, chạy đi gọi thằng bồi cho tao! Bảo nó đem luôn cả nước đá nữa đấy, nghe không.
Cậu chàng bồi đến quá chậm. Lão giám đốc tức tối, bật lò xo, đứng dậy đón cậu ta bằng hai cái tát kinh khủng và hai cú đá vào bụng dưới kêu đến rõ!
-Lũ này sẽ chỉ làm khổ tao thôi! - Lão giám đốc vừa nói vừa thở dài. Lão buông người xuống chiếc phô tơi bọc vải vàng hoen ố, bở bục.
Bỗng lão thân mật, tử tế với tôi và như thể thanh thoát được một lúc nhờ hành động thô bạo của lão vừa rồi, lão bảo:
-Anh bạn, nhờ anh đưa tôi cái roi và ống thuốc kí ninh... ở trên bàn... Tôi sẽ không nên quá xúc động như thế này nữa... Không kiềm chế được tính khí của mình thì thật là ngốc.
Từ nhà lão trông ra cái cảng sông lấp lánh ở phía dưới, qua lớp bụi dầy đặc mà người ta nghe được những tiếng động lóc xóc nhưng không phân biệt được chi tiết. Những dòng người da đen, trên bờ sông, quần quật dưới roi vọt, dỡ hàng hết khoang này đến khoang khác trên những con tầu không bao giờ trống rỗng, leo trên những cầu tầu rập rình, èo uột, đầu đội từng sọt đầy, cố giữ thăng bằng, trông như những đàn kiến leo thẳng đứng, lẫn vào những tiếng la thét mắng chửi.
Cảnh đó diễn đi diễn lại thành từng chùm đứt quãng qua một vùng hơi nước đọng đỏ ngầu. Lẫn trong những hình hài lao khổ ấy, có một vài hình thù còn thêm một điểm đen nhỏ trên lưng, đó là những người mẹ lang thang đến đây khuân vác thuê lại còn phải địu thêm đứa con. Tôi tự hỏi không biết liệu loài kiến có thể làm được thế không.
-Phải chăng, người ta có thể coi ngày nào ở đây cũng là ngày chủ nhật?... lão giám đốc tiếp tục, với giọng bông đùa. Thật là vui vẻ! Thật là rõ ràng! Bọn đàn bà con gái trần như nhộng hết. Anh có thấy không? Mà lại đẹp nữa chứ! Ở Paris mà thế này thì kỳ lắm, phải không? Dân mình thì luôn luôn quấn một thứ vải chéo trắng, cứ như là đi tắm biển! Như thế chẳng đẹp đẽ gì đâu. Như là đi xưng tội cả với nhau! Còn ở đây, tôi có thể nói với anh rằng luôn như mở hội! Đích thực là một ngày 15 tháng Tám [65*]. Suốt từ đây đến tận Sahara đều thế! Anh nghĩ mà xem!
Lão dừng lại, thở dài, lầu bầu trong mồm, hai ba lần văng tục: “Đồ cứt!”, thấm mồ hôi và lại tiếp tục câu chuyện.
- Nơi anh đến làm việc cho Công ty, nằm trong rừng sâu, ẩm thấp đấy... Cách đây mười ngày đường... Trước hết là biển... Rồi đến sông. Anh sẽ thấy một con sông đỏ ngầu. Và phía bên kia là bọn Tây Ban Nha [66*]... Cái cậu mà anh sẽ đến thay ở phân xưởng ấy, là một thằng đại xỏ lá, anh ghi nhớ lấy nhé... Giữa chúng ta với nhau, tôi nói để anh biết... Không có thể nào mà bắt được nó giao lại sổ sách thanh toán đâu, cái thằng cứt ấy!
Không có cách nào đâu! Tôi đã bao nhiêu lần triệu nó về mà nó cứ ì ra!... Con người ta mà sống một mình là khó giữ lâu được cái tính lương thiện đâu, rồi anh xem! Anh cũng sẽ thấy cái đó!... Hắn ta viết cho chúng tôi rằng hắn ốm... Tôi cũng muốn tin là thế! Ốm! thì tôi đây cũng ốm chứ! Nhưng ốm thì có nghĩa gì nhỉ? Mọi người đều ốm cả cơ mà! Anh cũng thế, rồi anh cũng sẽ ốm, chẳng mấy lúc đến lượt anh sẽ thêm vào đó! Nhưng đấy không phải là lý do! Hắn ốm thì kệ xác hắn! Phải lo đến Công ty trước đã! Đến nơi, cần nhất là trước hết anh đòi hắn kiểm kê!... Ở chi nhánh có đủ lương thực cho ba tháng đấy và lại còn hàng hóa cũng ít nhất đủ dùng cho cả năm... Anh sẽ không thiếu những cái ấy đâu! Chớ có đi vào ban đêm đấy... Anh phải cảnh giác! Những thằng da đen của hắn, hắn có thể phái ra đón anh ở ngoài biển, nhưng chúng nó ném anh xuống biển không chừng đấy. Hắn có thể đã xúi bẩy bọn này! Mà bọn này ranh ma cũng chẳng kém gì hắn đâu! Tôi chắc thế! Hắn có thể đã rỉ tai bọn đen mấy lời về anh!... Ở đây vẫn là thế mà! Anh nhớ mang theo thuốc kí ninh nữa, phần thuốc của anh, cho anh, với anh, trước lúc khởi hành... Chớ có dùng thuốc của hắn, rất có khả năng hắn bỏ cái gì vào đấy!
Lão giám đốc căn dặn tôi bằng ấy thứ, xem thấy đã đủ, lão đứng dậy có ý muốn xua tôi đi. Cái mái trên đầu chúng tôi bằng tôn, có bao nhiêu nóng là cái mái tôn ấy dồn hết cả lên đầu chúng tôi tưởng như nặng đến hai nghìn tấn là ít [67*]. Cả hai nhăn nhó vì quá nóng. Dễ đến gục ngay không thời hạn. Lão nói thêm:
-Có lẽ không cần phải gặp lại nhau trước khi anh khởi hành. Bardamu nhỉ! Ở đây cái gì cũng mệt cả! À mà có thể tôi vẫn sẽ đến kho hàng trước lúc anh lên đường!... Chúng tôi sẽ viết khi nào anh đến nơi... Mỗi tháng có một chuyến thư... Đi từ đây... Nào, chúc anh may mắn!...
Thế rồi lão biến vào trong cái bóng của lão, giữa chiếc mũ cát và cái áo vét tông. Vẫn còn nhìn thấy rõ những đường gân trên cổ, ở phía sau, uốn cong thành hình cung như hai ngón tay đỡ lấy đầu lão. Lão còn quay lại một lần nữa:
-Bảo thằng cha ấy xuống đây mau nhé!... Tôi có vài lời cho hắn đấy!... Bảo hắn chớ có la cà dọc đường! Chà! Cái thằng tồi! Nhất là hắn chớ có bỏ xác dọc đường! Như thế sẽ tai hại đấy! Rất tai hại! Chà, cái thằng cứt đái!
Một chú da đen với chiếc đèn to tướng dẫn tôi đến nơi tạm trú trước ngày khởi hành đến vùng đất hứa Bikomimbo tử tế kia.
Chúng tôi dọc theo những lối đi mà mọi người có vẻ như đang đổ dồn xuống để dạo mát sau lúc hoàng hôn. Tiếng gồng chiêng báo ngày tàn róng rả khắp nơi, lẫn vào đó những tiếng hát hò dồn nén và khó hiểu như những tiếng nấc, màn đêm đen mênh mông của những xứ nóng luôn luôn buông xuống rất nhanh với tiếng trống đổ hồi rộn rã.
Chàng trai dẫn đường cho tôi lướt nhẹ đôi chân trần. Chỗ này hẳn phải có những gã người Âu mặc đồ lính, người ta nghe thấy tiếng họ, tiếng người da trắng, nô rỡn trong đó, rất dễ nhận ra, hung hăng, man trá. Những con dơi không ngừng bay lượn, lao vào những đám côn trùng dầy đặc xúm quanh ngọn đèn hấp dẫn của chúng tôi. Dưới mỗi lá cây có thể ẩn giấu ít nhất cũng một chú dế, cứ theo cái tiếng dế kêu đồng loạt thì đủ thấy.
Đến một ngã tư trên lưng chừng dốc, chúng tôi bị nghẽn lại bởi một đám lính bộ binh bản xứ đang cãi nhau bên một cái quan tài đặt nằm trên mặt đất, phủ lá cờ ba sắc rộng, gió thổi phần phật. Thì ra đó là một người chết ở nhà thương, họ chẳng biết đem chôn ở đâu. Lệnh ban ra rất mơ hồ. Người này bảo đem chôn ở cánh đồng dưới kia, người khác lai đòi đem chôn trong khu lăng trên dốc cao bên bờ biển. Thống nhất ý kiến thế nào đây. Thế là tôi và cậu dẫn đường cũng được góp tiếng nói của mình vào vụ này. Cuối cùng thì đám khiêng quan tài quyết định đem xuống nghĩa địa ở dưới kia hơn là vác lên nghĩa trang trên cao, vì dốc đứng khó trèo. Trên đường, chúng tôi còn gặp ba cậu da trắng rất trẻ cùng nòi giống với những tay thường thấy trong những trận bóng bầu dục ngày chủ nhật ở châu Âu, những khán giả si mê, hùng hổ và xanh xao. Ở đây họ cũng là những nhân viên của Công ty Pordurière như tôi. Họ nhã nhặn chỉ đường cho chúng tôi tới ngôi nhà xây dở dang là nơi tôi tạm thời được dành cái giường tháo gấp, xách tay.
Chúng tôi đi đến đó. Đúng là căn nhà còn trống trơn, ngoại trừ mấy cái đồ làm bếp và cái gọi là giường của tôi. Tôi vừa ngả lưng xuống cái giường mảnh như sợi chỉ, lúc lắc đu đưa, thì hai chục con dơi từ các xó nhà ào ào bay ra, lượn tới lượn lui vỗ cánh ầm ĩ trong sự nghỉ ngơi đày khiếp sợ của tôi.
Chú nhỏ da đen, người dẫn đường cho tôi, quay trở lại định mời cái món phục vụ thầm kín của chú, nhưng tối hôm đó tôi không hào hứng gì về chuyện ấy, cậu ta thất vọng bèn giới thiệu luôn cho tôi cô chị gái. Tôi băn khoăn tự hỏi không biết cậu ta làm thế nào mà tìm được cô chị giữa đêm tối thế này.
Tiếng trống thì thùng từ ngôi làng sát ngay đó khiến cho anh nẩy cả người lên, băm cái kiên nhẫn của anh ra từng mảnh nhỏ. Hàng nghìn con muỗi nhanh nhẹn không bỏ phí thời gian chiếm lĩnh luôn hai đùi tôi trong khi tôi không dám thả chân xuống nền nhà vì những con bọ cạp, và cả những con rắn độc mà tôi chắc rằng cuộc săn đuổi kinh tởm của chúng đã bắt đầu. Thật ra thì lũ rắn thích bắt chuột hơn, tôi nghe thấy chúng đang nhấm nháp những con chuột, ở bất cứ chỗ nào chúng có thể bám được, trên tường, trên sàn và run rẩy cả trên trần.
Cuối cùng thì mặt trăng cũng đã lấp ló, và căn phòng yên tĩnh hơn một chút. Tóm lại thì sống ở thuộc địa chẳng hay ho gì.
Dù thế nào thì một ngày nữa cũng đến ở cái lò lửa này. Một nỗi khát khao kinh khủng đè nặng cả thể xác lẫn tâm hồn tôi: được trở lại châu Âu. Chỉ thiếu tiền để mà tếch thôi. Có cái đó là xong tất. Hơn nữa tôi cũng chỉ còn một tuần ở Fort-Gono trước khi đến nhận việc ở Bikomimbo, được mô tả khá thú vị.
Sau Phủ Toàn quyền thì tòa nhà lớn nhất Fort-Gono là nhà thương. Trên suốt đoạn đường tôi đi, cứ trăm thước trong thành phố lại gặp một cơ sở của nhà thương, mùi a-xít phê-nôn nồng nặc bay xa. Đôi lúc tôi đi liều ra tận các bến cảng để xem cảnh lao động tại chỗ của mấy cậu bé thiếu máu đồng nghiệp của tôi do Công ty Pordurière tuyển mộ từ Pháp sang với sự bảo trợ toàn bộ. Hình như các cậu ta bị ám ảnh vào một cuộc giành giật hối hả để không phút nào ngừng việc dỡ hàng lên chuyển hàng xuồng hết con tầu này đến con tầu khác. “Một con tầu kẹt ở cảng là tốn kém lắm”, các cậu ta ngao ngán nhắc nhở nhau một cách thật thà như vậy, tưởng chừng đấy là tiền bạc của các cậu không bằng.
Các cậu cuồng nhiệt hối thúc những người phu khuân vác da đen. Hăng hái thì không ai chối cãi, nhưng cũng hèn hạ, tàn ác như lòng hăng hái của các cậu vậy. Tóm lại, đó là những nhân viên bằng vàng, được chọn lọc, một sự nhiệt tình vô thức vẩn vơ. Những đứa con như mẹ tôi hằng mơ ước, những đứa nhiệt tâm với các ông chủ của chúng, mẹ chỉ mong có được một đứa như thế cho riêng mẹ, một đứa có thể làm cho mẹ mở mày mở mặt với thiên hạ, một đứa con thật là đích đáng.
Những chú bé mầm non mới nhú này đến châu Phi xích đạo để hiến thịt xương cho các ông chủ, hiến máu, hiến cả cuộc đời, cả tuổi thanh xuân, những kẻ hy sinh vì hai mươi hai quan một ngày [68*](lại còn bị khấu trừ nhiều khoản), thỏa mãn, dù thế nào cũng cứ thỏa mãn, cho đến lúc cái hồng cầu cuối cùng bị con muỗi thứ một vạn hút nốt.
Xứ thuộc địa sẽ làm cho các chú bé ấy phổng phao lên hay teo tóp đi, nhưng nó kìm giữ các chú lại. Chỉ có hai con đường đi tới kiệt sức dưới ánh mặt trời, con đường béo tốt hay con đường gầy ốm. Không có con đường nào khác. Tha hồ chọn, nhưng còn tùy thể tạng của anh, béo lên hay chỉ còn da bọc xương.
Lão giám đốc ở trên vách đá đỏ cao vót kia, múa may tai quái, với cô gái da đen của lão, dưới tấm mái tôn chứa mười nghìn cân ánh nắng cũng không thoát khỏi cái nợ đời này đâu. Lão thuộc loại gầy. Lão chỉ phải vật lộn thế thôi. Lão có vẻ như chế ngự được khí hậu. Bề ngoài đấy thôi! Trong thực tế, lão đang bị vắt kiệt hơn ai hết.
Người ta cho rằng lão đang có một kế hoạch biển thủ tuyệt vời để làm giầu trong vòng hai năm... Nhưng lão chưa lúc nào có đủ thì giờ để thực hiện cái kế hoạch ấy, mặc dầu ngày đêm lão giở đủ mánh khóe để lừa gạt công ty. Hai mươi hai tay giám đốc trước lão đã mỗi người mỗi cách tính chuyện làm giầu như đánh bạc cò quay. Nhưng tất cả những trò ấy đều bị các chủ cổ đông theo dối từ bên kia, từ trên cao hơn, ở tận phố Moncey bên Paris [69*] và khiến họ cười tủm. Tất cả chỉ là trò con nít. Bản thân những tay cổ đông ấy vốn là đại bợm như ai, biết tỏng lão giám đốc là một thằng cha tim la và đang điên cuồng giẫy giụa ở vùng Xích đạo, ngốn kí ninh và bít mút đến vái rắm và dùng axêních đến tụt cả lợi.
Cứ như bộ phận tổng kế toán của Công ty, thì những tháng còn lại của lão giám đốc đã được tính xong, và được tính như những tháng của một con lợn trong chuồng.
Các đồng nghiệp bé nhỏ của tôi chẳng phải trao đổi ý kiến cái quái gì với nhau. Toàn là những công thức đã có sẵn, hâm đi hâm lại. Họ bảo nhau: “Đừng làm thế!”. “Đâu vào đấy thôi!...” “Lão tổng đại lý bị mọc sừng!...” “Bọn đen thì phải gọt chúng thành túi thuốc thôi!”, v.v...
Buổi tối, các công việc nặng nhọc cuối cùng xong xuôi, chúng tôi ngồi nhấm nháp với nhau vài ly khai vị, có cả một tay nhân viên phụ động của ban Quản trị, tên là Tandernot, quê ở La Rochelle [70*]. Tay này chuyên la cà trong đám nhà buôn để kiếm chút rượu. Phải thế thôi mà. Chức tước đã mất sạch. Chẳng có đồng xu nào dính túi. Vai vế của hắn không còn đâu thấp hơn trong cái hệ thống thuộc địa này. Công việc của hắn chỉ còn như một tay cai lục lộ, trông nom phu làm đường trong rừng sâu. Dân bản xứ tất nhiên là phải lao động ở đó dưới roi vọt của những dân vệ của hắn. Nhưng người da trắng đã chẳng ma nào bước chân lên những con đường mới mở của Tandernot, mà người da đen thì len lỏi đường mòn trong rừng để đỡ được đồng thuế nào hay đồng đó, mà xét cho cùng những con đường của ban Quản trị cũng chẳng đưa Tandernot đến đâu, thế là chỉ tháng trước tháng sau các con đường ấy biến tất dưới những đám cỏ dại mọc rất mau.
- Năm ngoái tớ mất đứt 122km đường! bậc tiên phong siêu phàm ấy vui vẻ kể với chúng tôi về những con đường của hắn. Các cậu tin hay không là tùy!...
Trong những ngày ở đây, chỉ có một lần tôi thấy hắn ta khoác lác, theo kiểu khoe khoang khiêm nhường của Tandernot. Đó là hắn vỗ ngực tự cho mình là người Âu duy nhất sống trong cái nóng 44 độ trong bóng râm mà chỉ bị xổ mũi... Món độc đáo này an ủi hắn ta qua mọi sự... “Tớ đang còn xổ mũi như một con bò cái đây! Hắn vênh mặt lên cho chúng tôi biết điều đó trong lúc uống khai vị với nhau. Chỉ có tớ mới được thế thôi chứ! - Tay Tandernot này dù sao cũng ra trò đấy!” các thành viên trong cái nhóm nghèo kiết chúng tôi reo leo. Thôi thì thỏa mãn được thế là tốt rồi, còn hơn không. Đã là khoe khoang thì có gì khoe nấy, còn hơn chẳng có gì để mà khoe.
Một trong những trò tiêu khiển khác của cái nhóm lương còm của Công ty Pordurière này là bầy trò thi sốt rét. Chẳng khó khăn gì nhưng phải đua nhau trong nhiều ngày, mất khá nhiều thì giờ. Tối tối là lúc cơn sốt đến, hầu như chuyện thường ngày, mọi người đo nhiệt độ của mình. “Xem này, tớ được ba mươi chín!... - Này cậu ơi, đừng vội, tớ những bốn mươi cơ!”
Những kết quả ấy hoàn toàn chính xác và hợp cách. Dưới ánh đèn măng sông, các cặp mạch được mang ra so. Kẻ thắng cuộc vừa reo mừng vừa run lẩy bẩy. Cái cậu hốc hác nhất đám thú thật: “Tớ đổ mồ hôi đến không còn đái ra được nữa!” Đó là một cậu đồng sự gầy gò, người Ariège [71*], vô địch về sốt rét, cậu ta tâm sự với tôi rằng sang đây là để tránh khỏi phải đi học trường dòng ở quê nhà, vì ở đó “không được tự do cho lắm”. Nhưng thời gian trôi qua mà chẳng cậu nào có thể nói cho tôi biết xem cái tay tôi sắp đến thay ở Bikomimbo thuộc hạng người gì.
“Một tay kỳ cục đấy!” họ chỉ cảnh báo cho tôi thế thôi.
Cậu nhỏ người Ariège trong cơn sốt dữ vẫn còn mách giúp tôi: “Đến cái xứ thuộc địa này, việc đầu tiên là anh phải trổ hết tài của mình! Có gì là trổ ra bằng hết! Đối với lão giám đốc này thì anh sẽ là một thỏi vàng hay chỉ là một cục cứt! Anh sẽ được đánh giá ngay lập tức, đấy rồi anh xem!”
Tôi rất sợ bị đem ra đánh giá, chẳng biết mình có được xếp vào loại “cục cứt” hay còn tệ hơn nữa.
Mấy chú bạn trẻ buôn da đen [72*] đưa tôi đến thăm một đồng sự khác của cái Công ty Pordurière rất đáng để ta biết đến trong câu chuyện này. Cậu này được giao cho trông nom một cửa hàng nằm ở giữa khu người Âu. Người cậu ta mốc thếch vì mỏi mệt, suy sụp, ướt nhẫy, cậu ta sợ mọi thứ ánh sáng vì bệnh khô mắt do hai năm liên tục bị nung người dưới những tấm tôn lượn sóng. Cậu ta bảo, sáng nào cũng phải mất nửa giờ đồng hồ mới mở được mắt rồi lại thêm nửa giờ nữa mới trông được cho rõ. Mọi tia sáng đều làm cho cậu ta khó chịu. Y hệt một con chuột chũi to tướng ghẻ lở đầy mình.
Đối với cậu ta, ngột ngạt và đau đớn đã trở thành một trạng thái thứ hai, ăn cắp cũng thế. Có lẽ người ta không đến nỗi làm cho cậu ta bị tàn phế nếu như cùng một lúc giúp cậu ta khỏe khắn và chu đáo hơn. Cho đến hôm nay, dẫu xa cách ngàn trùng, tôi vẫn như còn thấy rõ sự căm hờn của cậu ta đối với lão Giám đốc tổng đại diện, một thứ căm hờn hừng hực dai dẳng nhất mà tôi chưa từng gặp ở một con người. Xuyên qua nỗi đau đớn và gặp được dịp là cơn tức giận dữ dằn của cậu ta lại bùng dậy khiến cậu ta vừa phát khùng vừa cào gãi khắp người từ trên xuống dưới.
Cậu ta gãi không ngơi tay, có thể nói là quay cuồng gãi quanh người, gãi từ đốt xương sống dưới cùng lên tận cổ. Da thịt cậu ta hằn lên những vết móng tay cào xước ứ máu. Thế nhưng cậu ta vẫn không ngừng tiếp khách, khá đông, phần nhiều là dân da đen, ít nhiều trần truồng.
Với bàn tay để rỗi, cậu ta bấn bíu thọc vào những ô chứa, bên phải rồi bên trái cái quầy hàng tối om, lôi ra không chút lầm lẫn, khéo léo và nhanh nhẹn rất tuyệt, từ những bó thuốc lá hôi xì, những bao diêm ẩm, những hộp cá mòi và những thìa tướng nước mật những chai bia nồng độ cồn cao dễ bị cậu ta để tuột tay vì cơn ngứa ran trong tận đũng quần. Cậu ta thọc cả cánh tay vào rồi rút tay liền qua cửa quần luôn luôn hé mở phòng hờ.
Cậu ta gọi căn bệnh gậm nhấm da thịt ấy bằng cái tên địa phương “Corocoro”. “Cái con bò cái Corocoro độc ác ấy!” Cậu ta nổi đóa: “Mỗi khi tớ nghĩ đến thằng cha Giám đốc đểu cáng ấy chưa mắc phải Corpcoro là bụng tớ càng đau quặn lại!... Hắn ta chưa bị Corocoro ư!... Hắn đã quá thối rữa. Hắn không còn là người nữa, cái thằng ma cô ấy, đó là đồ hôi thối!... Đúng là một cục cứt!...”
Chính vì thế mà tất cả rộ lên tiếng cười đùa và các khách hàng da đen cũng cười theo. Cậu bạn ấy làm cho chúng tôi hơi kinh ngạc. Tuy thế cậu ta vẫn đánh bạn thân với một tay nhỏ nhắn, tóc đã muối tiêu, thở hổn hà hổn hển, lái xe tải cho Công ty Pordurière. Tay này thường mang đá đến cho chúng tôi, tất nhiên là lấy cắp ở đâu đó, trên các con tầu ngoài bến.
Chúng tôi chạm cốc chúc sức khỏe trên quầy hàng, giữa đám khách da đen đứng thèm nhỏ rãi. Đây là những khách hàng bản xứ đã khá táo tợn mới dám sán gần đám da trắng, tóm lại đây cũng là loại chọn lọc. Những dân da đen khác, kém láu lỉnh, thường giữ khoảng cách. Theo bản năng. Những tay ranh ma hơn, đã biến chất, thì trở thành những thương lái của nhà hàng. Trong cửa hàng người ta dễ phân biệt ngay bọn thương lái, vì chúng hay lớn tiếng rầy la những người da đen khác. Cậu đồng sự “corocoro” mua cao su thô người ta đem từ trong rừng ra từng bao tải hay từng tảng còn ướt.
Lúc ấy chúng tôi còn đang ở đó, nghe chưa chán chuyện thì có một gia đình cạo mủ cao su, rụt rè đứng sững ngay ngoài ngưỡng cửa. Người cha đứng trước, nếp nhăn trên mặt, mình quấn cái xà lỏn bé teo mầu da cam, con dao phát rẫy trên tay.
Con người hoang dã ấy chưa dám bước vào. Một trong những tay thương lái bản xứ lên tiếng gọi: “Vào đây nào thằng mọi đen [73*]! Vào xem đây này! Chúng tao không ăn thịt bọn mọi đâu!” Lời mời ấy khiến họ quyết định. Họ bước vào cái nhà [74*] nóng hầm hập, tận sâu trong đó con người “corocoro” của chúng ta đang la hét.
Người da đen ấy hình như chưa bao giờ thấy một cửa hiệu, có lẽ cũng chưa bao giờ thấy người da trắng. Một trong những người vợ của anh ta bước theo sau, mắt nhìn xuống, trên đỉnh đầu đội một sọt tướng đầy cao su thô.
Mấy tay thương lái hống hách giằng lấy cái sọt ném lên bàn cân. Con người hoang dã kia làm sao biết cho được cái cân ấy gian manh thế nào. Người vợ vẫn chưa dám ngẩng đầu lên. Những người da đen khác cùng gia đình đứng chờ ở ngoài, giương mắt nhìn thô lố. Họ gọi nhau vào tất, cả trẻ con người lớn vào tuốt, để khỏi bỏ lỡ cảnh tượng này.
Đây là lần đầu tiên họ kéo nhau từ trong rừng ra gặp người da trắng ở thành phố. Từ rất lâu rồi, cả nhà họ phải bỏ công sức ra để hứng được chỗ mủ cao su ấy. Thế cho nên ai cũng chăm chăm chờ xem kết quả. Chờ đợi cho mủ cao su giỏ giọt xuống đầy những chiếc chén con buộc dưới thân cây là mất nhiều công lắm. Thường khi, hai tháng trời mà không được đầy lấy một chén con con.
Cân xong, cậu chàng gãi ghẻ của chúng ta dẫn người cha, sửng sốt, đến sau chiếc quầy với một cây bút chì tính toán một hồi rồi đặt vào lòng bàn tay anh da đen mấy đồng tiền bằng bạc, bảo: “Thôi cút! Tiền trả rồi đấy nhé!...”
Tất cả đám bạn nhỏ da trắng rũ ra cười, như thể chính chúng nó vừa trúng quả. Anh da đen chôn chân tiu nghỉu trước quầy với cái quần xà lỏn bé teo quấn quanh hạ bộ.
“Thế nào, mày chưa biết đồng tiền ra sao à? Thằng mọi!” Một trong những tay thương lái tháo vát và thạo nghề của chúng ta can thiệp vào như để đánh thức anh da đen. Bọn họ chắc chắn là đã được rèn luyện cho những vụ mua bán ăn người này. “Mày không nói được francé [75*]sao mày? Mày là con bú rù à?... Sao không nói gì thế? Kous Kous? Mabillia? Mày là thằng ngốc! Bushman! Thằng đại ngốc!”
Trước mắt chúng tôi vẫn là người hoang dã nắm trong tay những đồng tiền. Nếu dám thì anh ta rất có thể đã đi thoát nhưng anh ta lại không dám.
“Mày thử xem bằng ấy xìn thì mày mua được cái gì nào? - cậu gãi ghẻ can thiệp vừa đúng lúc. Từ bao lâu đến giờ tao chưa thấy đứa nào lại ngốc đến thế. Thằng này có dễ phải đến từ xa lắm! Thế mày muốn gì nào? Thôi, đưa chỗ xìn ấy cho tao!”
Cậu ta hống hách giằng lại chỗ tiền và thế vào những đồng tiền đó, cậu ta dúi vào tay anh kia một cái khăn rộng xanh lè mà hắn vừa nhẹ nhàng nhón ra từ một cái hộc trong quầy.
Người cha da đen ngập ngừng cất bước với chiếc khăn. Cậu gãi ghẻ càng làm già. Rõ ràng là cậu ta biết đủ mọi mánh khóe buôn bán của kẻ chinh phục. Phất mạnh miếng vải xanh mỏng dính trước mắt một trong những đứa con da đen lít nhít, hắn liến thoắng: “Chú bé, nào chú có thấy chiếc khăn này đẹp không nào? Cô gái nhỏ xinh xắn, em có luôn luôn được thấy cái này không, nào con bé chó chết, nào thằng cu tóc xoăn, có thấy những cái khăn thế này bao giờ chưa?” Thế rồi cậu ta tự tiện buộc cái khăn lên cô anh da đen như mặc quần áo cho anh ta vậy.
Cả cái gia đình hoang dã ngắm nghía vật trang điểm nhỏ nhoi là miếng vải bông xanh ấy... Chẳng còn làm gì được nữa khi mà cái khăn bỗng dưng vào với gia đình. Chỉ còn nước chấp nhận, cầm lấy nó và bảo nhau đi.
Tất cả đành từ từ rút lui, ra khỏi cửa, và trong lúc người cha, đi sau cùng, ngoái lại định nói gì đó thì thằng cha thương lái láu lỉnh nhất, chân mang giầy, hối thúc anh ta bằng một cú đạp chiếc bốt vào giữa hai mông đít.
Toàn bộ cái bộ lạc bé nhỏ ấy lặng lẽ tập hợp nhau lại ở bên kia đường phố Faidherbe, dưới tán cây ngọc lan, nhòm chúng tôi cạn nốt những ly rượu khai vị. Có lẽ họ đang cố hiểu xem chuyện gì vừa xẩy ra với họ.
Chính cu cậu “corocoro” đã thết chúng tôi. Cậu ta còn mở máy hát nữa. Trong cửa hiệu của cậu ta chẳng thiếu thứ gì. Điều đó lại gợi cho tôi nhớ đến những chuyến công voa trong chiến tranh.