Chẳng cần vật lộn làm gì, cứ chờ đợi là đủ, vì cái gì thì cuối cùng cũng phải ló ra ngoài đường phố. Xét cho cùng thì chỉ có đường phố là đáng kể. Chẳng có gì mà nói. Đường phố đang chờ ta. Phải xuống đường thôi, phải quyết định đi thôi, không phải chỉ một, hai hay ba trong chúng ta mà tất cả. Cứ đứng đấy mà làm bộ làm tịch, rồi nó cũng đến thôi.
Trong các nhà, chẳng có gì tốt. Cứ mỗi cánh cửa đóng lại sau một người, là anh ta bắt đầu ngay việc ngửi hít và tất cả những gì trên người anh ta cũng bốc mùi. Anh ta lỗi thời ngay tại chỗ, cả thể xác lẫn tâm hồn. Anh ta thối rữa. Nếu con người có bốc mùi, thì cũng là điều tốt với chúng ta. Ta phải chú tâm đến họ! Phải lôi họ ra, tống cổ họ đi, phơi bầy họ ra. Tất cả những gì bốc mùi đều ở trong phòng dù có điểm trang thì vẫn bốc mùi.
Nói về các gia đình thì tôi biết một tay được sĩ thế này này, ở phố Saint-Ouen, ngoài cửa hàng dán một tấm áp phích rất đẹp, một quảng cáo rất hay: Ba quan một hộp, xổ cho cả nhà! Chuyện hay nhỉ! Phát ợ ra mất! Cùng nhau làm, trong gia đình. Ghét nhau đến hộc máu, nhưng đã là tổ ấm thật sự thì ai lại đòi hỏi, bởi vì dẫu sao vẫn còn rẻ hơn là đi ở khách sạn.
Lại nói về khách sạn, nó đỡ cho mình phải lo lắng hơn, không kiêu kỳ như một căn hộ, ở đó ta cảm thấy đỡ tội lỗi hơn. Cái giống người là chẳng bao giờ chịu ở yên, mà muốn đạt được lời phán xét cuối cùng của Chúa, không phải trên đường phố như thường xẩy ra, thì tất nhiên ở khách sạn sẽ được gần hơn. Các thiên thần có thể mang kèn tù và đến đó và chúng ta sẽ là những người đầu tiên được dẫn đi khỏi khách sạn.
Người ta cố không để quá lộ mặt ở khách sạn. Chẳng làm quái gì cái đó. Ngay sau khi mình to tiếng với nhau một tí hay là để xảy ra luôn chuyện cãi cọ, là không hay rồi, là người ta đã theo dõi rồi. Đến cả chuyện đi đái vào lavabô cũng không dám, vì lo phòng này phòng kia nghe thấy cả. Cuối cùng thì phải làm việc đó theo cách của các sĩ quan hải quân. Chẳng lúc này thì lúc khác, chuyện gì cũng có thể động trời được, người ta sẵn sàng, và cóc cần đến chúng ta, vì mỗi ngày nội một việc gặp nhau trong hành lang khách sạn đã có đến mười lần “xin lỗi”, nhàm quá rồi.
Phải tập phân biệt mùi từng người cùng một cầu thang với mình, trong các nhà vệ sinh, chuyện ấy đơn giản thôi. Cái khó là tự dối mình trong những phòng cho thuê đã có sẵn đồ đạc. Khách trọ là họ không ưa những cái lòe loẹt phù hoa. Ngày lại qua ngày, họ đi đây đi đó một cách kín đáo, không muốn để ai biết mình, trong một khách sạn cũng như trên một tàu thủy có thể đã hư mục lỗ chỗ.
Cái khách sạn tôi đến ở là nơi hấp dẫn trước hết các sinh viên ở dưới tỉnh lên. Cứ bước lên những bậc thang đầu tiên là đã ngửi thấy mùi khói thuốc lá và mùi thức ăn điểm tâm. Còn ban đêm thì từ xa đã nhận ra khách sạn vì ánh đèn lờ mờ trên khung cửa và những hàng chữ rỗng ruột mạ vàng treo trên ban công như cái máng cỏ cũ to tướng. Một nhà trọ như con quái vật đần độn vì những mưu mô cáu bẩn.
Từ phòng này sang các phòng khác, qua hành lang, người ta thăm hỏi nhau. Sau những năm làm ăn thảm hại trong đời sống thực tiễn, những cuộc mạo hiểm như người ta nói, tôi trở về với họ, các sinh viên.
Những ước ao của họ vẫn là thế, vững vàng và già cỗi, nhạt phèo không hơn không kém ngày trước, khi tôi rời ghế sinh viên. Con người có thể thay đổi còn ý niệm thì không. Cũng vẫn thế, người này người nọ, lại rủ nhau đi gặm ít nhiều về y học, vài mẩu hóa học, vài viên luật học, và toàn bộ động vật học, vào những giờ gần như đều đặn, ở đầu bên kia khu phố. Chiến tranh lướt qua trường lớp của họ đã chẳng xáo động chút gì ở họ và khi ta, bằng tình cảm, hòa nhập vào những mông mơ của họ thì họ đưa ta thẳng một lèo đến tuổi bốn mươi sau này. Nghĩa là họ tự ứng trước cho họ hai mươi năm, hai trăm bốn chục tháng với những sự dè sẻn bền bỉ để tạo ra một hạnh phúc.
Đó lạ một bức tranh dân gian vùng Épinal [124*] dùng vào việc thực hiện giấc mơ hạnh phúc và thành đạt của họ, nhưng có tuần tự lớp lang và chau chuốt hơn. Họ tưởng tượng đến một bức hình trong đó họ đứng giữa một gia đình không đông lắm nhưng khó ai sánh được và quý báu đến phát cuồng lên. Tuy rằng, có thể nói họ chẳng bao giờ nhòm ngó gì đến gia đình họ hiện nay. Chẳng cần. Gia đình được dựng nên cho tất cả, ngoại trừ cái việc được ngó ngàng tới. Trước hết đó là cái quyền uy của ông bố, hạnh phúc của ông, được ôm hôn cả gia đình nhưng chẳng bao giờ thèm ngó ngàng đến, cái chất của ông mà.
Về mặt mới mẻ thì họ sẽ có mùa hè ở Nice, đi bằng ô tô với người vợ sẵn hồi môn, và có thể áp dụng lối chuyển ngân qua ngần hàng. Đối với những chuyện hổ thẹn về tinh thần, có lẽ một tối nào đó dẫn luôn cả vợ đến nhà thổ. Không hơn nữa đâu. Cái gì còn lại trên thế gian đều nằm cả trong các báo hàng ngày và được cảnh sát canh giữ.
Việc cư trú trong khách sạn có lúc khiến cho các bạn trẻ của tôi hơi ngượng nghịu và dễ bị kích thích. Cu cậu sinh viên trẻ măng con nhà trưởng giả cảm thấy như bị tù túng, và biết rằng mình chưa thể có tiền mà để dành, cu cậu bèn đua đòi lối sống phóng đãng để khuây khỏa và ngày càng lao sâu vào đó.
Vào những ngày đầu tháng, bọn chúng tôi rơi vào một cơn khủng hoảng ngắn nhưng thật sự về chuyện dâm dục, cả cái khách sạn rung lên. Tiêu sài thả cửa. Tổ chức với nhau một cuộc săn ái tình. Chả là đều nhận được tiền ở dưới tỉnh gửi lên mà. Bản thân tôi, có lẽ có thể kiếm được khoản này với các cô gái vũ nữ Anh ở Tarapout mà lại chẳng tốn tiền nữa, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi đã loại bỏ sự dễ dãi này phần vì ngại sinh chuyện, phần nữa do mấy đứa cùng làm ở đó, những thằng ma cô ganh ghét khốn khổ, luôn luôn bám lấy các cô gái ở hậu trường.
Do chúng tôi đọc nhiều tờ báo con lợn trong khách sạn nên biết được khá nhiều thủ đoạn và nơi chốn để làm tình ở Paris! Phải thú nhận rằng các địa chỉ ấy cũng hay hay. Thế là chúng tôi bị lôi cuốn, kể cả tôi là đứa đã từng qua lại hẻm Bérésinas [125*] và đi đây đi đó, biết rõ những ngóc ngách của trò con lợn này, nhưng hình như cuộc săn đuổi những chuyện kín vẫn chưa hoàn toàn cạn kiệt với mình. Trong người vẫn cứ luôn luôn tiềm tàng một chút gì kỳ cục dành cho cái hạ bộ. Ta tự nhủ rằng cái hạ bộ thì có dạy được ta gì đâu, nhưng rồi ta chẳng bỏ phí giây phút nào về nó, thế rồi ta lại bắt đầu một lần nữa tuy chỉ nhằm có mỗi việc là biết đích xác nó thật trống rỗng và dù sao thì người ta vẫn biết được một vài cái mới về nó và thế là đủ cho anh lại bắt đầu hào hứng lạc quan...
Bình tĩnh lại, ta suy nghĩ sáng suốt hơn trước, ta lại bắt đầu hy vọng trong khi ta chẳng hy vọng cái gì cả và tất nhiên là ta lại quay lại phía sau với cùng một giá. Tóm lại thì đối với tuổi nào cũng vẫn có những khám phá trong cái ấy của đàn bà. Vậy là một buổi chiều, đây là tôi kể lại chuyện đã qua, ba người khách trọ chúng tôi trong khách sạn rủ nhau đi mò của lạ bằng giá rẻ. Việc này được giải quyết chóng vánh nhờ có những mối quan hệ của Pomone, người làm công việc điều chỉnh hoặc thu xếp các món hàng tình dục trong khu phố Batignolles của hắn, thỏa mãn tất cả những ai muốn ăn nằm với đàn bà. Quyển sổ của Pomone chứa đầy những khách gọi với đủ mọi giá. Hắn điều hành thứ trời cho này không sót ngày nào, ở cuối cái sân nhỏ trong một gia cư xoàng xĩnh tối om, phải lò dò từng bước cứ như vào một nhà đái lạ. Phải vạch dần từng cái rèm che làm cho anh ngài ngại, trước khi gặp được thằng cha chủ chứa, luôn luôn ngồi dưới ánh đèn mờ ảo như người xưng tội.
Mặc dầu tôi với Pomone biết nhau đã lâu, thường chuyện trò và cộng tác với nhau một thời gian, hắn đã từng nêu ra với tôi đủ thứ ý kiến, đủ trò kín đáo khá là nguy hiểm, nhưng thật tình mà nói, tôi chưa bao giờ quan sát hắn thật kỹ, và bây giờ, với cảnh u tối này, giá có gặp lại hắn dưới địa ngục có lẽ tôi sẽ hoàn toàn không còn nhận được ra.
Tôi chỉ còn nhớ là những tay chơi lén lút đang chờ lượt được tiếp trong phòng khách luôn luôn giữ kẽ, không suồng sã, thậm chí còn dè dặt với nhau nữa, y như vào một phòng răng mà thầy thuốc nha khoa không thích ồn ào và chói sáng.
Nhờ một sinh viên y khoa, tôi quen biết Pomone. Hắn lui tới chỗ cậu sinh viên để tâm sự về một sự tình cờ nho nhỏ đã làm cho thằng cha số đỏ ấy có được cái dương vật to kinh khủng. Người ta bèn tổ chức những buổi tối thật kín đáo ở ngoại ô và triệu cậu sinh viên đến trình bầy về cái của lạ trứ danh đó. Trước hết là các bà các cô, những người không thể nào tin được rằng lại có thế có “một cái to đến thế” để họ chiêu đãi. Những lời nhảm nhí của mấy đứa con gái quá trớn. Trong sổ đen của sở cảnh sát, cậu sinh viên của chúng ta được mệnh danh khủng khiếp: Balthazar! [126*] Các khách làng chơi ngồi đợi lượt bắt chuyện với nhau một cách khó khăn. Nỗi đau thì còn phơi bầy ra được, chứ lạc thú và nhu cầu lại có những mặt đáng xấu hổ. Đã đi mò gái và nghèo nữa thì dù muốn dù không anh cũng sa vào tội lỗi rồi. Khi Pomone hiểu được thực trạng của tôi và biết tôi từng làm thầy thuốc thì hắn không còn tâm sự về chuyện bứt dứt của mình nữa. Một tật xấu đã vắt kiệt sức lực hắn. Hắn nhiễm phải cái thói liên tục thủ dâm ngay dưới gầm bàn hắn ngồi, cả trong lúc tiếp chuyện khách khứa, những người đi tìm chỗ giải tỏa nỗi day dứt dưới hạ bộ. “Đó là cái nghiệp của tôi, ông thông cảm! Không làm sao mà ngăn lại được... Với tất cả những gì mà những kẻ bẩn thỉu ấy đến kể cho tôi!”... Tóm lại thì chính đám khách khứa ấy lại lôi cuốn hắn vào sự lạm dụng, giống như những anh chị hàng thịt đã béo phì lại càng ưa ngốn đẫy thịt. Hơn nữa, tôi tin chắc rằng ruột gan hắn luôn luôn bị hâm nóng bởi bệnh sốt ác tính từ phổi dồn xuống. Vả lại chỉ mấy năm sau hắn đã chết vì lao. Những cuộc tán gẫu vô tận của các mụ khách kiêu kỳ cũng làm hắn kiệt lực theo một kiểu khác, luôn luôn gian trá, bịa đặt hàng đống những chuyện õng ẹo chẳng đâu vào đâu hoặc xoay quanh cái bụng dưới của các mụ mà chỉ nghe họ nói với nhau thôi thì có mà đảo lộn cả bốn phương trời cũng không tìm ra được cái gì giống thế.
Với đám khách đàn ông thì trước hết phải đưa ra những ả đồng tình và hâm mộ những thói ngông cuồng nhiệt của họ. So với những khách tình của mụ Herote trước kia thì khách khứa bây giờ không được như vậy. Tuy nhiên chỉ một chuyến thư buổi sáng của “hãng” Pomone cũng thừa đủ chất ái tình để dập tắt hẳn mọi cuộc chiến tranh trên thế giới này. Nhưng mà thế đó, cơn hồng thủy tình cảm ấy vẫn chẳng bao giờ vượt được lên quá cái hạ bộ. Và đó mới thật là bất hạnh.
Cái bàn của hắn chìm biến dưới đống hỗn độn kinh tởm những bức thư toàn chuyện tào lao bỏng rẫy. Do ham muốn biết thêm, tôi quyết định dành một thời gian lưu ý đến việc phân loại cái mưu ma chước quỷ bằng thư từ này. Hắn bầy cho tôi chia ra từng loại ái ân trìu mến, cũng như phân loại cà vạt hay bệnh tật, trước hết những kẻ loạn dâm để một bên, rồi đến những tay thống dâm và thích những trò kỳ quặc một bên khác, những tay thích dùng roi vọt để kích dâm, những tay thích “hạng nữ quản gia” thì để vào một trang khác, và cứ thế cho đến hết. Kể cũng không lâu la gì lắm trước khi quay lại với những trò vui vặt vãnh. Chúng tôi đúng là đã bị tống ra khỏi Thiên đường! Có thể nói đúng là thế. Pomone cũng đồng ý với tôi với hai bàn tay ươn ướt và cái tật triền miên mà hắn phải gánh lấy vừa là lạc thú vừa là nhục hình. Trong vòng vài tháng, tôi biết quá đủ về hắn và cái nghề ngón của hắn. Tôi thưa dần những cuộc gặp.
Ở Tarapout, người ta vẫn coi tôi là người tử tế, yên tâm, một vai phụ đúng giờ, nhưng đang được yên lành, thì bất hạnh lại xẩy đến với tôi, khiến tôi phải đột ngột rời bỏ vai phụ ấy để tiếp tục con đường khốn khổ của mình.
Một thời gian nhìn lại mới thấy được rõ những ngày ở Tarapout tóm lại chỉ là nơi dừng chân bị cấm đoán và xảo trá. Ví dụ, trong suốt bốn tháng trời, lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, có lúc như ông hoàng, có lúc như một phi công và được trả công hậu hĩnh đều đặn. Cứ ở Tarapout thì tôi có thể đủ ăn nhiều năm. Không phải bỏ vốn mà hưởng lãi đều đều. Một tối, không hiểu vì sao, người ta đảo lộn tiết mục của chúng tôi. Một sự phản trắc! Một thảm họa! Màn giáo đầu này thể hiện các bến sông ở Luân Đôn. Lập tức, tôi đâm ra ngỡ ngàng. Các cô gái Anh của chúng ta đứng xem bên trong ca hát, giả bộ như bên bờ sông Tamise, trong đêm khuya, còn tôi đóng vai một cảnh sát viên. Một vai hoàn toàn câm, đi loăng quăng trước cái lan can hết sang trái lại sang phải. Đột nhiên, trong lúc tôi không nghĩ đến thì các cô gái cất cao giọng hát hết chịu nổi, thậm chí bài ca chuyển hẳn sang mặt bất hạnh của số phận. Thế là trong khi các cô gái hò hát thì tôi không còn nghĩ được cái gì khác nỗi đau khổ của giới nghèo và trước hết là nỗi đau khổ của bản thân mình. Với bài hát ấy, các cô gái đã làm tôi nhớ lại cái thời phải nuốt cá ngừ đầy bụng. Tôi đã tưởng tiêu hóa được nó, quên hẳn được nỗi cực nhọc ấy rồi! Thật là tồi tệ, bài hát vui mà chẳng vui tí nào. Vừa ca hát vừa uốn éo, các cô bạn tôi cố làm cho vui. Cũng có thể nói là được đấy, cứ như là người ta phô bầy nỗi khổ, nỗi tuyệt vọng... Không sai đâu! Nhởn nhơ trong sương mù và trong tiếng vi vu! Ri rỉ những lời oán thán, nó làm cho mình già đi từng phút một. Cả đến phông màn trang trí cũng toát ra nỗi kinh hoàng ghê gớm. Tuy nhiên các cô bạn vẫn cứ tiếp tục. Các cô có vẻ như không biết đến tác động xấu trong bài hát của mình gây thêm nỗi đau cho tất cả chổng, ta... Các cô than vãn cả cuộc đời mình bằng những điệu nhảy, những cười cợt, thật đúng nhịp... Khi cái đó đến từ xa xa, một cách thật chắc chắn, thì không ai còn có thể lầm được, còn có thể chông đỡ được.
Cái khổ thì chỗ nào chẳng có, cho dẫu cái sang trọng có trùm lên cả cái sàn diễn, lên người chúng tôi, lên phông màn trang trí, thì cái khổ vẫn tràn trề, vẫn ri rỉ trên khắp trái đất. Nghệ sĩ thì cũng chỉ là nghệ sĩ... Cái nghèo khốn cứ leo lên các cô, dù các cô có muốn ngăn nó lại, thậm chí có biết nó hay không. Chỉ có ánh mắt của các cô là đượm buồn thôi. Nhưng chỉ ánh mắt thì sao đủ. Các cô hát về những cảnh ngộ thê thảm trong cuộc vật lộn để tồn tại và để sông mà các cô có hiểu gì đâu. Các cô vẫn tưởng đó là tình yêu, chỉ có tình yêu thôi, chứ có ai bảo cho các cô gái nhỏ ấy biết gì hơn đâu. Các cô hát cái gọi là nỗi buồn nho nhỏ! Các cô gọi thế đấy! Khi người ta còn trẻ và chưa hiểu biết thì người ta coi cái gì cũng chỉ là những nỗi buồn tình...
Where I go... Where I look...
It’s only for you... ou...
Only for you... ou... [127*]
Các cô hát thế đó.
Đó là ĩê thói của tuổi trẻ muốn tống tất cả loài người vào một xó đằng sau, chỉ một thôi, giấc mơ đáng ghét, mối tình cuồng dại. Rồi đây, có lẽ các cô sẽ có thể biết được tất cả những cái ấy kết thúc ở đâu, khi các cô không còn hồng hào nữa, khi cái nghèo khốn trầm trọng ở xứ sở khốn kiếp của họ đã tóm lấy họ, cả mười sáu cô, cả những cặp đùi to như đùi ngựa cái, những cặp vú núng na núng nính... Vả lại cái nghèo khốn cũng đã bám trên cổ, trên người các cô gái kháu khỉnh ấy, các cô không trốn tránh được đâu. Trong bụng, trong hơi thở, nó cũng đã bằng mọi làn sóng bám lấy giọng hát mỏng manh và lạc điệu rồi.
Nó nằm trong đó. Không cần trang phục, không đính vẩy vàng, không cần ánh sáng, không cần cười mỉm để đánh lừa nó, để gây ảo tưởng với nó, tự nó sẽ tìm ra nơi che giấu những ảo tưởng ấy; nó chỉ vui thích là làm cho các cô hò hát trong lúc chờ đợi lượt mình nhận lấy tất cả những điều vô nghĩa của hy vọng. Cái đó đánh thức nó, ru ngủ nó, kích thích nó.
Nỗi nhọc nhằn của chúng ta là thế, cái lớn nhất, cho một cuộc giải trí.
Mặc kệ, ai muốn hát những bản tình ca thì cứ hát! Bản thân ái tình đã là nỗi khốn khổ rồi và chỉ có nó, mãi mãi là nó, điêu toa dối trá ngay trong mồm mình, đồ cứt, thế thôi. Cái quân ác nghiệt ấy là có mặt khắp nơi, chớ có đánh thức nó dậy, kể cả với đứa dối trá. Với nó thì dối trá cũng thế thôi. Thế mà ngày ba bận, các cô gái Anh của tôi dẫu sao vẫn phải dàn hàng ra trước phông màn, với tiếng đàn ắc-coóc du dương. Tất nhiên cái đó sẽ kết thúc rất không hay.
Tôi cứ để mặc họ làm nhưng có thể nói rằng tôi đã thấy được tai họa đang đến.
Trước hết là một trong những cô gái ấy bị ốm. Cho chết những cô gái xinh xẻo đi trêu chọc những nỗi đau! Càng chết càng hay! Về chuyện này, cũng chớ có dừng lại ở góc phố mà dỏng tai lên nghe tiếng đàn ắc-coóc, thường đó là chỗ dễ vớ phải tai họa, vớ phải cú đòn chân lý. Một cô gái Ba Lan đến thay thế cô gái ốm trong cái điệp khúc ấy. Cô gái Ba Lan này cũng thỉnh thoảng ho hắng. Một cô gái dài người khỏe khoắn nhưng hơi xanh. Chúng tôi trở nên tâm tình với nhau ngay lập tức. Trong vòng hai giờ đồng hồ là tôi đã biết luôn được hết tâm tính của cô, còn thể xác thì hãy từ từ một chút. Cái tật của cô gái Ba Lan này là cứ tự làm què quặt thần kinh của mình bởi những chuyện yêu đương chốc lát vô vọng. Tất nhiên là cô nhập vào bài ca của các cô gái Anh cũng trơn tru như vào miếng bơ, với tất cả nỗi đau của mình. Bài hát mở đầu bằng một giọng nhỏ nhẹ dễ thương, không có vẻ gì nặng nề, như thế mọi cái đều để cho anh khiêu vũ, nhưng rồi nó làm nghiêng ngả tim anh khiến anh buồn rầu tưởng như sắp bỏ mất khát vọng sống, tưởng chừng mọi cái rồi chẳng đi đến đâu, tuổi thanh xuân cũng thế, tất tần tật, và anh mải miết theo dõi từng lời ca ngay cả lúc bài ca đã dứt, điệu du dương đã bỏ đi xa, tìm về ngủ trên cái giường thật sự của nó, chính cống của nó, chui tọt vào đúng cái lỗ của nó để kết thúc hẳn. Hai vòng điệp khúc là người ta có ngay niềm khao khát về cái xứ sở êm đêm của chết chóc này, về cái xứ sở luôn luôn dịu dàng nhưng cũng mau quên như một lớp sương mù. Tóm lại là các cô gái ấy có những giọng hát trong sương mù.
Tất cả lại lặp lại bản đồng ca về khúc ngâm hờn oán nhưng ai còn ở lại đó, kéo dài cái sống, chờ đợi bên những bến sông, tất cả những bến sông trên thế gian này, để cho cuộc sống qua đi, trong khi làm đủ mọi việc, bán chác những đồ vật và những trái cam cho những con ma khác, bầy mưu tính kế thuê và lưu hành tiền giả, rồi cả cảnh sát, cả những kẻ hư hỏng, cả những nỗi buồn, kể cho nhau nghe đủ chuyện, trong làn sương mù nhẫn nại không bao giờ dứt...
Cô bạn mới từ Ba Lan đến có tên là Tania. Tôi biết là cuộc sống của cô lúc này đang sôi sục, do một viên chức nhỏ nhà băng, tuổi chừng bốn chục, mà cô quen biết ở Berlin. Cô muốn trở lại Berlin của anh ta và yêu anh ta bằng mọi giá, bất chấp tất cả. Để có thể quay lại đó tìm anh ta, cô phải làm bất cứ việc gì.
Cô theo đuổi các viên chức nhà hát, những tay hứa hẹn tuyển người làm, leo lên những cầu thang khai mò. Những thằng cha đểu cáng ấy cấu véo đùi cô trong lúc cô chờ mong những hồi âm chẳng bao giờ tới. Nhưng cô cũng chẳng để ý làm gì đến những trò sờ soạng ấy trong khi mối tình nơi xa xăm đang còn chiếm lấy cả hồn cô. Một tuần trôi qua trong những điều kiện như thế làm gì mà lại không xẩy ra một tai họa nào. Từ bao tuần bao tháng nay cô đã nhồi nhét những toan tính vào Số phận, như người ta nhồi thuốc súng vào đại bác.
Bệnh cúm đã cướp đi người tình kỳ diệu của cô. Chúng tôi biết được tin đau buồn ấy vào một tối thứ bẩy. Liền sau khi được tin, cô cuống cuồng, hốt hoảng kéo tôi phóng ra ga Phía Bắc. Trong cơn điên loạn, tại phòng bản vé, cô nhất định cho rằng còn kịp đến Berlin để đưa tang. Phải đến hai trưởng ga mới thuyết phục được cô, giảng giải cho cô biết là đã quá muộn.
Trong tình trạng như cô lâm phải, tôi không thể nào lại nghĩ đến việc bỏ mặc cô ở đó. Vả lại cô đang phải đối phó với nỗi bi thảm của mình và còn cho tôi thấy rõ cô đang như người hoàn toàn mất hồn. Những mối tình dang dở bởi đau khổ và bởi xa cách, cũng giống như những mối tình của người thủy thủ, không thể nói được là không thể bác bỏ hay là thành công. Trước hết, do đã không có dịp để gặp nhau luôn thì không thể cãi nhau được, và như thế là đã giành được phần thắng rồi. Nhưng cuộc sống chỉ là một cơn hoang tưởng đầy ắp những ảo ảnh, càng ở xa anh càng nhét vào đó nhiều ảo ảnh hơn và càng lấy làm thỏa mãn, đó là chuyện tự nhiên và bình thường. Chân lý thì có ăn được đâu.
Ví dụ như bây giờ thì người ta thật dễ dàng kể cho mình nghe những chuyện về ông Giê-su. Nhưng thử hỏi, ông Giê-su có bao giờ đi ngoài trước mặt mọi người không? Tôi nghĩ rằng cái trò ấy không thể kéo dài mãi được nếu như ông ngồi ị trước công chúng. Tất cả là ở đó, rất ít sự hiện diện, nhất là đối với tình yêu.
Khi đã biết chắc là không còn tầu đi Berlin nữa, chúng tôi quay ra gửi điện tín. Chúng tôi thảo một bức điện khá dài. Nhưng lại càng khó, vì chúng tôi hoàn toàn không biết gửi cho ai bây giờ. Chúng tôi không quen biết một ai khác ở Berlin, ngoài người đã chết. Từ lúc đó, chúng tôi chỉ còn biết nói với nhau về cái chết ấy. Chúng tôi loanh quanh ở đấy vài ba lượt rồi dù sao cũng phải tính đến chuyện ru ngủ cơn đau này. Chúng tôi chậm rãi đi lên phía đồi Montmartre, vừa đi vừa lúng búng những chuyện buồn rầu.
Vừa ra khỏi phố Lepic là bắt đầu gặp luôn những người đến tìm cái vui trên vùng cao này của thành phố. Họ hối hả. Leo lên đến Nhà thờ Trái tim thiêng, họ bắt đầu ngó xuống bên dưới, ban đêm trông như một cái vũng nặng nề với tất cả nhà cửa chen nhau dưới đáy.
Tại một vườn hoa nhỏ, chúng tôi thấy một quán cà phê xem ra có vẻ không đắt tiền lắm, hai đứa rủ nhau vào. Tania, với sự an ủi và lòng biết ơn, để tùy cho tôi chọn chỗ nào có thể hôn cô. Cô cũng rất muốn uống nữa. Trên những chiếc ghế dài nhỏ quanh chúng tôi, những người, nhậu nhẹt ngà say đã lăn ra ngủ. Đồng hồ trên ngôi nhà thờ nhỏ đã điểm giờ và rồi lại tiếp tục điểm không dứt. Càng lúc càng rõ, chúng tôi đã tới nơi tận cùng trần thế. Không còn đi xa hơn được nữa, vì tiếp đó chỉ còn nơi của người chết.
Những người chết ấy bắt đầu từ Quảng trường Tertre, bên cạnh. Chỗ chúng tôi ngồi dễ ngó thấy họ. Họ vượt lên cả phía Nhà hàng Dufayel, ở mạn đông.
Nhưng dẫu sao cũng phải biết cách thế nào để tìm ra họ, tức là tìm thấy từ nội tâm với hai mắt gần như nhắm nghiền, bởi vì đèn đóm sáng chói từng bụi lớn, dẫu có xuyên qua những làn mây thì cũng vẫn bị lóa mắt không thể thấy được những người chết nằm dưới đó. Với những người chết ấy, tôi đã nhớ ngay rằng họ đã cướp đi Bébert và lại còn cách đó không lâu một đứa con gái xanh lướt bị sẩy thai ở Rancy, có thể đã bị moi hết ruột gan rồi.
Còn đầy ra ở nơi này nơi nọ những khách bệnh cũ của tôi, và cả những nữ bệnh nhân mà tôi đã quên bẵng mất rồi, rồi còn những người khác nữa, người da đen trong đám mây trắng, mỗi một mình, cái cậu bị họ quất roi quá tay mà tôi gặp ở Topo, và ông già Grappa trong rừng rậm! Với những người đó, lắm lúc tôi thường nghĩ đến, tay trung úy, tay da đen bị tra khảo và cả lão linh mục người Tây Ban Nha, đêm nay lão cũng đến với người chết để cầu nguyện trên trời và cây thập tự vàng của lão đang làm vướng víu lão trong những chuyến bay bổng từ bầu trời này sang bầu trời khác. Cùng với cây thánh giá ấy, lão bám lấy những vầng mây, những vầng mây bẩn nhất, vàng vọt nhất, và tôi vẫn còn nhận ra được nhiều người mất tích khác, vẫn còn nhiều nữa... Nhiều vô kể đến mức mình thấy hổ thẹn là không có thời giờ để nhìn họ trong những năm họ sống ngạỷ cạnh mình.
Đúng là ta không bao giờ có đủ thời giờ, chỉ để nghĩ tới bản thân mình.
Thế là tất cả những kẻ mạt kiếp ấy đã trở thành các thiên thần mà tôi chẳng thấy ra! Lúc này thì trên các tầng mây thiếu gì những thiên thần và những kẻ ngông cuồng, những kẻ không đứng đắn. Họ nhởn nhơ trên bầu trời thành phố! Đã đến lúc tôi phải tìm kiếm Molly trong đó, người đẹp của tôi, người bạn gái duy nhất của tôi, nhưng nàng không đến cùng với họ... Nàng phải có một khoảng trời nho nhỏ dành riêng cho mình, gần gũi Đấng Cao Xanh, xứng với Molly luôn luôn tử tế... Tôi thật mừng là không thấy nàng lẫn trong bọn lưu manh đó, bởi vì đúng những kẻ nằm chết đó là những kẻ vô lại, lưu manh, mạt hạng và đêm nay người ta tập hợp những cái bóng ma ấy lơ lửng trên thành phố. Nhất là ở cái nghĩa địa bên cạnh đó. Một cái nghĩa địa nhỏ thôi, những bóng ma đó vẫn còn sặc máu muốn há to mồm để mắng nhiếc nhau nhưng không há nổi nữa rồi... Chúng chờ đợi nhau, chờ người chỉ huy chúng, bá tước La Pérouse [128*], người của các đảo, đêm nay chỉ huy chúng trong cuộc tập hợp này... Nhưng La Pérouse thì còn chưa xỏ được cái chân giả và còn đang tìm kiếm cái ống nhòm của mình.
Ông ta không muốn ra khỏi các đám mây mà không đeo cái ống nhòm trên cổ, cái ống nhòm đã nổi tiếng với ông trong các cuộc phiêu lưu. Những tên cô-dắc bị vùi gần Moulin cũng chưa ra được khỏi mồ. Đã bao lần chúng cố sức leo lên nhưng rồi lại rơi tõm xuống đáy mồ, chúng vẫn còn say suốt từ năm 1820 đến giờ.
Một cơn mưa làm cho những bóng ma ấy tung tóe ra, dẫu sao cũng dễ chịu hơn, dù ở tít tận trên bầu trời thành phố. Chúng tản ra, đan xen vào đêm tối trong cái náo động vốn có, từ đám mây này sang đám mây kia... Nhà hát Opéra hình như hấp dẫn chúng nhất, vì những ánh đèn quảng cáo rực sáng ở giữa. Những bóng ma ấy bắp tóe ra, nhảy vọt sang phía bên kia bầu trời, nhung nhúc, loạn xạ đến lóa cả mắt. La Pérouse đã trang bị xong và muốn rằng người ta dựng ông thẳng dậy vào đúng hồi chuông bốn giờ. La Pérouse đang còn cài khuy áo thì phía đằng sau ông đã cả một bầu trời đang xô tới. Một cuộc tháo chạy tán loạn khủng khiếp, tất cả những bóng ma quay cuồng lên, những bóng ma từ tứ xứ, thuộc mọi sự tích anh hùng. Chúng theo đuổi nhau, thách đố nhau, gánh vác bao nhiêu là thế kỷ. Mạn Bắc thành phố này đã từ lâu phải chịu đựng những cuộc loạn tồi tệ của chúng. Chân trời đã ló ra mầu xanh lơ và ngày đã xuất hiện dần lên từ một cái hố lớn mà những bóng ma ấy đào từ trong đêm để lẩn trốn.
Sau đó thì muốn tìm lại chúng là việc hoàn toàn khó. Phải biết cách ra khỏi Thời gian.
Chính là bên phía Anh quốc mà ta có thể tìm thấy chúng chừng nào ta đến đó, nhưng sương mù ở bên ấy lúc nào cũng dày đặc, như những cánh buồm dựng lôn hàng hàng lớp lớp, từ mặt đất lên tận trời cao và lên mãi. Tuy vậy, với thói quen và sự chú ý, ta vẫn có thể đến đấy mà tìm được chúng, nhưng phải khá lâu, vì luôn luôn gặp phải những trận gió mạnh và những làn hơi nước đọng ngoài khơi.
Người đàn bà cao lớn đứng đó canh gác đảo quốc. Cái đầu bà ta cao hơn cả đụn hơi nước cao nhất. Chỉ còn có bà ta là còn chút ít sức sống trên đảo. Mái tóc rực đỏ của bà cao hơn hết thầy, sáng hoe lên những làn mây, đó là tất cả những gì còn lại của ánh mặt trời.
Người ta giải thích rằng bà đang cố gắng pha trà. Bà đứng đó trong vĩnh cửu và bà phải cố gắng. Bà chẳng bao giờ đun sôi được ấm trà bởi vì sương mù càng lúc càng dầy đặc và càng thấm đẫm. Cái ấm pha trà của bà là vỏ một con tầu, con tầu đẹp nhất, lớn nhất, con tầu cuối cùng bà có thể tìm thấy ở Southampton, bà dùng nó để đun nước pha trà, với các đợt sóng liên tiếp. Bà khuấy nó lên... Bà dùng cái mái chèo khổng lồ để đảo cả lên... Bà chú tâm vào đó.
Bà không nhìn cái gì khác, lúc nào cũng nghiêm chỉnh, trầm tư.
Những bóng ma ấy lượn lờ trên đầu, bà cũng mặc, không hề động đậy, bà đã quen với chúng, những bóng ma từ lục địa ra để rồi tan biến nơi đây... Thế là hết.
Bà lấy mấy ngón tay cời cời ngọn lửa dưới đống tro, giữa hai khu rừng trụi, thế là đủ. Bà cố làm cho ngọn lửa bùng lên, tất cả với bà bây giờ là thế, nhưng ấm trà của bà không còn bao giờ sôi lên được nữa. Không còn sức sống cho những ngọn lửa ấy, cũng không còn cho ai ở trên đời, chỉ còn được tí chút cho bà nữa thôi và hầu như cũng đã tàn rồi...