Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối

Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 34

❊ ❊ ❊

Đám trẻ thì lúc nào cũng bấn lên với chuyện làm tình, họ vội vội vàng vàng vồ lấy bất cứ cái gì người ta đưa cho, tưởng rằng đều là thứ mua vui được cả, do cảm tính họ không suy nghĩ kỹ trước khi bắt tay vào. Cũng gần giống như hành khách đi tầu đến toa ăn, giữa hai hồi còi, người ta đưa cho cái gì thì cũng chén tuốt. Miễn là người ta cung cấp cho đám trẻ hai ba bài ca nho nhỏ dùng để gây thêm phấn hứng trong các cuộc trò chuyện yêu đương, thế là đủ, và thế là họ sướng cả rồi. Tuổi trẻ là dễ thỏa mãn, họ trước hết hưởng thụ như họ muốn đã, quả là thế!

Tất cả tuổi trẻ đổ ra bãi biển vinh quang, ra tận bờ, nơi những người phụ nữ có vẻ được tự do, nơi họ xinh đẹp đến nỗi chẳng cần đến sự tưởng tượng của chúng ta trong những giấc mơ.

Thế rồi, một khi mùa đông tới, tất nhiên là ta buồn nản phải trở về, phải nói với nhau thế là hết, phải thú nhận với nhau điều đó. Tuy vậy, có thể ta vẫn cứ sống trong giá lạnh, trong tuổi tác, và vẫn hy vọng. Cái đó hiểu được. Con người ta vốn ti tiện. Họ chẳng ưa ai cả. Hưởng lạc và hạnh phúc trên hết. Cái đó đúng với ý tôi. Và khi họ bắt đầu giấu giếm người khác, đó là dấu hiệu họ sự vui chơi với người ta. Đó là một căn bệnh tự thân. Có lẽ phải hiểu xem tại sao họ không chịu chữa chạy cái bệnh cô đơn. Một tay khác tôi gặp hồi chiến tranh trong nhà thương, một cậu cai, cậu ta đã nói với tôi một ít về những cảm giác ấy. Thật tiếc là tôi không còn gặp lại cậu ta! Cậu ta giải thích cho tôi: “Trái đất đã chết... Chúng ta chỉ còn là những con sâu trên đó, những con sâu bâu lấy cái xác to tướng kinh tởm của nó, ngốn ngấu lòng ruột và cả những chất độc của nó... Chẳng còn làm gì được nữa. Chúng ta sinh ra đã thối rữa rồi... Và rồi thế đó!” Thế là một buổi tối, người ta cấp tốc đưa nhà tư tưởng ấy đến bên cạnh pháo đài, vì chứng cớ đã rành rành đáng phải xử hắn. Ày thế mà cũng phải hai tay cảnh sát, một cao một thấp, giải hắn đi. Tôi còn nhớ lắm. Tại Tòa án binh người ta bảo hắn là một tên vô chính phủ.[130*]

Nhiều năm sau, khi ta nhớ lại và muốn kiếm tìm những lời của một số người nào đó và kiếm tìm bản thân họ để hỏi xem là họ muốn nói gì với chúng ta khi ấy... Nhưng họ đã đi mất cả rồi!... Ta không đủ kiến thức để hiểu họ... Ta muốn hiểu xem từ khi ấy họ có những lần nào thay đổi ý kiến không... Nhưng muộn quá rồi... Hết rồi!... Chẳng còn ai hiểu gì về họ nữa. Thế là lại phải tiếp tục mò mẫm một mình trong đêm tối. Ta đã đánh mất những bạn đường thật sự của mình rồi. Khi còn thời gian thì ta chẳng hỏi họ những câu đáng hỏi. Ở ngay bên họ mà ta không biết. Rõ thật kẻ mất hồn. Trước hết là ta cứ luôn luôn chậm trễ. Có nuối tiếc cũng chẳng nên cơm cháo gì.

Cuối cùng thì cũng thật may là cha xứ Protiste ít nhất cũng đến tìm tôi vào một buổi sáng để cùng nhau chia khoản hoa hồng trong vụ thu xếp cho bà cụ Henrouille đến ở dưới căn hầm đó. Tôi đã tưởng không còn trông mong gì ở ông linh mục này. Cứ như thể ông ta trên trời rơi xuống... Một nghìn năm trăm quan cho mỗi chúng tôi! Đồng thời ông cũng cho biết những tin vui về Robinson. Theo ông thì hai con mắt hắn đã khá hơn. Hai mí mắt không còn mưng mủ nữa. Và dưới đó đang mong đợi tôi. Hơn nữa chính tôi cũng đã hứa là sẽ đi thăm họ. Cả Protiste cũng nhấn mạnh chuyện này.

Ông còn kể cho biết thêm là Robinson sắp sửa lấy con gái bà bán nến ở nhà thờ bên cạnh căn hầm, người đàn bà lệ thuộc vào những cái xác ướp của bà cụ Henrouille. Đám cưới chuẩn bị gần xong rồi.

Tất nhiên là tất cả những chuyện ấy đưa chúng tôi đến việc ông Henrouille mất, nhưng cũng chỉ kể qua loa với nhau, câu chuyện lại trở lại một cách dễ chịu hơn với tương lai của Robinson và với cả cậi thành phố Toulouse mà tôi chưa biết được tí gì, mới được nghe Grappa nói đến hồi trước, rồi đến công việc của họ với bà cụ già, cuối cùng đến cô gái sắp lấy Robinson. Tóm lại là chúng tôi nói với nhau đủ mọi chuyện, đủ mọi vấn đề... Một nghìn năm trăm quan! Cái đó làm cho tôi trở nên con người rộng rãi và có thể nói là lạc quan nữa. Tôi thấy mọi dự kiến do Robinson đem lại đều là khôn ngoan, có ý nghĩa, chí lý và ứng dụng khá tốt vào mọi tình thế... Mọi cái sẽ đâu vào đấy. Ít ra thì tôi cũng tin là thế. Rồi tôi với ông linh mục lại thao thao về chuyện tuổi tác. Ông ấy cũng như tôi đều đã vượt qua cái tuổi ba mươi từ khá lâu rồi. Tuổi ba mươi của chúng tôi đã đi vào dĩ vãng khá xa trên những bến bờ dai ngoách và chẳng mấy luyến tiếc. Thậm chí chẳng cần phải quay lại để nhìn nhận những bến bờ ấy làm gì. Ta chẳng mất mát gì lắm trong lúc già đi thế này.

- Rút cục lại, có mà để tiện thật sự thì mới tiếc nuối năm này hơn năm khác!... tôi kết luận. Chúng ta có thể già trong hăng say, và dứt khoát nữa, thưa cha. Ngày hôm qua có phải là kỳ cục không? Và năm trước?... Cha thấy thế nào?... Nuối tiếc gì? Tôi xin hỏi cha? Tuổi thanh xuân ư?... Chúng ta làm gì có được tuổi thanh xuân!... Đúng, là những kẻ nghèo hèn càng tiến dần đến cuối đời thì họ càng trẻ lại miễn là họ phải cố ném bớt trên dọc đường tất cả những ảo ảnh, những sợ sệt và cái nỗi khát khao bỉ ổi là phải phục tùng mà người ta đã phú cho họ từ lúc chào đời, tóm lại là họ đã đỡ chán ngắn hơn cái thuở ban đầu. Cái còn lại trên trái đất này không dành cho họ! Cái đó chẳng dính dáng gì đến họ!

Nhiệm vụ duy nhất của họ là phải giũ sạch sự phục tùng ấy đi, ói mửa vào nó. Chừng nào họ đạt được việc ấy trước khi chết hẳn thì chừng đó họ có thể khoe mình đã không đến nỗi sống vô ích.

Rõ ràng là tôi đang hăng say... Một nghìn năm trăm quan ấy đang khơi nguồn cao hứng trong tôi, tôi tiếp tục:

- Tuổi thanh xuân chân chính, duy nhất, thưa cha, là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt, chỉ có thế mới là thật, chỉ có thể mới là trẻ và mới. Vậy thì, thưa cha, là người hiểu biết họ nhiều, cha có thấy những thanh niên được cân đối như thế không?... Tôi thì chưa thấy!... Chỗ nào tôi cũng chỉ thấy những cái khờ khạo đen tối và cũ kỹ lên men trong những thể xác ít nhiều còn mới mẻ của họ, và những cái nhớp nhúa ấy càng lên men thì lại càng khuấy động thanh niên, và thế là họ lại càng tự coi mình trẻ ghê trẻ gớm! Không đúng đâu, chỉ là lừa phỉnh thôi... Họ chỉ trẻ theo cách của những cái nhọt bọc mưng mủ làm cho họ đau đớn ở bên trong và căng phồng họ lên.

Tôi nói thế khiến Protiste khó chịu... Để khỏi làm ông thêm phiền lòng, tôi chuyển câu chuyện... Nhất là ông vừa đối xử tử tế và còn đem lại may mắn cho tôi nữa... Quả thật là hoàn toàn khó mà tự kiềm chế khỏi quay lại một chủ đề gây phiền cho anh cũng như cho cả tôi. Cứ sống một mình là ta thấy liền cái chủ đề đã đè nặng suốt cả cuộc đời. Ta đã u mê vì nó. Để nó khỏi chướng đối với tất cả những người đến thăm, ta cố sơn phết lên một chút nhưng chỉ làm người ta thêm bực. Sống cô độc là tự dẫn mình đến cái chết.

- Phải chết một cách phong lưu hơn con chó, tôi nói thêm với ông, và phải dành lấy một nghìn phút để mà chết, dù sao thì mỗi phút đều phải có cái mới và thừa mứa những kinh hoàng để cho anh nghìn lần quên đi tất cả những gì người ta có thể có lạc thú làm tình trong cả nghìn năm trước đó... Hạnh phúc ở trên đời có lẽ là chết một cách vui vẻ, chết trong lạc thú... Còn lại chẳng là gì ráo, chỉ là nỗi sợ mà người ta không dám nói ra, đó là nghệ thuật.

Protiste nghe tôi lảm nhảm như vây là ông nghĩ ngay rằng tôi chắc chắn lại bị ốm rồi. Có thể là ông có lý và tôi hoàn toàn sai quấy. Tại cái nơi ở ẩn này, trong lúc đi tìm một hình phạt cho tính ích kỷ phổ biến tôi đã lẫn lộn giữa cái tưởng tượng với cái có thật, tôi đi tìm hình phạt ở tân cõi hư vô! Thôi thì ta cứ đùa tếu đi vì ít có dịp được ra ngoài, do thiếu tiền, và còn do hiếm dịp để quên mình và để làm tình.

Tôi mừng rằng mình hoàn toàn không có lý do để làm cho Protiste phải bực dọc vì những triết lý trái với các tín điều tôn giáo của ông, nhưng phải nói rằng dù sao thì ở con người ông nó vẫn toát ra một tí cái sở thích rất khó chịu là cứ muốn làm bề trên, cái ấy có thể chọc tức khối người. Theo ý niệm của ông, thì tất cả mọi người đều phải ở trong một thứ phòng chờ vĩnh cửu trên trần thế để mà đợi số của mình. Số của ông tất nhiên phải thuộc hạng ưu và sẽ lên Thiên đường. Còn lại, ông mặc xác.

Những tín điều như thế thì sao mà chịu được. Ngược lại, cũng tối hôm ấy, khi ông ngỏ ý ứng trước cho tôi số tiền cần chi vào chuyến đi xuống Toulouse, thì tôi thôi hẳn việc quấy rầy và nói trái ý ông. Lo ngại phải gặp lại Tania ở Tarapout với cái bóng ma của cô khiến tôi nhận ngay lời mời của ông mà không bàn cãi gì thêm. Tôi nghĩ bụng dù thế nào thì cũng sẽ được một hai tuần sống dễ chịu! Ma quỷ thì bao giờ cũng đủ mánh lới để quyến rú anh! Chẳng bao giờ biết hết được những mánh lới ấy. Ta còn được sống thì còn không biết đi đâu nữa để tìm nơi làm lại hạnh phúc. Có lẽ ta đã vung vãi những đứa con đẻ non của hạnh phúc, làm thối hoăng khắp nơi khắp chốn đến không còn ngửi được nữa. Những thai nhi đẻ non để ở trong các viện bảo tàng là những cái thật, thế mà có lắm người mới thoáng trông thấy đã phát ốm và buồn nôn. Từ những mưu toan thật là ghê tởm của chúng ta để được sung sướng, nếu như thất bại, thì còn phát ốm đến chết thẳng cẳng.

Ta không thể làm gì để khỏi héo hắt nếu không quên đứt những chuyện ấy đi. Chưa kể nỗi bất hạnh tự khoác vào mình đến nông nỗi này, để hâm lại những niềm hy vọng, những hạnh phúc đã thoái hóa, những nhiệt tình và ảo ảnh... Anh muốn ư, thì đấy! Còn tiền bạc của ta? Và những kiểu cách hạ lưu, những vĩnh cửu ta hằng mong muốn... Và những điều thề thốt với nhau, những điều tưởng như chưa ai nói đến trước khi nó tràn ngập đầu óc và mồm miệng ta, và những mùi thơm cùng những mơn trớn vuốt ve, những điệu bộ, tóm lại là tất cả, để cuối cùng phải ra sức che giấu hết thẩy những cái đó đi, không nói tới nữa vì xấu hổ vì sợ nó quay lại với mình như một đống ói mửa. Vậy là không phải vì chúng ta thiếu kiên trì, không đâu, có lẽ là do chúng ta đã chọn được đúng con đường dẫn tới một cái chết thanh thản.

Đi Toulouse, tóm lại, lại là một sự ngu ngốc nữa. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi đã có ý nghi ngờ. Tôi không có lý do để khước từ. Nhưng theo đuổi Robinson như thế này, giữa những trò phiêu lưu của hắn, tôi đã thấy bắt mùi vào những chuyện ám muội. Ngay từ hồi ở New York, mỗi khi mất ngủ là tôi lại trăn trở tự hỏi tại sao mình không đi theo Robinson xa hơn, xa hơn nữa. Lao đầu vào đêm tối thì trước tiên cũng thấy kinh hãi, nhưng do ham được biết nên không còn muốn rời bỏ nơi sâu thẳm ấy. Tuy nhiên, cùng một lúc lại có quá nhiều thứ muốn biết, mà đời thì quá ngắn. Ta không muốn bất công với ai cả. Ta có nhưng đắn đo, ta dè dặt trong việc đánh giá tất cả những cái đó cùng một lượt và ta sợ nhất là phải chết khi đang còn dang dở, bởi vì như thế thì ta sinh ra trên trái đất này chẳng để làm gì cả. Tồi tệ nhất trong mọi tồi tệ.

Phải gấp gáp lên, chớ bỏ lỡ cái chết của mình. Bệnh tật, nỗi khổ đã phân tán sức lực anh từng giờ phút, từng năm tháng, tệ mất ngủ làm cho bộ mặt anh lem luốc xám xịt suốt những ngày, những tuần, và căn bệnh ung thư trong người chúng ta có lẽ đã từ đoạn cuối ruột già leo lên một cách tỉ mẩn và hút dần hết máu.

Ta thường tự nhủ là mình không bao giờ có đủ thời gian! Chưa kể, trong cái chăm chăm gây tội ác của con người, chiến tranh cũng luôn luôn sẵn sàng leo từ căn hầm nhốt những người nghèo leo lên. Liệu họ giết người nghèo như thế đã đủ chưa? Chưa chắc... Đó là vấn đề ? Có lẽ người ta đến phải chọc tiết tất cả những ai không hiểu được vấn đề? Thì sẽ có những người khác sinh ra, sẽ có những người nghèo mới nữa và cứ thế kéo dài cho đến khi chuyện đó trở thành một trò cười, hoàn toàn là một trò cười... Cũng như người ta giẫy cỏ cho tới lúc cỏ thật tốt tươi mềm mại.

Xuống tầu ở Toulouse, tôi chần chừ trước cửa ga. Vào quán uống một chai bia rồi dẫu sao cũng cứ lang thang trên đường phố. Đến những thành phố lạ cũng có cái thích! Đây là lúc là nơi mình có thể cho rằng những người mình gặp đều là người tử tế. Thật là lý tưởng. Phải tranh thủ những thời khắc lý tưởng này mà giết thì giờ một tí trong vườn hoa công cộng. Tuy nhiên, qua một tuổi nào đó, trừ phi là con cái gia đình tiêu biểu, còn thì cũng phải dè chừng kẻo lại giống như Parapine sẽ đi mò gái trẻ trong vườn hoa công cộng thôi. Thú vị là có được một cửa hàng bánh ngay trước mặt, qua phía bên kia hàng rào vườn hoa. Cái cửa hàng đẹp đẽ ở góc đường ấy trang trí tỉ mẩn như một thanh lâu với nhưng lồng chim nhỏ và những tấm gương lấp lánh. Có thể tìm được kẹo hạnh nhân ở đây ăn đến chán vẫn không hết, ấy là nghĩ thế thôi. Đây quả là nơi trú chân của các thiên thần thượng đẳng. Các cô gái nhà hàng tán gẫu với nhau những chuyện yêu đương của họ đại thể thế này:

“Thế là, tớ bảo anh ấy có thể đến tìm tớ vào chủ nhật... Bà cô tớ nghe được, bà làm toáng lên vì bố tớ...

-Thế bố cậu vẫn chưa lấy vợ khác à? cô bạn ngắt lời.

-Thì làm được quái gì nếu bố tớ có lấy vợ khác... Dù sao thì bố tớ cũng có quyền được biết với ai mà con gái ông ra đời chứ...”

Đó cũng là ý kiến cô gái kia trong nhà hàng. Nơi sẵn những cuộc bàn luận say sưa giữa các cô bán hàng. Để khỏi cản trở họ, tôi hoài công ngồi trong một xó, không ngớt tọng hết bánh su kem đến bánh kem mứt, lại còn ăn vụng nữa, với hy vọng là các cô mau mau giải quyết được những vấn đề tế nhị về ngôi thứ trong gia đình, thế mà các cô vẫn chẳng ra cho. Chẳng thấy ló ra được cái gì cả. Sự bất lực của họ trong việc biện luận chỉ đưa họ đến chỗ ghen ghét không sở cứ rõ ràng. Ngập ứ đến tận cổ những điều phi lý, kiêu căng và dốt nát, các cô gái nhà hàng ấy xì xào hàng nghìn lời nguyền rủa.

Dù sao thì tôi cũng cứ bị mê hoặc bởi cơn tuyệt vọng khốn khổ của các cô. Tôi tấn công đĩa bánh ga tô ba-ba [131*]. Tôi không tính được đã ăn bao nhiêu chiếc ba-ba nữa. Các cô cũng thế. Tôi hy vọng rằng không phải ra đi trước khi các cô đạt được một kết luận... Nhưng sự say mê đã làm cho các cô điếc đặc rồi câm tịt luôn ngay bên cạnh tôi.

Chua chát hằn học đã cạn, họ dằn lòng bực bội núp sau quầy ga tô, chẳng ai chịu thua, cắn môi ngậm miệng, “được rồi để đấy”, cay đắng nghiền ngẫm để trong dịp sau sẽ phun ra mau lẹ hơn những điều ngốc nghếch rồ dại và chướng tai gai mắt mà họ được biết của cô bạn trong trận này. Vả lại nếu cái dịp ấy có thể chẳng xẩy ra, thì họ sẽ tạo ra... Những lý lẽ manh mún chẳng đâu vào đâu. Tôi cứ đành phải ngồi đó để càng đinh tai nhức óc với những lời lẽ tuôn không ngớt của các cô, như những con sóng nhỏ vỗ loạn vào bờ.

Nghe ngóng, chờ đợi, hy vọng, ở đây, ở đó, trên xe lửa, trong quán cà phê, ngoài đường phố, trong phòng khách, trong lều bà gác nhà, ta nghe, ta chờ toàn những cái độc ác đang thành hình, cũng như chiến tranh, nhưng cái đó chỉ khuấy động thế thôi chứ chẳng đi đến đâu bao giờ, dù bởi các cô gái khốn khổ ấy hay bởi ai khác. Chẳng có ai đến giúp đỡ chúng tôi. Những lời ba hoa phù phiếm ồn ào ấy cứ như một tấm màn kếch xù xám xịt và đơn điệu căng lên trên cuộc sống như một ảo ảnh quá quắt đến nản lòng. Hai bà khách vừa bước vào và cắt đứt luôn sự lôi cuốn khó hiểu của câu chuyện vô hiệu của các cô đối với tôi. Hai bà khách tức khắc trở thành đối tượng của sự vồn vã của toàn thể nhân viên nhà hàng. Họ tíu tít trước những yêu cầu và những ý muốn nhỏ nhất của các bà. Chỗ này rồi chỗ kia, hai bà chọn lựa, nhón lấy những chiếc bánh nướng nhỏ, bánh kem để mang đi. Đến lúc trả tiền, các cô gái lại càng hối hả một cách lễ phép và còn đua nhau biếu các bà những chiếc bánh giòn để các bà nếm “ngay tức khắc”.

Một bà chối từ với những lời cảm ơn rất ư duyên dáng, giải thích kỹ càng và kín đáo với những phụ nữ kia, cũng rất quan tâm, rằng ông thầy thuốc của bà cấm bà từ nay không được ăn của ngọt, và ông thầy thuốc ấy sao mà hay thế, ông đã lập nhiều kỳ tích trong việc chữa bệnh táo bón ở trong thành phố và các nơi khác, cùng với nhiều người khác, bà đang được ông chữa khỏi căn bệnh bí đại tiện đã hơn chục năm nay, nhờ có một chế độ kiêng khem đặc biệt với một thứ thuốc tuyệt diệu chỉ mình ông biết. Những người phụ nữ kia chưa từng nghe nói đến việc khỏi được bệnh táo bón lại dễ dàng như thế. Họ khổ sở hơn ai hết về cái bệnh táo bón này. Họ phản đối. Họ đòi phải cho họ chứng cứ. Bà nọ bị nghi ngờ chỉ nói thêm rằng, hiện nay bà ta “đi ngoài là đánh rắm liên hồi như bắn pháo hoa thật sự... Là bởi vì thứ phân mới của bà đều thành hình khuôn rất dai, thành ra lại phải cẩn thận gấp bội... Nhiều khi những cục phân tuyệt diệu ấy quá rắn, làm cho bà bị đau lỗ đít đến khủng khiếp... Rách ra được... Bà phải bôi va-dơ-lin trước khi vào nhà tiêu”. Thật khó mà bắt bẻ được.

Vậy là mấy bà khách rất vui chuyện ấy vững tin ra về, và được tiễn ra tận thềm với tất cả những nụ cười của nhà hàng bánh ngọt “Chim non”.

Tôi thấy cái vườn hoa công cộng trước mặt thích hợp cho mình dừng chân chốc lát để tĩnh tâm, đủ thời gian lấy lại tinh thần trước khi đi tìm cậu bạn Robinson.

Trong các công viên dưới tỉnh, những chiếc ghế băng hầu như lúc nào cũng bỏ trống vào những buổi sáng trong tuần, bên những khóm chuối hoa và khóm mác-gơ-rít sum sê. Gần những hòn non bộ, trên làn nước tù đục ngầu, một chiếc thuyền nhỏ bằng kẽm với lớp tro nhẹ bao quanh, được cột vào bờ bằng một sợi thừng mốc meo. Con thuyền nhỏ ấy chỉ chở khách dạo chơi quanh hồ vào ngày chủ nhật, một tấm biển ghi như thế và ghi cả giá vé: “Hai quan”. Bao nhiêu năm rồi? bao nhiêu sinh viên? bao nhiêu bóng ma?

Trong các vườn hoa công cộng thì xó xỉnh nào cũng chất đống những giỏ hoa lý tưởng, những khóm cây hẹn ước thề bồi và những chiếc khăn tay chứa đủ thứ. Chẳng có gì là đứng đắn.

Nhưng dù sao thì hãy tạm ngừng mơ mộng hão huyền! Tôi tự bảo mình lên đường đi tìm Robinson và ngôi nhà thờ Sainte-Éponime cùng căn hầm mà hắn với bà cụ trông giữ những xác ướp. Tôi đến đây cốt để thấy tất cả những cái đó, phải quyết định thôi...

Với một chiếc xe ngựa chở thuê, thế là tôi bị cuốn hút vào những đoạn đường quanh co, vào những nước kiệu nhịp nhàng, giữa những phố phường râm mát của một thành phố cổ, nời ánh mặt trời bị kẹt trên những mái nhà. Chiếc xe gây ồn trên đường phố với những bánh xe của nó, với tiếng vó ngựa gõ trên đường, tiếng lộc cộc lúc qua rãnh qua cầu... Từ đã khá lâu, ở miền Nam không có những thành phố bị thiêu cháy. Chưa bao giờ các thành phố ấy lại cổ xưa đến thế. Chiến tranh không qua đó nữa.

Chúng tôi đến trước cửa nhà thờ Sainte-Éponime đúng lúc chuông điểm giữa trưa. Căn hầm còn xa hơn một chút, nằm dưới một cây thánh giá. Người ta trỏ cho tôi một chỗ ở chính giữa khu vườn nhỏ rất khô. Có thể xuống hầm mộ ấy qua một cửa hang có cửa chắn. Từ xa tôi đã thấy người gác cửa hầm, một cô gái trẻ. Lập tức tôi hỏi cô luôn tin tức của Robinson. Cô gái đang định đóng cửa. Cô nở nụ cười rất dễ thương để trả lời tôi, và cho tôi biết liền tin tức, toàn những tin vui.

Trong ánh nắng giữa trưa ấy, ở nơi chúng tôi đang đứng, mọi cái đều rực lên một mầu hồng và những tảng đá mục ruỗng vươn theo chiều cao nhà thờ lên tít trên trời, như sắn sàng đợi lượt tan biến vào không khí.

Cô gái người tình của Robinson có lẽ trong độ tuổi hai mươi. Hai chân rắn chắc và thẳng, ngực nhỏ nhưng hoàn toàn duyên dáng, khuôn mặt xinh xắn, sắc sảo, rõ ràng, đôi mắt, theo ý tôi, có lẽ hơi quá đen và quá chăm chút. Không tí nào thuộc loại mơ mộng. Chính cô đã viết những bức thư của Robinson, những bức tôi nhận được. Cô đi trước tôi với bước đi rất chính xác xuống dưới hầm, bàn chân và mắt cá chân rất thanh tú và cả hai cổ chân của một người biết hưởng lạc, sẵn sàng uốn cong và quặp lại đúng lúc. Hai bàn tay ngắn, cứng cáp, nắm chắc như những bàn tay thợ với nhiều tham vọng. Tiếng mở khóa kêu tách một cái. Nắng nóng nhảy nhót quanh chúng tôi và hừng hực trên hè đường. Nói cà kê một tí, và khi cửa mở ra rồi, cô mời tôi xuống thăm căn hầm, dù đã đến giờ ăn trưa. Tôi bắt đầu thấy mình không còn có gì phải lo nữa. Chúng tôi theo sau cái đèn của cô, càng xuống sâu không khí càng mát. Thật là dễ chịu. Tôi giả vờ sẩy chân giữa hai bậc thang, để níu lấy cánh tay cô, cái đó làm cho hai người cùng cười vui và khi xuống đến nền đất nện, tôi khẽ hôn vào quanh cổ cô. Lúc đầu cô phản kháng, nhưng chỉ vừa phải.

Sau phút giây trìu mến ngắn ngủi ấy, tôi xoắn lấy quanh bụng cô đúng như một thằng kỳ quặc thèm khát tình ái. Những kẻ đồi trụy thì bao giờ cũng nhờn mép nhờn môi khi nói chuyện tâm hồn. Tôi từ từ luồn bàn tay vuốt ngược lên hai đùi ưỡn cong. Chiếc đèn đặt xuống hên đất soi rõ những nét chuyển động trên đôi chân, trông lại càng thích. Một thế nằm được ưa chuộng. Chà! chớ có bỏ phí tí gì những lúc thế này! Dòm ngó thèm thuồng mãi thì bây giờ được đền bù rồi đây. Thôi thúc mới mạnh làm sao! Tâm trạng vui vẻ đột ngột làm sao! Cuộc chuyện trò lại trở lại với giọng tin cậy mới và giản dị. Chúng tôi đã là bạn của nhau. Bắt đầu từ hạ bộ đã! Chúng tôi vừa tiết kiệm được mười tuổi.

“Cô thường dẫn khách đi thăm à?” tôi vừa thở vừa hỏi một cách thật là hớ. Nhưng tôi vội chữa. “Có phải bà mẹ cô bán nến ở nhà thờ cạnh đây không?... Cha xứ Protiste cũng nói chuyện với tôi về bà.

- Tôi chỉ thay bà Henrouille trong giờ ăn trưa thôi... cô trả lời. Buổi chiều tôi làm ở nhà hàng thời trang... ở phố Nhà Hát... Lúc đến đây ông có qua cửa Nhà Hát không?”

Một lần nữa cô lại làm cho tôi vững tâm về Robinson, hắn đã khá lắm, ngay bác sĩ chuyên khoa mắt cũng tin là hắn sẽ sớm nhìn được kha khá để có thể một mình đi đường. Hắn cũng đã thử. Tất cả những cái đó là triệu chứng tốt. Về phần mình, bà cụ Henrouille cũng thấy hoàn toàn bằng lòng với căn hầm này. Bà mua sắm và dành dụm. Chỉ có một cái bất tiện là nhà họ ở lắm rệp quá, không ai ngủ nghê gì được, nhất là vào những đêm giông bão. Thế là phải đốt diêm sinh để trừ rêp. Hình như Robinson nhắc đến tôi luôn với những lời lẽ tử tế nữa. Chúng tôi đi dàn vào chuyện và những tình tiết của đám cưới.

Quả thật là đã qua đủ mọi chuyện mà tôi vẫn chưa hỏi tên cô. Tên cô là Madelon. Sinh trong thời chiến tranh. Dự định cưới xin của họ dù sao cũng rất thuận tiện cho tôi. Chắc hẳn là cô đã phải biết, lấy Robinson rồi thì làm ăn ra sao... Cứ cho là bệnh tật hắn sẽ khá hơn, nhưng hắn vẫn sẽ là một kẻ tàn phế... Cô vẫn tin rằng hắn còn có đôi mắt của người mù, tức là bằng đôi tay rờ mó... Nhưng gân cốt và tinh thần của hắn đã bệnh hoạn như vậy và cái còn lại nữa! Tôi đã suýt buột miệng nói ra điều đó với cô để cô canh chừng. Tôi không còn biết làm sao định hướng hay làm thế nào ra khỏi những chuyện cưới xin.

Để thay đổi chủ đề, tôi tỏ rất quan tâm đến những gi có trong hầm, là người từ rất xa đến chỉ cốt được thăm căn hầm, giờ là lúc tôi phải để tâm vào đây.

Với chiếc đèn nhỏ của cô, Madelon cùng tôi, soi từng cái xác ướp. Nhìn những cái này chắc hẳn các du khách phải suy nghĩ đây! Những xác ướp đó gắn lên tường như những người bị xử bắn... Hơn nữa lại hoàn toàn là da với xương, với quần áo nữa... Mỗi thứ một ít đều có cả... Nhưng đã trong tình trạng cáu bẩn và thủng lỗ chỗ... Thời gian đã bám theo những bộ da của họ từ nhiều thế kỷ mà vẫn chưa buông tha... Thời gian xé nát từng mảng trên khuôn mặt họ... Nó khoét rộng thêm các lỗ hổng và vẫn còn trông thấy những sợi biểu bì mà thần chết đã bỏ sót sau những lớp sụn. Bụng họ rỗng không, làm cho họ bây giờ như mang hình bóng một cái nôi nhỏ nơi rốn.

Madelon giải thích cho tôi rằng những người chết ấy đã phải chôn hơn năm trăm năm trong nghĩa địa toàn vôi sống mới được thế này. Có lẽ không còn gọi được đó là những xác chết. Đối với họ, thời gian dành cho xác chết đã chấm dứt từ lâu. Họ đã rất từ từ đi đến bờ cõi của cát bụi.

Trong hầm này có lớn bé hai mươi sáu cái tất cả, không đòi hỏi gì hơn là được vào cõi Vĩnh hằng. Nhưng người ta chưa chịu để họ đi. Những bộ xương phụ nữ được đội mũ bon-nê, có một người gù, một người khổng lồ và cả một đứa bé cũng đã rữa hết, và thưa bạn, quanh cái cổ tí xíu khô khốc còn quấn một chiếc yếm dải đăng ten, và một mẩu tã lót nữa.

Bà cụ Henrouille kiếm khá tiền nhờ những của mục nát từ nhiều thế kỷ này. Tôi nhớ lại hồi mới biết bà cụ thì bà cũng gần giống những bóng ma ấy... Cứ thế, tôi cùng Madelon từ từ điểm qua trước mắt họ... Lần lượt từng cái sọ hiện ra câm lặng trong vòng sáng của ngọn đèn dầu. Trong đáy những hố mắt chưa đen tối hẳn, mà vẫn như còn có cái nhìn dịu dàng của những người còn nhận biết. Cái gây khó chịu có lẽ trước hết là cái mùi cát bụi của họ bay vào đầu mũi mình.

Bà cụ Henrouille không bỏ sót một cuộc tham quan nào của khách du lịch. Bà bắt những người chết phải làm việc y như trong một rạp xiếc. Gặp mùa, mỗi ngày họ đem lại cho bà một trăm quan.

- Ông có thấy những người chết không có vẻ gì là buồn, phải không nào? Madelon hỏi tôi. Chắc là một câu hỏi quen thuộc của cô.

Với cô gái xinh xắn ấy, cái chết chưa nói lên cái gì cả. Cô sinh ra trong thời chiến, thời cái chết thật nhẹ nhàng. Còn tôi, tôi biết rõ người ta chết thế nào. Tôi biết cái chết đau đớn ghê gớm lắm. Ta có thể nói với các du khách rằng những người chết này thỏa mãn. Họ cũng chẳng có gì để nói lại. Bà cụ Henrouille có thể vỗ lên bụng họ kêu bồm bộp. Nhưng như thế cũng không phải cái cớ để nói mọi việc đều suôn sẻ.

Cuối cùng, chúng tôi trở lại những chuyện của mình với Madelon. Như vậy hoàn toàn đúng là Robinson đã khá lên. Tôi không đòi hỏi gì hơn. Cô người tình ấy hình như kiên trì cái đám cưới của mình. Cô sẽ buồn chán Toulouse. Tại đây hiếm dịp để gặp một chàng trai đã đi đó đi đây nhiều như Robinson. Hắn biết khối chuyện! Chuyện thật có mà chuyện ít thật cũng có. Hắn đã kể cho họ nghe khá dài về nước Mỹ và vùng Xích đạo. Thật là tuyệt.

Tôi cũng đã ở Mỹ và ở vùng Xích đạo. Tôi cũng biết nhiều chuyện. Tôi định kể lại. Cũng do cùng đi đây đó với Robinson nên thành bạn với nhau. Ngọn đèn phụt tắt. Châm đi châm lại đến mười lần, trong khi chúng tôi sắp đặt quá khứ với tương lai. Cô giữ không cho tôi đụng đến cặp vú vì vú cô nhậy cảm lắm.

Dù sao thì cũng chỉ trong phút chốc bà cụ Henrouille ăn xong là quay về, tôi đành phải leo lên trên bằng một cầu thang nhỏ, dốc đứng, mỏng mảnh và khó leo như một cái thang. Tôi đã để ý.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.