Louis Ferdinand CÉLINE (tên thật: Louis - Ferdinand Destouches) vừa là nhà văn vừa là thầy thuốc. Ông sinh ngày 22 tháng Năm năm 1894, tại Courbevoie, một trung tâm công nghiệp ở vùng ngoại ô phía tây - bắc Paris, thủ đô Pháp. Cha ông là Ferdinand Destouches, nguyên quán ở Le Havre, một hải cảng lớn bên bờ biển Manche, làm nhân viên hãng bảo hiểm, và mẹ là Louise Céline Guillou, thợ thêu ren và ít nhiều buôn bán đồ cũ. Ông nội là Auguste Destouches, từng là giáo sư thạc sĩ khoa văn ở Le Havre.
Ông lấy tên bà ngoại, Céline, làm bút danh. Suốt thời niên thiếu, ông sống ở ngõ Choiseul, thuộc quận 2 trung tâm Paris. Học hết tiểu học, phải bỏ dở, để đi học nghề, chủ yếu là bị sai phái chạy hàng. Ông cố gắng tự học lấy bằng tú tài. Phần một đậu ở Paris, trước chiến tranh 1914-1918, và cũng phải đợi hết chiến tranh, mới giành được nốt phần hai ở Bordeaux. Ngay từ năm 1912, Céline đã tình nguyên nhập ngũ, tham gia đơn vị thiết giáp số 12, đóng ở Rambouillet (cũng trong vùng Paris). Năm 1914, bị thương ở vùng Flandres (cực bắc Pháp, tiếp giáp Bỉ), với 75% thương tật. Ông được giải ngũ và sang châu Phi tham gia việc chiếm đóng một thuộc địa cũ của Đức là Cameroun; trở về nước năm 1916, với bệnh sốt rét mạn tính. Năm sau, lại được phái sang Luân Đôn (Anh) làm việc tại lãnh sự quán Pháp. Cũng chỉ một năm thì ông được về nước theo học trường đại học y khoa ở Rennes và Paris; bảo vệ xong luận án năm 1924. Qua năm 1926, ông làm cộng tác viên của Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hợp Quốc bây giờ) với tư cách một nhà nghiên cứu dịch tễ, phòng chống bệnh sốt vàng và bệnh ngủ; rồi lại sang Mỹ một năm theo một khóa chuyên tu về y tế lao động, làm thầy thuốc ở New York và nhà máy ô tô Ford ở Detroit. Năm 1928, ông trở về Pháp làm thầy thuốc bệnh viện ở Clichy (cũng trong vùng ngoại ô tây-bắc Paris).
Năm 1932, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông xuất hiện, mang tựa đề Hành trình đến tận cùng đêm tối, với bút danh Céline, và được tặng luôn Giải văn học Théophraste Renaudot [151*]. Năm 1936, ông cho ra cuốn thứ hai, Cái chết bán chịu (Mort à crédit), rồi Lỗi tại ta (Mea Culpa) năm 1937, Chuyện tào lao cho một cuộc tàn sát (Bagatelle pout un massacre) và Trường học cho các thây ma (L’école des cadavres) năm 1938. Khi Pháp tuyên chiến với Đức trong Chiến tranh thế giới thư hai thì Céline đang sống ở Saint Germain-en-Laye (cũng ở ngoại ô tây-bắc). Ông lên đường làm nhiệm vụ thầy thuốc trên tầu Shella, chạy trên đường biển Marseille-Casablanca. Tầu của ông đã có lần đụng phải một tầu chiến Anh, hai lần khác suýt đắm ở Gibraltar, rồi lại bị Đức bắn chìm trên đường về. Céline thoát chết về được đến Paris và được phân công liền đến Sartrouville thế chân một thầy thuốc ra mặt trận. Ông đưa bệnh nhân đi sơ tán năm 1940, rồi trở lại Paris phụ trách bệnh viện Bezons, gần nơi bệnh viện cũ. Năm 1941, ông viết cuốn Những tấm đra đẹp (Les beaux draps) và năm 1944 viết Gánh múa rối (Guignol’s Band).
Tuy nhiên, với quan điểm hư vô, yếm thế cực đoan, lại thêm tư tưởng bài Do Thái nặng nề, thể hiện rõ nhất trong những tác phẩm viết cuối những năm 30, và thái độ không rõ ràng trong thời Pháp bị Đức quốc xã chiếm đóng, ông bị coi là một phần tử thân phát xít mặc dầu ông chống chiến tranh. Cuối cùng Céline bỏ trốn sang Đức năm 1944, và bị cầm tù ở Baden-Baden, Sigmaringen rồi ở Đan Mạch trong hai năm 1945-1946, sau đó lại bị quản thúc. Những ngày tháng đen tối này được mô tả trong các cuốn Từ lâu đài đến lâu đài (D’un château l’autre), Phía Bắc (Nord), Trúng hồng tâm (Rigodon).
Năm 1951, Céline được Chính phủ Pháp giải tội và về sống ở Meudon (ngoại ô tây-nam Paris), ốm đau, tàn tạ. Ông tiếp tục hành nghề thầy thuốc để giúp đỡ những người bệnh cũng nghèo khó như ông và viết sách. Trong gần mười năm cuối đời, ông còn viết thêm gần chục tác phẩm, trong đó có bộ ba Từ lâu đài đến lâu đài - Phía Bắc - Trúng hông tâm vừa nêu trên.
Ông mất năm 1961 ở Meudon.
2
Trong năm 1995 mới đây, tờ tuần báo Pháp L’Evènement du Jeudi cùng Đài Phát thanh và Trung tâm văn hóa Pompidou ở Paris đã tổ chức một cuộc trưng cầu ý kiến, có hơn một nghìn người thuộc nhiều tầng lớp xã hội, nhiều giới, nhiều lứa tuổi khác nhau tham gia, để chọn lấy Mười cuốn sách hay nhất trong văn học Pháp cho thế hệ năm 2000. Kết quả là, cuốn Hành trình đến tận cùng đêm tối được xếp thứ hai, sau cuốn Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, nhưng đứng trên các tác phẩm xưa nay nổi tiếng của Albert Camus, André Malraux, Marguerite Yourcenar hay Jean- Paul Sartre...
Trước khi đi sâu vào Hành trình đến tận cùng đêm tối, ta điểm qua một số tác phẩm khác của Céline, như trên vừa kể.
Sau thời gian sống ở châu Phi và ở Mỹ, năm 1928, Céline về nước làm thầy thuốc ở Clichy. Bốn năm sau khi cuốn sách đầu tiên đó của ông ra đời và được tặng ngay Giải thưởng văn học, năm 1936, cuốn thứ hai, Cái chết bán chịu, đưa người đọc trở lại thời niên thiếu của tác giả. Qua các chương sách, người ta thấy được những diễn biến trong cuộc đời chàng trai Ferdinand, vật lộn với thời đại mình - nước Pháp và nước Anh trước Chiến tranh thế giới thứ nhất - và với chuyện học hành; rồi một chuỗi những chuyện trong gia đình, trong cuộc đời phiêu bạt, chuyện làm ăn, chuyện học tập cần cù, và dĩ nhiên cả chuyện trai gái dâm bôn... Lớn lên trong cảnh ngột ngạt của gia đình, Ferdinand chỉ còn biết trông cậy vào bà ngoại Caroline và cậu Édouard. Ông này không ngừng đem lòng tin và lòng nhân ái cứu vớt Ferdinand khỏi những cơn bối rối. Trong khi bố mẹ ngày càng lao vào đủ thứ chuyện kiếm chác và bắt con cùng phải ghé vai với mình, rồi ép Ferdinand bỏ học chứ đi học nghề, thực ra chỉ là một chú bé đầu sai, chạy hàng, đóng gói, bỏ mối, và sau đó đi làm thợ, làm thư ký sở tư. Cuộc đời Ferdinand còn phải chứng kiến lắm chuyện bi hài. Như chuyện mụ vợ ông giám đốc nọ cắm sừng lên đầu chồng rồi tự sát; chuyện bịp bợm của một kẻ mạo nhận nhà phát minh khoa học bị lật mặt nạ cũng tự nã đạn vào đầu...
Năm 1957, khi cuốn Từ lâu đài đến lâu đài ra đời, nhiều người đã nghĩ rằng có thể đặt tựa đề là Tận cùng đêm tối, coi như phần nối tiếp cuốn sách chúng ta đang đọc. Thông qua những diễn biến ở ba tòa lâu đài ông từng sống, Céline mô tả những tâm trạng đau đớn, xáo trộn bởi Chiến tranh, Hận thù và Nghèo khổ. Một lâu đài ở Sigmaringen (Đức), sống cùng Pétain và các bộ trưởng trong chính phủ bù nhìn Pháp lúc bấy giờ, một cái khác ở Đan Mạch, nơi ông bị giam giữ trong mười tám tháng, sau đó bị đưa về giam ở một trang trại hoang phế; và cuối cùng ở Meudon, nơi mà các con bệnh cũng nghèo kiết xác như ông thầy cứu chữa họ.
Xin nói rõ thêm, Sigmaringen là một thành phố của Đức trên sông Danube, d bang Baden Wurtemberg. Năm 1944-45, Pétain, quốc trưởng bù nhìn Pháp, ẩn náu ở đây, tuy trụ sở chính thức vẫn ở Vichy. Dưới ngòi bút của Céline, Sigmaringen được lấy làm nền cho một câu chuyện cổ tích trong đó có đủ cả thần tiên lẫn phù thủy, nhưng thần tiên thì ít mà phù thủy thì vô thiên lủng. Với một sự hài hước hào phóng, ông vẽ ra dáng vẻ những tên Đức phát xít hoảng hốt lo sợ cái khối lục địa châu Âu treo lơ lửng sẵn sàng chụp xuống đầu chúng; còn các bộ trưởng của ngụy quyền Vichy thì chẳng chút quyền hành, đến bản thân Pétain cũng đang nơm nớp đợi ngày bị điệu ra trước Tòa đại hình.
Văn học Pháp hiện đại đánh giá Hành trình đến tận cùng đêm tối, Cái chết bán chịu và Từ lâu đài đến lâu đài là ba tác phẩm lớn nhất của Céline. Nhiều từ điển bách khoa Pháp đặt Hành trình đến tận cùng đêm tối ngang với các tác phẩm văn học kinh điển và thường dành một mục từ riêng cho tác phẩm; ngay cả từ điển bách khoa Le Petit Larousse (1995) tuy cho rằng tác phẩm đã “được viết với một văn phong méo mó, tràn ngập những lộng ngôn”, nhưng cũng phải thừa nhận “tác phẩm đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Pháp hiện đại”. Đây là một trong những cuốn sách hiếm hoi vừa ra mắt đã lập tức trở thành một sự kiện lịch sử văn học. Céline đã dựa vào thứ ngôn ngữ truyền khẩu và bình dân mà văn học Pháp đã không biết đến suốt ba thế kỷ, để kịch liệt tố cáo thực trạng xã hội, từ đó tạo ra một sức mạnh chưa từng có và dùng nó để đặt một nghi vấn siêu hình về con người và thân phận làm người.
Mục tiêu thứ nhất của sự tố cáo ấy là chiến tranh, bấy giờ là cuộc chiến tranh giữa các để quốc vào năm 1914. Tác giả dựng lên một nhân vật mang tên Ferdinand Bardamu [152*], vừa là người kể chuyện vừa là hình bóng của chính ông. Bardamu ngẫu nhiên thấy mình dấn thân vào cuộc chiến tranh và cùng lúc anh ta khám phá ra những khủng khiếp của chết chóc, đồng thời cũng thấy ra ngay trong hàng quân Pháp một cuộc chiến tranh giữa các tướng lĩnh quân phiệt với đám lính tráng bị họ đẩy vào chỗ chết. Bardamu thoát ra được là nhờ bị thương. Nhưng tại các nhà thương trong vùng Paris mà anh ta được cứu chữa, thì chính mắt anh ta lại bắt gặp sự đối kháng giữa đám dân buôn đầu cơ chiến tranh và những chiến binh đã bị đem đi làm bia thịt giờ lại bị chúng bóc lột đến cùng. Ngay cả các thầy thuốc ở đây cũng lắm kẻ chối bỏ sứ mệnh của mình, tiếp tay cho thần chết. Cái ngôn ngữ bình dân của nhân vật Bardamu đã khiến cho mỗi trang sách của Céline thành một cáo trạng bóc trần những mỹ tự ái quốc ái quần phun ra từ mọi cửa miệng ở nơi này.
Bardamu được giải ngũ. Anh ta tính luôn đến chuyện xa lánh nơi trận mạc ấy, lần mò sang tận châu Phi, đến xứ thuộc địa Bambola-Bragamance [153*]. Anh ta xin được một chân quản lý chi nhánh hãng buôn trong tít rừng già nhiệt đới. Nhưng chẳng mấy chốc, anh ta lại thấy ra rằng chiến tranh, bằng nhiều hình thức khác nhau, vẫn bám đuổi mình trong suốt chuyến đi dài trên con tầu “Đô đốc Bragueton” rồi những ngày sống ở Fort-Gono, cũng như còn tiếp tục thấy nó suốt những chặng đường xa... ở đâu thì cũng vẫn những kẻ có đặc quyền tha hồ vơ vét bóc lột. Từ cái nhìn ấy, anh ta thấy lắm điều lý thú do chế độ thuộc địa bầy ra cả một xã hội phân hóa đẳng cấp, thậm chí cùng người da trắng cũng chẳng tha gì nhau, họ cũng bị các ông chủ ngồi tận bên mẫu quốc bóc lột hay bị những kẻ có quyền thế ở tại chỗ đè đầu cưỡi cổ. Ma cũ bắt nạt ma mới, thượng cấp nạt nộ hạ cấp, rồi lại hùa nhau hành hạ người da đen mà họ vỗ ngực tự xưng là những kẻ đi khai hóa. Đến được cái chi nhánh thương mại Bikobimbo là Bardamu đủ lường hết được những điều phi lý trong thực trạng đó. Rõ thật bất ngờ là Bardamu lại thấy tất cả những cái đó nơi con người mà mình đến thay thế, hắn ta cũng chẳng phải xa lạ gì với anh, chính là kẻ đã hai lần anh gặp trong cuộc chiến tranh, một kẻ vỗ ngực xưng xưng là người yêu nước. Đó là Robinson, kẻ đồng ngũ và cũng là nỗi ám ảnh bám đuổi anh như hình với bóng.
Ốm đau, mê sảng, người ta khiêng Bardamu ra tận bờ biển, quẳng lên một con thuyền ga-le, tức loại thuyền đi biển thường do những người tù khổ sai phải ra sức bươn chải dưới roi vọt của lũ cai tù. Con thuyền lênh đênh trôi đến cái Thế Giới Mới mà anh ta từng thấy trong mơ. Cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt Bardamu của thành phố New York - “thành phố dựng đứng” - đã gây cho anh một dấu ấn mạnh mẽ. Nhưng cái xứ sở cực lạc ấy (el colorado) lại mang một vỏ bọc kỹ càng lắm, chẳng dễ gì lọt vào nổi. Để làm được điều đó, Bardamu phải xoay xở xin vào phục vụ trong một cơ quan nhập cư, chuyên bới lông tìm vết đám dân di tản đến xứ này. Đã nghèo thì ở Mỹ cũng chẳng sung sướng gì hơn nơi khác. Tại đây người ta phát minh ra đủ cách để bóc lột. Bardamu đã khám phá ra điều đó ở nhà máy Ford ở Detroit: một hình thức nô dịch tân kỳ được đem ra áp dụng, đó là kiểu lao động dây chuyền. Nhờ có sự âu yếm và tinh khôn của một cô gái điếm, Bardamu thoát khỏi chốn này. Molly sẵn sàng dành cho quãng đời còn lại của Bardamu một cuộc sống đầy triển vọng tươi đẹp, hạnh phúc, yên ấm. Nhưng anh ta đã không được hưởng.
Thế rồi anh ta lại trở về Paris. Câu chuyện chỉ dành chút ít cho những năm học tập trở thành một người thầy thuốc. Cư trú ở vùng ngoại ô “Rancy” [154*], Bardamu lại khám phá ra thêm những gian nan mới trong cuộc sống. Làm thầy thuốc tư rồi thầy thuốc bệnh viện. Do nghề nghiệp của mình, anh phải đối mặt với bệnh tật và chết chóc, và dưới “ánh sáng” của những cái đó, anh ta lại thấy ra một thế giới mới khác nữa, trước hết là cái thế giới của tầng lớp tiểu tư sản, qua những nhân vật như cặp vợ chồng một viên chức hưu trí có tên là Henrouille [155*], hay bà mẹ một sản phụ trẻ chết vì sảy thai. Não nuột nhất là cái chết của Bébert, một đứa nhỏ bị bệnh thương hàn cướp đi trước những cố gắng đến tuyệt vọng của Bardamu. Nhưng cũng nhờ có chuyện ấy mà cái “công trình nghiên cứu y học” của tiến sĩ Parapine, thuộc Viện “Bioduret” được nhiều người xếp ngang với Viện Pasteur, té ra chỉ là một trò bịp.
Bardamu ngồi giu giú một nơi có hay đâu, xoay quanh anh, người ta khởi sự một trò gian ác: vợ chồng lão Henrouille mưu toan giũ bỏ bà mẹ già ốm yếu. Họ trước hết định đưa bà cụ vào bệnh viện để nhờ sự tiếp tay của Bardamu; việc không xong, vì bị từ chối, họ dàn dựng một tai nạn để hại bà cụ. Trợ thủ cho những đứa con quỷ quái này, vẫn không phải ai khác, lại chính là Robinson mà Bardamu vừa gặp ở Detroit và từ đó hắn theo riết anh đến tận Rancy này. Robinson gài một quả mìn nhỏ vào chiếc lồng thỏ nhằm hãm hại bà cụ. Bất đồ, mìn lại nổ ngay vào mắt hắn. Vợ chồng Henrouille bỗng dưng phải cưu mang thêm một thằng mù. Đến lượt một ông thầy tu là linh mục Protiste, được sự đồng tình của Bardamu, giúp cặp vợ chồng kia giải quyết cả bà cụ lẫn thằng mù, bằng cách đưa họ xuống Toulouse (miền nam nước Pháp), thu xếp cho họ trông giữ một căn hầm nhà thờ chứa những xác ướp rất hấp dẫn đối với khách du lịch.
Trong khi đó thì Bardamu rời bỏ Rancy. Một thời gian đi theo gánh ca vũ “Tarapout”, đóng những vai phụ. Gần gũi các cô vũ nữ dễ tính, anh ta mau trở thành một gã phóng đãng, giao lưu cả với tay chủ chứa ở đường Batignolles. Nhưng rồi sự tò mò xui khiến Bardamu xuống Toulouse dò xem Robinson và bà cụ Henrouille đã ra sao. Anh ta không thể ngờ rằng bà cụ lại khỏe mạnh và hoạt bát hơn bao giờ hết. Còn Robinson tuy vẫn mù lòa và thiểu não, thế mà hắn ta lại đang chấp chới làm rể bà hàng nến trong nhà thờ. Cô gái ấy tên là Madelon [156*]. Cô ta không có vẻ gì ác cảm với Bardamu mà còn dẫn anh đi tham quan căn hầm nổi tiếng đó. Trong thời gian lưu lại đây, một hôm cùng đi chơi vùng nông thôn, Bardamu đã có dịp bắt gặp hai anh chị tỏ tình với nhau rất mùi mẫn. Hai hôm sau, hay tin “một tai nạn tử vong” đã xảy ra với bà cụ Henrouille, Bardamu hiểu ngay thực chất sự việc, vội vàng chuồn thẳng.
Đoạn chót của anh ta diễn ra tại một bệnh viện tâm thần trong vùng Paris. Bardamu đến đây xin việc, thế nào lại gặp đúng lão Parapine. Lão đã trở thành một tay thân tín của bác sĩ Baryton, chủ bệnh viện này. Ông ta là người chống đối phương pháp điều trị phân tâm học. Bardamu tưởng như đã tìm được ở bệnh viện này một chốn nương thân lý tưởng. Lão Baryton rắn rỏi ấy, ban đầu có ý sử dụng Bardamu vì thấy anh ta thạo tiếng Anh, nhưng bản thân ông ta gặp phải chuyện bất ổn, liền từ bỏ bệnh viện, trút hết mọi trách nhiệm lên đầu Bardamu. Thì ngay đó, lại một lần nữa xuất hiện Robinson. Hắn ta đã khỏi mù lòa nhưng quá ngán cuộc sống chăn gối và chạy hàng chạy chợ của Madelon. Lại càng không chịu nổi tính thù vặt và dai như đỉa của cô nàng, thế là hắn bỏ chạy tháo thân. Robinson cầu xin Bardamu cho hắn lánh vào bệnh viện. Nhưng rồi Madelon cũng mò ra. Cô nàng trút hết giận dữ lên đầu anh và lôi Robinson về bằng được. Hồi ấy Bardamu đang vui hưởng những “đặc ân” của Sophie, một cô y tá người Xlôvác trong bệnh viện. Với thiện ý hòa giải, anh rủ cả bốn người cùng đi dự một cuộc vui ở Batignolles. Nhưng đây lại là một việc làm vụng về và đã dẫn đến thảm họa. Trên chiếc taxi, lúc quay về bệnh viện, Robinson cự tuyệt những cử chỉ làm lành của Madelon; đã thế lại còn khiêu khích, phỉ báng mối tình của Madelon dành cho hắn. Cô ta rút ngay súng bắn chết Robinson. Trực tiếp chứng kiến cơn hấp hối của Robinson và ra làm chứng ở đồn cảnh sát, tiếp đó Bardamu trở lại bên con sông đào, trong buổi sớm mai, và nhớ đến cái cung cách mà “chuyện ấy đã bắt đầu” (“çà a débuté” - những từ mở đầu cuốn tiếu thuyết này). Một tiếng còi tầu lan tỏa trên mặt sông đào khiến anh ta mường tượng cảnh con tầu đang lai dắt theo nó cả cái thế giới “không còn được ai nhắc đến nữa”.
Suốt cuộc hành trình, Bardamu đã không tự thỏa mãn việc tố cáo tất cả mọi cơ chế và mọi sự bất công trong xã hội. Trong chiến tranh, giáp mặt với lửa đạn, anh ta tưởng tượng ra cái chết và lấy nó làm chỗ dựa cho sự hèn nhát coi như đó là chuyện đương nhiên và ai cũng có quyền tránh né. Trong các bạn đồng ngũ của anh ta, người nào tỏ ra dũng cảm hoặc đơn giản chỉ là phục tùng mệnh lệnh, thì anh ta coi là người không có được sự tưởng tượng ấy. Nhưng ngay trong cuộc chiến, Bardamu cũng đã bắt gặp quả tang những kẻ tiếp tay cho Thần Chết bằng cách xô đẩy đồng loại vào cuộc chém giết lẫn nhau. Trải qua kinh nghiệm cơ bản này, Bardamu nảy sinh ý niệm về một sự hồ nghi rằng phải chăng trong mỗi con người đều tiềm chứa những ham muốn sát nhân, những sự chết chóc? Tiếp đó, trong cuộc sống phiêu bạt trên nhiều lục địa, qua mỗi bước đường, mỗi tình huống mới, anh ta cố tìm cho mình những yếu tố để giải đáp những vấn đề luôn luôn lởn vởn trong đầu. Đó cũng là nguyên nhân của sự khắc khoải khiến cho Bardamu (và cả Robinson cũng như Baryton) không thể đành lòng với cuộc sống yên ổn, bình thường, và có thể nói là hạnh phúc nữa. Cái chết được thấy ở Robinson rút cục lại nằm ngay trong viễn cảnh cuộc tìm tòi. Hơn nữa, theo cách nào đó, nó là kết quả của cái đã bắt đầu của chiến tranh.
Từ thân phận con người và từ mỗi con người, không phần biệt thuộc giai tầng nào, Hành trình đến tận cùng đêm tối đưa ra một ý niệm vô cùng đen tối. Phải chăng đó là thứ chủ nghĩa phản nhân văn hay chỉ vì ý muốn thôi thúc con người hãy vươn lên cao hơn chính mình, mà, trình bầy cho họ thấy một hình ảnh được tô đen đậm hẳn lên? Dường như điều đó đã được nhiều nhân vật trong truyện chứng minh. Có những nhân vật được tác giả xây dựng theo ước lệ nữa, như Molly hay như viên trung sĩ thuộc địa dám hy sinh thân mình vì đứa cháu gái nhỏ; những nhân vật khác lại càng độc đáo hơn, như bà cụ Henrouille, vượt lên tất cả, không để cho những sự khiêu khích, những nỗi đớn đau, thậm chí cả cái chết, có thể nhận chìm tinh thần ham sống và ngôn ngữ lạc quan của bà. Ngay trong truyện, ta thấy chỗ nào cũng có sự đối trọng giữa những hình ảnh hoặc những quyết đoán bi quan nhưng lại mang tính hài hước không ngừng phát triển, với một sức sống mãnh liệt được truyền vào văn phong bởi thứ ngôn ngữ bình dân đã được tìm lại.
Cái không khí rất lạ lùng của cuốn tiểu thuyết, với bối cảnh tăm tối, với nội dung câu chuyện được tạo nên qua một sự tích anh hùng bị nhìn bằng một lăng kính méo mó lố bịch, những mộng mị phi lý và những tình tiết nhớp nhúa, với cái thi vị đời thường mà tác giả khéo tạo dựng, khiến cho Hành trình đến tận cùng đêm tối trở nên một trong những tác phẩm nổi bật nhất của văn học Pháp giữa hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, đặc biệt là trong những năm cuối thập kỷ 30. Ta còn nhớ hồi ấy, với phong trào Mặt trận Bình dân (1936 - 1939) nhiều tác phẩm hiện thực phê phán lớn như của Gide tố cáo những tệ ức hiếp của bọn thực dân ở Congo, của Duhamel vạch trần chế độ man rợ mới của tư bản Mỹ... Nhưng, những gì được Céline mô tả trong Hành trình đến tận cùng đêm tối lại đập mạnh hơn cả vào dư luận đương thời. Bernanos, Aragon, Elsa Triolet đều bị thuyết phục bởi cái chất cách mạng trong sự tố cáo mạnh mẽ của Céline. Ông còn tìm tòi được một bút pháp mới mẻ, bất chấp văn phạm chính thống của văn viết; ông đã đưa vào văn học Pháp một thứ văn nói, đặc biệt là sự phong phú trong ngữ điệu dân gian và những sống sượng của tiếng lóng dân dã ngoại ô. Cách biểu đạt của ông, nhất là trong Hành trình đến tận cùng đêm tối, đã tác động lớn đến văn phong của nhiều nhà văn khác cũng có xu hướng chính trị và cá tính khác thường như ông.
Hai nhà văn lớn Jean - Paul Sartre và Raymond Quéneau tự coi như “mang nợ” Céline trên lĩnh vực này...
Tất nhiên, bên cạnh những tiếng khen, cũng không ít tiếng chê và coi Céline không những là người hư vô, yếm thế mà còn là phần tử vô chính phủ, “kẻ gào thét sự vô lý” nữa... Nhưng dù thế nào thì đến tận ngày nay người ta vẫn cứ phải xếp nó bên cạnh các tác phẩm hàng đầu trong văn học Pháp.
Tuy chúng tôi đã cố gắng chuyển nguyên bản sang tiếng Việt ta, nhưng gặp phải một tác phẩm viết với một văn phong đã rất độc đáo, lại chứa đựng những ngôn ngữ bình dân và cả những tiếng lóng dân gian Pháp mà người dịch cũng không hiểu được hết, nên không tránh khỏi những thiếu sót. Mong bạn đọc thông cảm và chỉ bảo. (Các chú thích ở cuối trang là của người dịch).
Tư liệu giới thiệu tác giả và tác phẩm tổng hợp từ các từ điển và sách báo Pháp
Người dịch: HOÀNG PHONG