Vigny-sur-Seine trải ra giữa hai đập nước, nằm giữa hai ngọn đồi trọc, đó là một làng đang cựa mình ở vùng ngoại ô. Paris đang thôn tính nó.
Mỗi tháng nó mất đi một khu vườn. Biển quảng cáo sặc sỡ ngay từ lối vào. Con gái viên thừa phái đã biết cách pha cốc-tai. Chỉ có đường tàu điện là cố tình trở thành lịch sử, chừng nào chưa có cách mạng nó chưa chịu biến. Ai nấy lo lắng, trẻ con bây giờ không nói theo giọng của bố mẹ nữa. Người ta cảm thấy ngượng ngùng khi nghĩ rằng mình vẫn là tỉnh Seine-et-Oise. Phép thần đang sắp hoàn thành. Mẩu vườn cuối cùng đã biến mất sau khi Laval đến kinh doanh, và từ sau kỳ nghỉ hè các bà giúp việc đòi tăng lương hai mươi xu một giờ. Đã xuất hiện một tay cò mồi đánh cá ngựa. Cô nhân viên bưu điện mua tiểu thuyết về bọn đĩ đực về xem và tưởng tượng thêm nhiều chuyện ly kỳ hơn thế. Cha xứ khi cần cũng văng tục như ai và tư vấn cho các con chiên ngoan đạo về chứng khoán. Sông Seine đã chết hết cá và nó đã Mỹ hóa với hai hàng xe ủi-đẩy-đổ hàng đống rác rưởi và đồ phế thải trông như hàm ràng giả khủng khiếp trên hai bờ sông. Ba tay đầu cơ những lô đất vừa phải vào tù. Rồi mọi việc lại đâu vào đó thôi.
Cơn sốt đất đai ở địa phương này không lọt khỏi mắt Baryton. Lão tiếc cay tiếc đắng vì hai mươi năm trước đã không mua nhiều đất hơn nữa trong thung lũng bên cạnh. Hồi ấy người ta bán tống bán tháo như bán cá ươn, có bốn xu một mét. Thời vàng son nay còn đâu! May thay cái Viện Tâm lý liệu pháp của lão vẫn trụ vững. Nhưng không hoàn toàn suôn sẻ. Thiên hạ háo cái mới luôn luôn đòi hỏi, thúc ép lão phải có những kiểu điều trị tân kỳ hơn, nhậy bén hơn, bí hiểm hơn, vân vân... Nhất là máy móc phải tối tân, dụng cụ choáng lộn hơn, ngay lập tức, nếu không muốn bị thua trong cạnh tranh. Khối nhà thương tư tương tự đang lấp ló trong các khu rừng cây gần Asnière, Passy, Montretout, họ cũng luôn luôn chộp những đồ nghề hạng sang nhất.
Có Parapine mách nước, Baryton phải vội vàng theo kịp thời đại, tất nhiên bằng cách tiết kiệm nhất, mua toàn hàng hạ giá, đồ cũ, bán xon, nhưng tân trang liên tục, nào đồ điện, đồ khí động lực, thủy động lực, ra vẻ bao giờ cũng trang bị đồ mới nhất để chiều ý những khách hàng khó tính và giầu có. Lão muốn rên lên vì cứ phải chạy theo cái hào nhoáng bề ngoài... buộc phải tranh thủ sự tín nhiệm của những kẻ điên rồ.
Một hôm lão tâm sự với tôi, bầy tỏ những tiếc nuối của mình:
- Lúc tôi mở bệnh viện này, là đúng sau kỳ Triển lãm, cái Triển lãm quốc tế ấy, anh Ferdinand ạ... Những thầy thuốc về khoa thần kinh lúc đó còn rất ít, và rất thọc mạch nhưng không hư đốn như bây giờ, anh hiểu cho!... Bấy giờ không ai trong chúng tôi lại nghĩ mình cũng phải điên như bệnh nhân... Thời ấy chưa có cái mốt nổi điên lên để có cớ chữa chạy, một cái mốt tồi tệ, anh thấy không, như mọi thứ mốt nhập ngoại...
“Lúc mới hành nghề, các thầy thuốc Pháp chúng ta còn biết tự trọng, anh Ferdinand ạ! Chưa ai nghĩ rằng phải chạy đua với bệnh nhân... Có lẽ để cho ngang tầm chăng?... Tôi không hiểu được... Chiều ý họ chăng? Cứ đà này chúng ta sẽ đi đến đâu?... Tôi xin hỏi anh?... Cứ cố tỏ ra khôn khéo, bệnh hoạn hơn cả những bệnh nhân rồ dại nhất trong các nhà thương điên của mình, cứ đầm mình vào một thứ tự mãn ti tiện trong tất cả những đòi hỏi lố lăng mà họ yêu cầu, chúng ta đi đến đâu?... Ferdinand, liệu anh có thể làm tôi yên lòng về số phận của lý trí chúng ta?... Và thậm chí của cả lương tri thông thường?... Cứ đà này, sẽ còn gì là lương tri? Không còn gì hết! Điều đó dự đoán được! Không còn tí gì! Tôi dám báo trước với anh như vậy... Thật hiển nhiên...
“Trước hết, cái gì mà chẳng có giá trước một trí thông minh thật sự hiện đại? Không còn trắng! Không còn cả đen nữa! Mọi thứ đổ sụp!... Đó là kiểu mới! Đó là mốt! Thế thì tại sao chính chúng ta lại không hóa điên luôn?... Ngay lập tức! Bắt đầu đi! Và tự vỗ ngực nữa! Lớn tiếng tuyên bố cuộc đại loạn trí tuệ! Lấy sự điên loạn để tự quảng cáo! Ai ngăn chúng ta? Ferdinand, tôi xin hỏi anh? Vài sự ngần ngại tối thượng và vô ích của con người? Rồi những rụt rè vô vị nào nữa? Hử? Ferdinand ơi, khi nghe một số đồng nghiệp nói, và anh nhớ cho rằng đó là những người được khách hàng và các Viện Hàn lâm ưa chuộng, tôn trọng nhất, có lúc tôi tự hỏi họ sẽ đưa chúng ta đi tới đâu!... Thật là quỷ quái! Những kẻ điên cuồng ấy làm tôi hoang mang, lo sợ, và nhất là kinh tởm. Chỉ nghe họ nói ở những hội nghị hiện đại ngày nay, báo cáo kết quả nghiên cứu của họ, là tôi thật sự hoảng hồn! Nghe họ nói, là lý trí của tôi phản lại tôi liền... Những đứa con cưng của khoa tâm thần học mới nhất này thật đồi bại, xảo quyệt, họ kéo chúng ta xuống vực thẳm với những phân tích hoang tưởng [138*] của họ... Phải rồi, xuống vực thẳm! Một buổi sớm nào đó, nếu không chống cự lại, những bạn trẻ các anh, thì chúng ta sẽ qua đấy hết, hiểu chưa, qua hết! Cứ kẽo kẹt mãi, tâng bốc mãi ta lên hành hạ lý trí ta ở phía bên kia sự thông minh, cái phía ma quỷ ấy, cái phía mà ta không biết đường nào mà lần! Vả lại, có thể nói rằng bọn chúng đã bị nhốt trong cái vực thẳm dành cho kẻ tội đồ rồi, chỉ vì cứ thủ dâm bằng trí óc suốt cả ngày lẫn đêm mà! Tôi nói cả ngày lẫn đêm, vì, anh biết không, cả ban đêm bọn đểu cáng ấy vẫn không ngừng mơ những chuyện loạn dâm!... Thật quá đáng!... Này đào sâu này!... Này mở mang trí óc này! Này bới đi bới lại này!... Và thế là, chung quanh họ chỉ còn là một mớ bầy nhầy những chất thải của cơ thể, một bùng nhùng những triệu chứng mê sảng tiết ra tong tỏng khắp nơi... Tất cả sắp sụp đổ, Ferdinand ạ, sụp đổ, tôi báo trước anh biết, tôi, lão già Baryton này, và không còn bao lâu nữa đâu! Và anh sẽ chứng kiến việc đó! Vì anh hãy còn trẻ!... Anh sẽ chứng kiến!... A! tha hồ mà thích thú! Các anh sẽ nhẩy tuốt sang ông hàng xóm! Hốp! Thêm một cú mê sảng nữa! Một cú quá liều lượng! Và vrrum! Tiến sang nhà Thằng Điên! Xong! Các anh được giải thoát, như vẫn nói! Điều đó hấp dẫn các anh quá lâu rồi mà! Một liều ba bẩy cũng liều! Nhưng khi các anh sang với Thằng Điên rồi, tôi bảo đảm là các anh sẽ ở lại đó mãi!
“Ferdinand, anh hãy nhớ kỹ lấy điều này, cái khởi đầu cho sự kết thúc hết cả, đó là sự quá đà. Cuộc đại loạn này mở đầu như thế nào, tôi có đủ tư cách để kể... Đầu tiên là sự thiếu mức độ. Rồi đến những quá đáng xa lạ! Không còn mức độ, không còn sức lực! Thế là hết! Tất cả mọi người rơi vào cõi hư vô, chứ sao? Tất cả? Thì đúng thế! Chúng ta không chỉ đi tới, mà là chạy tới, xô nhau chạy tới! Tôi, tôi đã tận mắt trông thấy lý trí dần dần mất thăng bằng rồi tan biến trong cái âm mưu to lớn của những tham vọng quỷ quyệt! Khởi đầu là vào năm 1900... Từ thời điểm đó, cả thế giới nói chung và ngành tâm thần học nói riêng chỉ là một cuộc chạy đua cuồng điên xem ai tai quái hơn, dâm đãng hơn, kỳ quặc hơn, kinh tởm hơn, sáng tạo hơn, như họ nói!... Thật loạn xà ngầu!... Phần thắng sẽ thuộc về ai cúc cung tận tụy sớm nhất với con quái vật, với con thú không tim!... Ferdinand ạ, con thú ấy ư? Một cái đầu to sù đi ngật ngưỡng!... Các trận chiến và đờm dãi nó đang lóe rực tới chúng ta khắp tứ phía!... Chúng ta sắp ngập trong cơn hồng thủy! Rất đơn giản! À, dường như ý thức đã bị nhàm chán. Thì sẽ không nhàm chán nữa! Thiên hạ bắt đầu lục đục với nhau, để đổi món... Thế rồi người ta bỗng thấy nẩy sinh những “cảm tưởng”, những “linh tính”... Như đàn bà!...
“Vả lại đến tình thế này, có cần gì phải vướng víu về một cái từ phản phúc gọi là lô gích không?... Tất nhiên không! Đúng hơn, lô gích lại là một thứ vật cản đối với các nhà bác học tâm lý vô cùng tinh tế mà thời đại ta đã nhào nặn, thực sự tiến bộ... Nhưng Ferdinand, anh chớ vì thế mà bảo rằng tôi khinh rẻ đàn bà! Không! Anh thừa biết thế. Nhưng tôi không ưa những cảm giác của họ! Tôi là con vật có hòn dái, và một khi nắm được sự việc gì thì khó lòng từ bỏ. Nhân tiện hôm nọ vừa xẩy ra với tôi một chuyện... Người ta yêu cầu tôi tiếp một nhà văn... Tay nhà văn ấy lang thang khắp vùng... Và anh có biết, suốt một tháng trời hắn gào cái gì? “Phải thanh toán!... Phải thanh toán!...” Hắn gào như thế khắp nhà... Hắn đã bước sang phía bên kia của trí khôn!... Nhưng chính đó là cái hắn vô cùng vất vả mà không thanh toán được... Hắn bị thắt cái gì đó làm bí đái, nước giải không ra được... Tôi cố gắng thông cho hắn, giải thoát từng giọt, từng giọt... Gia đình thì cứ nhất định rằng hắn bị như thế là do thiên tài của hắn... Tôi ra sức giải thích rằng chính bọng đái của tên văn sĩ bị bệnh, nhưng họ không nghe... Với họ, chẳng qua trong lúc thiên tài lên đến cực điểm nên hắn bị như vậy, thế thôi... Cuối cùng tôi đành ngả theo ý kiến họ. Anh biết gia đình là cái gì rồi chứ? Không thể làm cho gia đình hiểu rằng một con người, dù thân hay sơ, rút cục chỉ là một khối thối rữa tiềm ẩn... Họ sẽ không chịu chi tiền cho cái thối rữa tiềm ẩn đó”.
Từ hơn hai chục năm nay Baryton không ngừng ra sức chiều lòng các gia đình bệnh nhân với tất cả sự ngạo mạn của họ. Các gia đình ấy làm cho lão khốn khổ. Tôi biết lão bản tính kiên trì, vững vàng, song lão luôn luôn giữ trong lòng mối căm hận dai dẳng với các gia đình ấy... Hồi tôi sống bên lão, lão rất khó chịu và luôn luôn tìm mọi cách làm thế nào kín đáo bỏ trốn để giũ ra được một lần cho dứt khỏi sự câu thúc của các gia đình ấy... Mỗi người có lý do để tự giải thoát khỏi nỗi khổ tâm riêng và mỗi người trong chúng ta tùy theo từng trường hợp mà tìm được cách khôn khéo để thực hiện. Hạnh phúc thay những ai chỉ cần đến nhà thổ là xong!
Về phần mình, Parapine có vẻ thỏa mãn với con đường im lặng. Còn Baryton, sau này tôi mới hiểu, thì luôn luôn tự hỏi liệu mình có bao giờ thoát khỏi sự phụ thuộc vào các gia đình ấy, thoát khỏi ngần thứ nhàm chán của tâm lý ẩm thực. Lão khát khao những điều thật mới, thật đa dạng, đến mức luôn luôn sẵn sàng bỏ trốn, đào thoát, có lẽ vì thế mà lão luôn mồm chỉ trích... Qua cuộc sống thường nhật thấy nổi bật tính ích kỷ của lão. Lão không coi trọng một cái gì, chỉ muốn bỏ ra đi, đem thân mình đi nơi khác.
Lão tự giải thoát băng một vụ tai tiếng rất đáng tiếc mà vẫn tưởng mình làm đúng. Tôi sẽ kể đầu đuôi câu chuyện đó sau này.
Phần tôi, lúc này làm phụ tá cho lão, cũng tạm được.
Công việc điều trị hằng ngày không có gì vất vả; tất nhiên thỉnh thoảng tôi cũng thấy hơi bất ổn, chẳng hạn khi trò chuyện quá lâu với các bệnh nhân. Tôi như bị choáng, tuồng như bị họ kéo ra xa khỏi bến bờ quen thuộc của mình; từ câu này xọ sang câu khác, với những lời lẽ ngây thơ, họ đưa mình vào tận chính giữa cơn mê sảng của họ. Trong chốc lát, tôi tự hỏi làm thế nào thoát ra được, hay không khéo cũng bị hãm vào cơn điên của họ mà không biết.
Có thể nói là tôi đã ở sát ngay bờ vực nguy hiểm của người điên, liền kề với họ, do bản chất tôi vốn lành, đối xử với họ tử tế. Tôi không chao đảo, nhưng luôn cảm thấy nguy cơ, như tuồng sắp bị họ ngầm lôi tuột vào mê lộ trong cái thành phố xa lạ của họ. Một thành phố mà ta càng đi sâu vào giữa những dẫy nhà tàn tạ càng thấy phố phường mềm nhũn ra... Dù sao ta vẫn muốn đi xa chút nữa để xem mình có đủ sức phục hồi lý trí không, dù đi giữa hoang tàn đổ nát. Lý trí dễ biến nhanh thành tật xấu, chẳng khác gì niềm vui biến thành sự buồn ngủ, ở những kẻ thần kinh suy nhược. Không thể chỉ lo đến lý trí của mình. Mọi việc hỏng hết rồi. Không lơ mơ nữa.
Cứ thế, từ nghi hoặc này đến nghi hoặc khác, đã đến ngày 4 tháng năm. Một ngày ra trò. Hôm ấy tự nhiên tôi thấy người khỏe khoắn như có phép tiên. Mạch đập 78. Như vừa ăn một bữa sáng thịnh sọạn. Thế mà bỗng dưng tất cả quay cuồng! Tôi ra sức bấu víu. Mặt mũi ai nấy trở nên kỳ dị, thô ráp như vỏ chanh và có vẻ tai ác hơn trước. Có lẽ vì đã leo quá cao, quá liều lên tột đỉnh của sức khỏe, tôi rơi tõm xuống trước tấm gương, thấy mình già đi trông thấy.
Không thể kể cho hết được nỗi chán ngán mệt mỏi khi những ngày khốn kiếp ấy dồn dập giữa mũi và mắt mình, chỉ riêng quãng ấy thôi đối với nhiều người đã phải bao nhiêu năm. Thế mà đây chỉ với một người thì thật quá nhiều.
Chung quy, tôi bỗng muốn trở lại Tarapout ngay lập tức. Nhất là Parapine đã không thèm nói chuyện với cả tôi. Nhưng có trở lại với Tarapout, tôi cũng không còn đất sống. Thật gay, khi ta chỉ có một chỗ dựa vật chất và tinh thần là ông chủ, mà ông chủ ấy lại là một thầy thuốc tâm thần, không biết trong đầu lão nghĩ cái gì. Đành chịu đựng. Không nói gì cả. Chúng tôi chỉ còn nói với nhau toàn chuyện đàn bà; đó là một đề tài vô hại mà tôi còn hy vọng đôi lúc làm cho lão vui. Về mặt này, lão tin là tôi có chút ít kinh nghiệm và thẩm quyền.
Baryton có coi thường tôi đôi chút thì cũng chẳng sao. Ông chủ bao giờ lại chẳng yên tâm hơn với sự hèn mọn của nhân viên. Đã là nô lệ thì dù muốn dù không cũng cứ là đáng khinh một chút và thậm chí nhiều nữa là khác. Một loạt những khuyết tật cố hữu về thể chất và tinh thần đè nặng lên số phận của họ. Như thế trái đất quay được tốt hơn, vì mỗi người trên đó đều giữ đúng vị trí của mình.
Kẻ người ta thuê mướn ắt phải là kẻ thấp hèn, nhạt nhẽo, sa cơ, có như vậy lương tâm người ta mới thanh thản, nhất là Baryton trả cho chúng tôi rất thấp. Đã hà tiện, lão lại hay lo ngại, nghi ngờ. Hư hỏng truy lạc và trung thành, những cái đó thường đi đôi, hòa hợp với nhau. Giá tôi bị cảnh sát truy nã nữa thì có lẽ Baryton lại càng ưa thích hơn. Như vậy tôi sẽ càng trung thành với lão.
Vả lại, từ lâu tôi đã từ bỏ mọi tự ái. Tôi nghĩ thứ tình cảm ấy là quá cao sang so với thân phận mình, lại ngàn lần tốn kém so với của cải mình có. Hy sinh béng nó đi càng tốt.
Giờ tôi chỉ cần giữ một sự ổn định tương đối về ăn uống và thể lực. Những thứ còn lại chẳng đáng quan tâm. Tuy nhiên nhiều đêm cũng khó ngủ, nhất là khi nhớ lại những chuyện xẩy ra ở Toulouse, tôi thao thức hàng giờ.
Tôi không khỏi tưởng tượng ra đủ thứ chuyện bi thảm tiếp sau vụ bà cụ Henrouille bị ngã dưới hầm xác ướp. Và thế là tôi hoảng sợ đến quặn bụng, tim đập liên hồi khiến tôi phải vùng dậy khỏi giường, đi đi lại trong phòng cho đến tận sáng. Trong những cơn khủng hoảng ấy, tôi chịu không tài nào thanh thản lại để ngủ tiếp. Cho nên chớ bao giờ vôi tin vào nỗi đau khổ của con người. Hãy hỏi họ có lại ngủ tiếp được không?... Nếu được, mọi việc đều tốt. Thế là đủ.
Phần tôi, tôi không bao giờ ngủ được đẫy giấc. Tôi đã mất cái thói quen tin cậy, mà có thật tin cậy vô biên thì con người mới có thể ngủ say đẫy giấc. Ít nhất tôi phải bị bệnh, bị sốt rét, bị tai họa cụ thể gì đó thì mới thấy lại được sự dửng dưng và loại trừ nỗi lo âu, phục hồi sự bình tĩnh thiêng liêng và ngớ ngẩn. Qua nhiều năm, những ngày duy nhất tạm chịu đựng được mà tôi còn nhớ, là mấy ngày tôi bị cúm, bị sốt cao [139*].
Baryton không bao giờ hỏi thăm đến sức khỏe của tôi. Lão cũng chẳng quan tâm đến sức khỏe của bản thân. “Khoa học và đời sống là một sự pha trộn tai hại, Ferdinand ơi! Tôi nói thật, hãy tránh quan tâm đến thân mình... Mỗi vấn đề đặt ra cho cơ thể đều biến thành một kẽ hở... Một sự mở đầu cho lo âu, ám ảnh...” Đó là những nguyên lý sinh học đơn giản mà lão ưa thích. Nói tóm lại, lão rất khôn ngoan. “Biết lắm, thêm khổ!” lão thường bảo thế. Có ý muốn để tôi liệu chừng.
Lão không bao giờ nói chuyện tiền nong với tôi, nhưng trong thâm tâm thì chắc hẳn là lão nghĩ tới nhiều hơn.
Những chuyện rắc rối giữa Robinson với gia đình Henrouille, tôi chưa hiểu hết, và vẫn còn giữ trong lòng, nhưng thỉnh thoảng cũng kể cho Baryton nghe một vài mẩu. Song lão không quan tâm gì cả. Lão thích những chuyện tôi kể về châu Phi, nhất là chuyện về mấy đồng nghiệp tôi đã gặp hầu khắp mọi nơi, với những kiểu điều trị kỳ cục và đáng ngờ của họ.
Ở bệnh viện, thỉnh thoảng chúng tôi lại bị báo động vì con bé Aimée, con gái lão. Đến giờ ăn trưa đột nhiên nó biến đi đâu mất, tìm trong phòng, ngoài vườn đều không thấy. Phần tôi, luôn luôn chuẩn bị tư tưởng để lỡ ra một đêm nào đó lại tìm thấy nó bị sát hại ở một bụi cây. Với những bệnh nhân điên lang thang khắp các xó xỉnh, chuyện ấy có thể xẩy ra được lắm. Mấy lần con bé đã suýt bị hãm hiếp. Nó đã bị cấm không được la cà ở những con đường khuất nẻo, vậy mà nó cứ hay đến đó, như có ma dẫn lối quỷ đưa đường. Mỗi lần như thế, bố nó lại đét đít cho một trận nên thân. Nhưng cũng chẳng ăn thua gì.
Nhân viên chúng tôi, do thường gặp người điên qua lại các hành lang, nên luôn luôn phải cảnh giác. Người điên là dễ phạm tội hơn người thường. Vì thế đã thành thói quen là mỗi khi gặp họ, chúng tôi thường quay lưng vào tường, sẵn sàng hễ thấy họ giở trò gì là cho luôn một cái đá vào bụng dưới. Họ chỉ gườm gườm nhìn chúng tôi rồi đi qua. Thế là điên hay không điên, chúng tôi đều hiểu nhau.
Baryton rất tiếc là trong chúng tôi không ai biết đánh cờ. Rồi tôi sẽ phải học cái trò chơi này, dù chỉ nhằm vừa lòng lão.
Ban ngày Baryton hoạt động rất tất bật và tỉ mẩn, khiến mọi người xung quanh cũng mệt lây. Mỗi sáng lão lại nẩy ra một ý kiến mới, hoàn toàn có tính thực dụng. Thay giấy vệ sinh cuộn trong nhà xí bằng loại giấy từng tờ gấp, làm cho chúng tôi phí công suy nghĩ mất một tuần liền mà ý kiến cứ trái ngược nhau. Cuối cùng, quyết định chờ đến tháng các cửa hàng bán giảm giá sẽ tính. Sau đó là một chuyện vớ vẩn khác, chuyện áo gi lê dạ... Phải mặc nó bên trong hay bên ngoài sơ mi?... Rồi cách xử lý xuyn phát đờ xút thế nào?... Parapine im như thóc, không tham gia các cuộc tranh cái dưới tầm trí thức đó.
Buồn tình, cuối cùng tôi lại kể cho Baryton thêm nhiều chuyện về các chuyến phiêu lưu của tôi, đến mức mệt nhoài. Và thế là đến lượt lão lại lấp cuộc chuyện trò bằng những đề xuất, những ý kiến vặt vãnh. Cái vòng luẩn quẩn thoát không xong. Chính vì mỏi mệt mà lão bắt mất hồn tôi. Tôi không có được sự dửng dưng tuyệt đối như Parapine để tự bảo vệ. Trái lại, tôi cứ mặc nhiên đối đáp với lão. Tôi không tài nào dừng tranh luận liên miên đủ thứ, như so sánh lợi hại giữa ca cao và cà phê kem chẳng hạn. Thật ngốc nghếch mà vẫn cứ bắt vào.
Cứ thế, chúng tôi tranh luận đủ chuyện lớn nhỏ: chứng giãn tĩnh mạch thấp, dòng điện Faraday tối đa, điều trị bệnh viêm tế bào vùng khuỷu... Theo sự hướng dẫn và thiên hướng của lão, tôi đã nói được lăng nhăng đủ mọi thứ như một kỹ thuật gia thực thụ. Baryton kèm sát tôi, đi trước tôi trong cuộc dạo chơi dớ dẩn bất tận, lão khiến tôi bão hòa với cuộc chuyện trò cho tới vĩnh hằng. Parapine hẳn cười thầm trong bụng khi nghe chúng tôi cãi vã suốt ngày những chuyện linh tinh.
Nhưng xin cầu bình yên cho linh hồn ngài Baryton, lão đểu cáng ấy! Cuối cùng thì tôi cũng tìm được cách làm cho lão phải biến. Mất khá nhiều công sức.
Trong số các nữ bệnh nhân mà tôi được giao trách nhiệm quản lý đặc biệt, thì những mụ nhếch nhác nhất thường gây cho tôi lắm chuyện bực mình. Chỗ này đòi đi tắm... Chỗ kia đòi ống thông dò... Những tật xấu lặt vặt, những cơn điên khùng, những vết thương cần giữ cho sạch... Một nữ bênh nhân trẻ thường làm cho tôi bị lão chủ quở trách. Chả là cô ta có tật hay ngắt hoa, phá hoại khu vườn, mà tôi thì không ưa bị chủ quở trách.
Biệt hiệu cô ta là “Vị hôn thê”, người Ác-giăng-tin, về hình thức không đến nỗi nào, nhưng có bệnh tâm thần, đòi lấy bố đẻ. Thế là tất cả các hoa trong vườn lần lượt bị cô ta vặt để cắm lên tấm áo cưới trắng tinh mà chỗ nào, lúc nào cô cũng mặc. Một ca bệnh lý mà gia đình cô ta, vốn rất sùng đạo, lấy làm xấu hổ. Họ nhốt cô vào đây cho khuất mắt thiên hạ. Theo Baryton, cô là nạn nhân của một nền giáo dục quá khắc nghiệt, căng thẳng, một nền đạo đức cứng nhắc, làm cô ta phản ứng đến phát điên.
Cứ đến chiều tối, chúng tôi lùa tất cả mọi người vào trong nhà, điểm danh rất lâu, rồi còn phải vào từng phòng canh chừng, nhất là để ngăn những kẻ bị kích thích thường thủ dâm trước khi ngủ. Tối thứ bẩy càng cần chú ý canh gác hơn, vì chủ nhật người nhà đến thăm, thấy họ phờ phạc vì thủ dâm, thì thật không hay cho Viện.
Nhân đây tôi nhớ lại vụ Bébert và món xi rô tinh chế. Ở Vigny, tôi thường cho họ uống nhiều loại xi rô này. Tôi còn nhớ công thức pha chế, và tin vào công hiệu của nó.
Bà gác cổng của viện mở một quán bánh kẹo, cùng với chồng là một tay to lớn vạm vỡ, đôi khi gặp trường hợp gay cấn, chúng tôi phải nhờ tay này trợ lực.
Cuộc sống cứ thế trôi đi, nói chung tạm ổn, chẳng mấy chuyện đáng phàn nàn, nếu như Baryton không chợt nẩy ra sáng kiến mới.
Hẳn là từ lâu lão đã ấp ủ cách nào đó để sử dụng tôi được nhiều hơn mà tiền lương vẫn như cũ. Và thế là lão đã tìm được ra.
Một hôm, vào bữa ăn sáng, lão liền nói toạc ra. Thoạt tiên, lão sai dọn một liễn đầy kem dâu, là món tráng miệng tôi rất thích. Ngay lúc đó tôi đã ngờ ngợ. Quả nhiên, vừa ăn xong, lão vào đề luôn:
-Ferdinand, tôi tự hỏi liệu anh có đồng ý dạy tiếng Anh cho con bé Aimée nhà tôi không?... Anh nghĩ thế nào?... Tôi biết giọng nói tiếng Anh của anh rất hay... Mà trong tiếng Anh, cái giọng là quan trọng nhất!... Vả lại, không phải nói để nịnh anh đâu, anh vốn là người tốt bụng, sẵn lòng giúp đỡ mà.
-Thưa ông Baryton, tất nhiên tôi đồng ý - bị bất ngờ, tôi trả lời luôn.
Và lập tức, chương trình được quyết định. Ngay sáng hôm sau tôi sẽ giảng bài đầu tiên cho Aimée. Và cứ thế những bài tiếp theo trong nhiều tuần...
Chính bắt đầu từ những bài tiếng Anh ấy mà chúng tôi bước vào một thời kỳ hết sức bối rối, mập mờ, việc này việc nọ liên tiếp ùa đến với nhịp độ khác hẳn cuộc sống bình thường.
Baryton ngồi dự tất cả các buổi học của con gái. Mặc dầu tôi hết sức tận tình, con bé Aimée tội nghiệp chẳng tiêu hóa nổi một chút tiếng Anh nào. Thực ra thì nó chẳng thiết gì biết nghĩa mỗi từ mới học. Nó tự hỏi tại sao chúng tôi lại cứ bắt ép nó phải hiểu nghĩa những từ ấy. Thiếu chút nữa là nó òa lên khóc. Với chút tiếng Pháp đang học bập bẹ nó nghĩ là đã quá đủ để phải học suốt đời rồi. Nhưng bố nó lại không chịu nghĩ như thế. Lão dỗ dành, động viên con:
-Nào, Aimée con yêu của bố! Con phải trở thành một thiếu nữ hiện đại... Bố đã bị nhiều thiệt thòi, vì không biết đủ tiếng Anh để giao thiệp với khách hàng nước ngoài... Thôi, con đừng khóc!... Hãy lắng nghe ông Bardamu giảng, ông ấy rất tốt, và khi nào con nói được từ the bằng cách đưa lưỡi như ông ấy, bố hứa sẽ mua thưởng cho con một xe đạp thật đẹp, mạ kền bóng loáng...
Nhưng Aimée không muốn tập nói những từ the hay enough, dứt khoát không muốn. Chính lão Baryton lại tập nói thay cho con những the, những rough và lại đạt nhiều tiến bộ khác, mặc dù vẫn lơ lớ giọng vùng Bordeaux và cái tư duy lô gích rất khó hợp với tiếng Anh. Một tháng, hai tháng như thế. Ông bố càng mê học Anh ngữ bao nhiêu thì đứa con càng đỡ phải mệt óc tập đọc. Hóa ra tôi dạy Baryton là chính. Lão bám chặt tôi không rời, rút hết vốn Anh văn tôi có. Hai phòng sát cạnh nhau nên mỗi sáng tôi nghe thấy lão vừa mặc quần áo vừa chuyển hết mọi sinh hoạt thành Anh ngữ. The coffee is black... My shirt is white... The garden is green... How are you today Robinson? [140*] Lão gào tướng lên bên kia bức vách.
Với kiểu cách tai quái ấy, lão sẽ kéo tôi đi rất xa... Khi bước vào tiếp xúc với nền văn học lớn, chúng tôi không còn thể dừng được nữa... Sau tám tháng tiến bộ không bình thường như vậy, lão gần như biến thành người anglo-saxon. Đồng thời, cũng làm tôi chán ngán lão đến hai lần.
Dần dà chúng tôi bỏ mặc con bé Aimée ra ngoài câu chuyện, để nó hoàn toàn yên ổn. Nó bình thản quay về với mây bay, chẳng đòi hỏi gì. Nó không học tiếng Anh nữa, thế là xong! Dành hết cả cho Baryton!
Mùa đông trở lại, đã tới Noel. Các hãng du lịch quảng cáo chào mời mua vé khứ hồi sang Anh, được giảm giá... Khi ra phố, đi xem chiếu bóng với Parapine, tôi đã để ý thấy những tờ cáo thị ấy... Tôi còn vào hỏi giá nữa.
Rồi đến bữa ăn, tôi đả động vài câu về chuyện ấy với Baryton. Thoạt đầu lão có vẻ không quan tâm, và bỏ qua. Tưởng lão đã quên đi, thì một tối chính lão lại nhắc đến chuyện đó và yêu cầu tôi kiếm cho lão mấy tờ quảng cáo ấy.
Những lúc không học Anh văn, chúng tôi thường chơi bi-a Nhật Bản ở một phòng riêng biệt, có chấn song vững chắc, nằm ngay bên trên lều của bà gác cổng.
Những trò khéo tay, Baryton chơi rất khá. Parapine thường đánh cuộc với lão nhưng đều bị thua. Cả buổi tối, nhất là vào mùa đông hay những hôm trời mưa, chúng tôi thường chúi mũi trong cái phòng nhỏ ấy để khỏi làm bẩn các phòng khách lớn của chủ. Đôi khi cũng đưa một bệnh nhân lên cơn vào phòng nhỏ ấy để theo dõi, nhưng việc đó rất hãn hữu.
Trong khi Parapine và Baryton thi nhau trổ tài trên bàn bi-a, thì tôi cũng chơi một trò, nếu có thể gọi là trò, thử đặt mình vào địa vị một tù nhân trong xà lim xem cảm giác sẽ ra sao. Chả là tôi rất thiếu cảm giác. Cố gắng lắm tôi cũng chỉ có thể làm quen với những khách qua đường thưa thớt vùng ngoại ô. Chiều chiều ta thương cảm nhìn hoạt động chậm chạp của những tòa tàu điện từ Paris tới, thả xuống từng tốp viên chức lù đù, qua góc phố là họ biến mất vào đêm tối, ta không còn kịp đếm xem họ có bao nhiêu người. Nhưng Baryton chẳng mấy khi để tôi thoải mái mơ màng. Giữa cuộc chơi, ông ta bất thần hỏi một câu ngớ ngẩn:
- Hou do you say “không thể” bằng english, hả Ferdinand? [141*]
Tóm lại lão ta không ngừng khao khát tiến bộ. Với tất cả sự ngốc nghếch, lão luôn gồng mình lên để hướng về phía hoàn hảo. May thay, một cơn khủng hoảng đã giúp tôi thoát nạn. Xin kể vắn tắt sau đây.
Càng tiến sâu vào đọc Lịch sử Anh quốc, tôi càng thấy lão kém dần tự tin và hào hứng. Đến đoạn học về các thi nhân thời Elisabeth [142*] thì trong trí óc và con người lão có những thay đổi vô hình. Lúc đầu tôi khó tin chuyện đó, nhưng rồi, cũng như mọi người, phải công nhận sự thật là Baryton trở nên thảm hại. Trước nghiêm túc, tập trung bao nhiêu thì nay lang bang, nói năng lảm nhảm bấy nhiêu. Và dần dần đến lượt lão ngồi hàng giờ liền, trong nhà mình, trước mắt chúng tôi, tâm trí lơ mơ ở những đâu đâu... Cho dù từ lâu chẳng ưa gì lão, tôi cũng cảm thấy hối tiếc nhìn thấy Baryton rã rời rõ rệt, nghĩ rằng mình cũng có phần trách nhiệm. Cơn khủng hoảng tinh thần của lão như có dính dáng đến tôi... Một hôm, tôi đề nghị tạm nghỉ học một thời gian với lý do cần giải lao để lấy lại sức đồng thời cũng để tìm kiếm thêm tài liệu. Lão không để trò bịp ấy lừa dối mình và kiên quyết phản đối, nhất định đòi cùng với tôi tiếp tục khám phá nước Anh trí tuệ... Như đã bắt đầu khám phá... Tôi không biết nói sao, đành chiều ý. Lão còn lo không sống được bao lâu nữa để hoàn thành công việc. Tóm lại, và mặc dù linh cảm thấy bất hạnh sẽ đến, tôi buộc phải cùng lão tiếp tục cuộc hành trình buồn tẻ vào hiểu biết.
Sự thật, Baryton đã không còn là chính mình. Lão ngày càng ít quan tâm đến công việc điều hành cụ thể cái nhà thương điên ấy, dù đó là sự nghiệp mà lão đã mê say suốt từ hơn ba chục năm qua. Lão hoàn toàn trông cậy vào Parapine để lo các công việc hành chính. Ngoài mặt, lão cố tìm cách che giấu nỗi hoang mang rối loạn về các tín điều của mình, song với chúng tôi, điều đó ngày càng lộ ra rõ rệt, không thể chối cãi.
Gustave Mandamour, viên cảnh sát chúng tôi đã quen ở Vigny và thỉnh thoảng giúp đỡ cho Viện một số việc, và cũng là người ít tinh khôn nhất trong số những người cùng loại mà tôi biết, hồi đó đã hỏi tôi có phải lão chủ đã nhận được tin dữ gì chăng... Tôi đã trấn an anh ta mà trong bụng cũng không tin.
Baryton bỏ ngoài tai mọi lời bàn ra tán vào, chỉ yêu cầu mọi người đừng làm phiền vì bết cứ lý do gì. Hồi mới học, theo lão, chúng tôi đã đọc quá lướt nhanh cuốn Lịch sử nước Anh của Macaulay, tác phẩm đồ sộ gồm mười sáu tập. Theo lệnh lão, chúng tôi cùng nhau đọc lại, và trong trạng thái tinh thần rất đáng ngại. Đọc từng chương một.
Theo tôi, Baryton ngày càng bị căn bệnh suy tư đục ruỗng. Lúc đọc đến đoạn gay cấn nhất, khi Monmouth “kẻ ngấp nghé ngôi vua” [143*] vừa đổ bộ lên những bến bờ mù mịt của xứ Kent.... Cuộc phiên lưu đến lúc vô vọng, Monmouth không biết mình sẽ phải làm gì, muốn gì... Ông ta bắt đầu nghĩ đến việc bỏ đi, nhưng không biết đi đâu và bằng cách nào... Trước mắt ông rõ ràng là thất bại... Trong ánh bình minh mờ ảo... sóng biển đã cuốn đi những con tầu cuối cùng. Lần đầu tiên Monmouth phải suy nghĩ... Baryton cũng vậy, dù ở mức độ nhỏ hơn, không tài nào vượt lên khỏi những quyết định của chính mình... Lão đọc đi đọc lại đoạn văn, miệng lẩm bẩm... Cuối cùng, lão gập sách lại, nằm dài bên cạnh chúng tôi.
Lát sau, hai con mắt lim dim, lão cất tiếng đọc thuộc lòng toàn đoạn văn, với sắc giọng tốt nhất mà người Bordeaux có thể nói tiếng Anh. Lão cứ đọc, đọc mãi.
Trong câu chuyện về Monmouth, khi mà thân phận con người bộc lộ rõ sự ngây thơ thảm hại trước Vĩnh hằng. Baryton cũng thấy mình choáng váng, và vì chỉ còn bấu víu vào đời bằng một sợi dây mỏng, lão đã tuột tay. Tôi có thể nói, từ lúc đó, lão không còn như chúng tôi nữa... Lão không thể...
Sau buổi tối ấy, lão mời tôi đến gặp ở phòng giám đốc... Tất nhiên, trong bối cảnh này, tôi chờ đợi lão sẽ đưa ra một quyết định dữ dội, cho tôi thôi việc chẳng hạn... Nhưng mà không! Quyết định của lão lại hoàn toàn ưu ái cho tôi! Mà tôi thì ít khi được số phận ưu ái, nên tôi không cầm được nước mắt ứa ra mấy giọt. Baryton thấy tôi xúc động lại coi đó là sự buồn phiền, bèn ra sức an ủi...
- Ferdinand, chả lẽ anh lại nghi ngờ lời nói của tôi, khi tôi khẳng định rằng phải dũng cảm lắm tôi mới quyết định ra đi khỏi Viện?... Anh đã biết tính tôi chỉ thích ngồi ấm chỗ, tôi bắt đầu già rồi, cả sự nghiệp của tôi chỉ là một cuộc thử nghiệm dài, kiên trì... Ai có thể nghĩ, chỉ trong vài tháng tôi đi đến chối bỏ tất cả?... Vậy mà giờ đây tôi hoàn toàn dửng dưng... Ferdinand! Hurrah! Như anh hay reo lên bằng tiếng Anh như thế! Quá khứ với tôi không còn là gì cả! Ferdinand, tôi sẽ hồi sinh! Thế đấy! Tôi đi! Ôi anh bạn tốt, nước mắt anh không làm giảm sự chán chường của tôi đối với những gì đã giữ chân tôi ở đây trong bao năm vô vị!... Quá lắm rồi! Đủ rồi! Tôi đi! Tôi chạy trốn! Tôi đào thoát! Đành rằng lòng tôi vò xé! Tôi biết! Tôi tự dằn vặt mình! Này Ferdinand ơi, tuy thế mà tôi chẳng được tích sự gì cho đời cả! Chẳng tích sự gì cả! Ferdinand ơi, không cái gì có thể làm tôi quay trở lại đâu! Anh nghe không?... Giả sử tôi có để rơi một con mắt xuống bùn đâu đây thì tôi cũng không quay lại để nhặt đâu! Nào! Nói thế đủ chưa! Anh còn nghi ngờ lòng tôi nữa không?
Tôi chẳng nghi ngờ gì nữa cả. Lão Baryton này có thể làm mọi thứ. Trong tâm trạng như thế mà bây giờ tôi phản bác lại lão thì đầu óc lão hẳn không chịu nổi. Tôi để yên một lát nhưng rồi cũng khuyên giải lão đôi chút, gắng một lần cuối đưa lão trở lại với chúng tôi... Bằng cách nói, cách lập luận nhẹ nhàng, xa xôi...
-Ferdinand, làm ơn hãy từ bỏ hy vọng thay đổi ý định của tôi! Điều đó là dứt khoát, tôi đã bảo mà! Và anh hãy cho tôi được vui lòng bằng cách đừng nói gì nữa! Nào, Ferdinand, một lần cuối, anh muốn tôi vui lòng không? Ở tuổi tôi, thay đổi thiên hướng là chuyện hiếm... Thực tế là như vậy.... Nhưng đã thay đổi thì bất khả kháng...
Đó là chính lời ông ta, tôi kể lại, hầu như những lời cuối cùng. Tuy nhiên tôi vẫn mạnh dạn ngắt lời:
-Thưa ông Baryton thân mến, có thể ý định bất thần của ông muốn nghỉ ngơi thực ra chỉ là một giai đoạn có phần lãng mạn, một sự xả hơi đúng lúc trong suốt một tiến trình sự nghiệp khắc khổ? Có thể sau khi đã nếm thử một cuộc sống khác... thi vị hơn, ít tẻ nhạt và công thức hơn chúng ta đang sống ở đây, biết đâu ông lại chẳng trở lại, sau khi đã mãn nguyện về chuyến đi, hết thích phiêu lưu?... Lúc đó tất nhiên ông lại về vị trí, cầm đầu chúng tôi... Ông sẽ đổi mới nói chung, và chắc sẽ khoan dung chịu đựng các công việc đơn điệu hằng ngày... Tóm lại là già đi! Ông Baryton, ông cho phép tôi được nói như vậy chứ?
- Chà, cái anh chàng Ferdinand này mới dẻo mồm chứ! Anh ta tìm cách kích động lòng tự ái của mình đây, cái lòng tự ái nhậy cảm và thích đòi hỏi nữa, mình cũng biết thế mặc dầu đã qua biết bao chán nản và thử thách... Không đâu, Ferdinand! Tất cả mọi sự khôn khéo của anh cũng chỉ là một liều thuốc không công phạt đối với tất cả những gì là thù nghịch và đau đớn kinh khủng nằm ngay trong ý chí sâu thẳm của chúng ta thôi. Vả lại, thời gian do dự, rút lại ý định không còn nữa!... Ferdinand ơi, tôi xin thú thật và lớn tiếng tuyên bố: Cạn kiệt rồi! U mê rồi! Thất bại rồi! Bốn mươi năm lo toan chật vật đã quá đủ! Anh muốn biết tôi định làm gì ư? Với anh, người bạn chí thân, người muốn chia sẻ nỗi đau của một kẻ già nua trong cơn khốn quẫn, tôi có thể nói... Tôi muốn thử đi vứt linh hồn mình như người ta vứt một con chó ghẻ, thối tha, vứt thật xa người bạn đường mà mình đã chán ngấy, trước khi chết... Cuối cùng chỉ còn một mình mình... Thanh thản...
-Nhưng thưa ông Baryton, cái sự chán chường mà ông vừa đột nhiên thổ lộ làm tôi thật sự ngạc nhiên, xưa nay tôi có thấy thế bao giờ! Trái lại, hằng ngày ông vẫn điều khiển công việc một cách sắc sảo... Rất nhiều sáng kiến phong phú, hiệu quả... các chỉ định điều trị hết sức chính xác, khoa học... Chưa bao giờ nhận thấy trong cử chỉ hằng ngày của ông có dấu hiệu gì mệt mỏi, chán nản... Không bao giờ có chuyện tương tự...
Nhưng từ khi quen biết lão, lần đầu tiên tôi thấy Baryton không thích nghe những lời tán tụng. Lão còn bảo tôi chấm dứt kiểu chuyện trò ấy đi.
-Thôi, anh hãy tin tôi... Những lời thân ái của anh đúng là có làm cho những phút cuối cùng của tôi ở đây thêm êm đềm dịu ngọt. Tuy nhiên tất cả sự ân cần ấy không khiến tôi quên ký ức về một quá khứ nặng nề toát ra từ nơi này... Bằng bất kỳ giá nào và bất kỳ cách nào, tôi cũng phải xa rời nó, anh hiểu cho...
-Nhưng còn cái cơ ngơi này, sẽ dùng làm gì? Ông đã nghĩ kỹ chưa?
-Nghĩ rồi, Ferdinand! Anh sẽ chỉ đạo nó thay tôi trong suốt thời gian tôi vắng mặt, có vậy thôi!... Xưa nay anh chẳng đã có quan hệ rất tốt với khách hàng đó sao? Anh đứng ra chỉ huy, mọi người sẽ dễ dàng chấp nhận... Mọi việc sẽ suôn sẻ, rồi anh em... Parapine ít chịu giao thiệp, cậu ấy sẽ phụ trách phần trang bị máy móc, phòng thí nghiệm... Cái đó thì cậu ta thạo!... Như vậy mọi việc đều ổn...
-Nhưng thưa ông, ông không sợ rằng nếu ông ra đi sẽ bị các đối thủ cạnh tranh trong vùng bàn tán ác ý sao? Như Passy chẳng hạn? Montretout?... Gargan-Livry? Bao kẻ quanh ta... Họ luôn rình mò... Những đồng nghiệp độc mồm độc miệng... Ông rút lui một cách cao thượng, tự nguyện. Nhưng họ sẽ bẻ queo đi thành cái gì? Bỏ trốn? Phá sản? Còn gì nữa, ai mà biết được?
Giả thuyết ấy hẳn buộc lão phải buồn phiền suy nghĩ. Một lần nữa lão lại tỏ ra lo lắng, mặt nhợt nhạt.
Aimée, đứa con gái vô tội của lão sẽ chịu số phận khá hẩm hiu trong tất cả chuyện này. Baryton giao nó cho một bà cô trông nom, thật ra là một bà cô lạ hoắc ở dưới tỉnh. Vậy là sau khi mọi chuyện được thu xếp, tôi và Parapine chỉ còn ra sức cố gắng để quản lý tài sản, trông coi quyền lợi của lão. Hãy trôi đi, hỡi con thuyền không thuyền trưởng!
Sau những lời tâm sự nói trên, tôi thấy có thể mạo muội hỏi xem lão chủ định phiên lưu về hướng nào.
-Sang Anh! lão điềm nhiên trả lời.
Tất cả những chuyện xẩy ra trong một thời gian ngắn ngủi ấy, tôi khó mà tưởng tượng được, song dù sao chúng tôi cũng phải mau chóng thích nghi với tình thế mới.
Ngay hôm sau, Parapine và tôi giúp lão sửa soạn hành lý. Lão hơi ngỡ ngàng khi thấy tờ hộ chiếu có nhiều trang và đủ thứ thị thực. Xưa nay lão có bao giờ cần đến hộ chiếu.
Cuối cùng vấp phải vấn đề nên mang đi áo cổ mềm hay cổ cứng? Tranh luận mãi đến gần giờ tầu chạy. Cả ba nhẩy lên chuyến tầu điện cuối cùng đi Paris. Baryton muốn thật cơ động và nhẹ nhàng dù đi đâu, ở đâu, nên chỉ mang một va li nhỏ.
Trên sân ga, những bậc lên xuống cao ở những toa tầu quốc tế làm cho lão lạ lẫm. Lão ngần ngừ chưa muốn bước lên, Đứng yên lặng trước toa tầu như trước một tượng đài. Chúng tôi giúp lão trèo lên. Nghĩ vài giây, lão đưa ra một nhận xét cuối cùng, có tính so sánh, thực dụng, vui vui:
- Đi toa hạng nhất cũng không hơn gì!
Chúng tôi bắt tay lão. Đã đến giờ. Tàu rít còi và chuyển động đúng giờ trong tiếng ồn sắt thép loảng xoảng. Cuộc chia tay bỗng dưng diễn ra vội vã.
“Tạm biệt các con!” lão chỉ kịp nói vậy thì bàn tay lão đã thoát ra khỏi tay chúng tôi. Bàn tay đó còn ngọ nguậy mãi trong khói hơi nước, trong tiếng bánh xe rít trên đường ray khi trời bắt đầu tối, bàn tay trắng ấy xa dần xa mãi...