Không hiểu tại sao nhiều đêm Hans Trow cứ mơ một giấc mơ? Ông đi trên toa ăn, một con tầu có những quả cầu trắng. Thực đơn bằng tiếng Nga, con tầu lao nhanh về Matxcơva. Ông gọi một ly cà phê. Một hạ sĩ quan Xô viết, mặc một chiếc áo va-rơi đáng ngờ, ngồi sỗ sàng trước mặt ông, báo tin cha ông chết.
- Nhưng cha tôi đã chết từ sáu năm rồi.
- Không, ông nhà mới chết sáng nay.
Tiếng con tầu lăn đều đều, có cảm tưởng như nó lăn bánh trên những xác chết. Viên hạ sĩ quan ghi nhận phản ứng của Hans, ngước mắt nhìn ông nói:
- Ông không cảm thấy gì trước tin bố ông chết à?
Rồi anh ta bỏ đi. Hans không thể không nghĩ rằng ông đi đến một buổi lễ u ám, và sắp tham dự vào một bữa tiệc của những khẩu hiệu. Mọi người đều quan tâm đến luân lý, mỗi người muốn dệt nên tấm vải mới, đỏ thắm để lấp đi màu đỏ của những lá cờ có hình chữ thập ngoặc. Sự cuống quýt lao tới một bữa tiệc mới ở Matxcơva đều dồn tức giận về Berlin. Ông tự hỏi liệu Berlin, giống như thành Tơroa, không hiểu rồi có bị huỷ diệt lần thứ hai. Ông tỉnh dậy, nhủ thầm: Nếu cứ đọc Antigone, nhai lại các báo cáo của Maria, soi mói trong các quyển chép bản thảo của Brecht, ông nói rồi sẽ bị ngấm đến xương tuỷ bởi những lời oán thán và cơn tức giận dữ của bị kịch Hy Lạp. Khi ngủ lại, ông lại thấy mình ở trên tầu. Ông đi sâu vào những dải đất trũng. Những mảng tuyết. Những cánh rừng trụi lá. Những cột tháp hoang phế dưới bầu trời trắng bông tuyết, những trạm cáp treo mồ côi, những cái cầu đang thi công: Matxcơva đang ở trong tầm mắt…
Trong lúc Hans uống nốt ly cà phê thì người hạ sĩ quan Xô viết trở lại, đặt mũ lưỡi trai trên bàn và nói:
- Chúng tôi đã nhầm, bố ông đúng là đã chết cách đây sáu năm. Xin thứ lỗi.
Hans đã nghe tiếng ủng của bọn SA nện trên cầu thang, leo lên phòng giấy của cha ông.
Đoạn đường sắt vòng cho phép người ta trông thấy một nhà ga Xô Viết lớn. Đám đông vận quân phục hát hò, những bó hoa tặng của những người vợ ăn mặc rách rưới, bánh mì trắng rất ngon tặng “đồng chí” Hans Trow từ Berlin đến.
Tỉnh dậy, miệng đắng, Hans nhớ lại những dàn đồng ca phụ nữ khác. Hans mới mười tám tuổi. Các phụ nữ nông thôn làng Mecklembourg leo lên một quả đồi ngập tuyết. Hans long trọng thổi kèn sắc-xô-phôn. Anh quẳng chiếc kèn đi vì anh không hề có khả năng âm nhạc. Cả làng nhìn anh, mẹ anh và cả anh anh.
Rụng rời.
Anh huơ cái sắc-xô, kêu lên một tiếng rồi ném cái kèn vào đống rác tuyết phủ. Không khí lạnh làm cho cảnh vật lấp lánh. Anh biết rằng không bao giờ anh trở thành một nhạc công lớn.
Tại sao, từ ít lâu nay, Hans cứ bị ám ảnh bởi mái nhà quê hương, căn phòng cao, không khí lạnh, căn đệm ẩm ướt, chiếc giường khiêm tốn bằng gỗ đánh xi, sự im lặng, củi cháy kêu răng rắc trong lò sưởi, và giấy màu dán tường rộp lên?
Quá nửa đêm, ớn lạnh như bị cầm tù trong vải liệm, đầu óc bị kích thích mạnh, giác quan bị thức tỉnh, rét run, anh đập cánh cửa hai lớp của phòng mẹ. Bà đang viết trên một bàn gỗ, trước cái đèn cổ bằng sành. Không bao giờ bà kéo rèm che, tấm rèm nặng nề. Những đốm lửa nhấp nháy xa xa, không biết từ đâu. Bà mẹ Hans viết, ghi chép trên những bó giấy, và đến mình, Hans lại tiếp nối truyền thống, tiêu đời mình trong những bó giấy tờ trong sự bao bọc của đêm tối, trong sự tỉnh thức do mất ngủ, để tránh xa cái tẻ nhạt ồn ã của ban ngày và trở lại ánh sáng trong trẻo của ý thức và của nỗi cô đơn của mình.
Ông những muốn tâm sự tất cả những điều đó với Maria; những cuộc đi dạo qua những cánh đồng đầy cát, khung cảnh quá phẳng phiu đến nỗi chỉ còn là những đường nét sáng loáng, những đám gai góc thoảng nhẹ như không thực, những cây liễu trong mờ, và những đám mây rất thưa, có cảm giác như chúng chẳng bay đi đâu cả và giấu những thông điệp bí mật trong cái bất động bền bồng của chúng. Ông những muốn tâm sự tất cả những cái đó với Maria.
Tại sao, từ khi biết rằng, ông hay đi lại con đường dốc thoai thoải kín đáo của những bãi liễu như thể mong nối lại những mối dây liên hệ đã giấu kín? Tại sao lại liên hệ với những nơi chốn thời thơ ấu trong khi mở hồ sơ của Maria, đọc những thông báo mật của nàng vốn chẳng cho ông biết gì hơn ngoài những điều đã biết?
Cái thanh quang của những cánh đồng đổ nát, trống không theo bước chân ông tới Berlin, về đêm, khi ông trở về nhà. Những đầm lầy đơn điệu của Mecklembourg, những vùng lởm chởm bụi cây tối sẫm, mọi thứ sống lại rất rõ, rất cụ thể và gắn liền với Maria. Ngay tiếng róc rách của một dòng nước chảy dọc một âu thuyền, trong cái đơn điệu của nó, cũng mở ra một khoảng không bí mật thầm thì một cái gì thiết yếu và ẩn tàng. Tại sao ông lại ám ảnh bởi cái dáng mảnh khảnh của vài cây bạch dương, như đó là hình bóng của Maria?
Những quả đồi của miền cát trắng, con sông đào thẳng tắp như một con đường, chia những mùa hè dài dặc ra làm đôi, tiếng nói của mẹ, của anh, tất cả trở lại, mờ ảo và gần gũi.