Théo Pilla tiếp tục giám sát. Hắn đã nhận được những ống nhòm mới từ Matxcơva. Hắn có thể trông thấy Brecht ngồi trên ghế băng, tựa vào bức tường đá nhỏ, những chi tiết của cửa chớp gỗ, cái bóng sáng ngời của Maria trong chiếc áo váy mày đỏ đen kiểu Tây Ban Nha, đệm và khăn trải giường phơi, chiếc bút máy của Brecht làm xanh tờ giấy. Théo tự nhủ: Lần sau Matxcơva gửi cho ta một đôi ống nhòm thì mình có thể đọc được trên giấy, nếu căn chỉnh đúng hướng.
Hơn bao giờ hết, Brecht cảm thấy bị giám sát và tâm trạng bất an của môi trường quanh Ulbrivht. Báo chí nhắc đi chắc lại rằng Adenauer không những khích lệ quân Mỹ đóng lại lâu dài ở Đức mà còn yêu cầu triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ. Trong các cơ quan của Hans Trow, người ta đã có những tấm ảnh hơi nhoè của những đại bác tự hành 280 li ở miền Arizona.
Báo chí phương Tây, với những dòng tít lớn, loan tin: người đứng đầu chính phủ Đông Đức, Water Ulbrich đã tăng cường đáng kể Bộ Stasi (Ministerium fur Staatssicherheit) và hàng tuần lại mộ thêm những thông tín viên mới. Mỗi ngôi nhà, mỗi hòn đảo, mỗi xưởng thợ, mỗi trại lính, mỗi uỷ ban văn hoá, mỗi phường mới đều phải có thông tín viên của mình. Tổ chức mở rộng, trở thành mối đe doạ với mọi người. Hans tự nhủ ông sống trong một thế giới luôn mồm kêu gọi hoà bình, nhưng có thể đoán rằng bất cứ lúc nào mặt trời cũng có thể biến khỏi mái nhà các thành phố, che lấp bởi màn khói xám toả ra thành một biển sóng mênh mông, rằng sức nóng có thể bật ra từ những bức tường, thấm vào quần áo, dính bết đúng vào da thịt. Hình ảnh tối tăm – sáng loà của lửa hạt nhân lởn vởn trong đầu óc Hans. Không nhìn thấy mặt trời nữa, biết rằng gương mặt của Maria có thể chỉ còn là một nụ cười của phụ nữ trẻ in trên thạch cao. Tất cả ám ảnh ông. Như sự bận tâm về những chiếc cam nhông phủ bạt, cho đến những đơn vị lính, đám dân sự, phía dưới toà nhà, những công nhân bị nhét xuống hầm ngầm, ngồi trên ghế băng, dưới ánh đèn tù mù. Trong hành lang, một con chó nghiệp vụ dở chó dở sói, chạy xông xáo, mồm kêu oang oác, tuân lệnh của một lính Nga.
Hans biết rằng các điện thoại đều bị đặt máy nghe trộm. Thư tín bị mở, xóm giềng cùng cầu thang đều bị xét hỏi xem ai là những kẻ làm việc cho “chủ nghĩa đế quốc hiếu chiến”. Những vụ án ở Matxcơva khiến Brecht lo lắng, cả Hans Trow nữa. Mỗi ngày họ nhận lệnh phải tìm ra những tên đầu sỏ của chủ nghĩa thế giới, chủ nghĩa bài Do Thái, thói tả khuynh hữu khuynh. Một công văn “tuyệt mật” đòi hỏi Hans Trow phải giám sát Hélène Weigel vì gốc gác Do Thái của bà. Hans Trow nghẹt thở vì lo âu, gạt tách cà phê, vào phòng toa lét vò nát bức công văn, kéo cần nước. Ông tự hỏi liệu cơ quan của ông cuối cùng có kết án cả những niềm vui trần thế nhỏ nhất và chính ông cũng sẽ bị đặt vấn đề.
Nhìn qua cửa tò vò, ông thấy người ta đang chăng dây thép gai quanh trại lính và kho xăng dự trữ; người ta định tiêu huỷ Berlin bao nhiêu lần? Người ta có thể tiêu huỷ bao nhiêu lần một thành phố đã bị tàn phá? Lương tâm ông trả lời: nhiều lần. Thuốc súng, ét-xăng, tàn tro, gió, tất cả đều có thể bay đi, rơi xuống, rồi tất cả lại bắt đầu. Ông cài khuy bộ quân phục. Sự dũng cảm của một con người trung thực còn lại trong ông như một điều bí mật. Ông sẽ cứu sự sống của Maria, dù có phải từ bỏ vị trí của mình. Ông sẽ cấp cho nàng giấy tờ giả, ít nhất ông cũng cứu được một con người, nàng có thể cứu đời mình, lấy lại được con gái nàng, sống với nó. Ông thậm chí còn là một sự đối nghịch với người chồng quốc xã của nàng, tay nhạc sĩ trong một quán nhạc đáng ngờ, đỏm dáng một cách vô duyên, cổ cồn trắng, kính đen, ẩn náu ở Bồ Đào Nha, nhấm nháp rượu vang nhẹ trên một bãi tắm chan hoà ánh mặt trời. Đó là những tên quốc xã vô lại đang sống phè phỡn trong lúc ở đây nhân dân đang sợ hãi.
Công hàm ngoại giao của Staline đòi thống nhất nước Đức theo dư luận đã bị ngoại trưởng Mỹ Dulles cười sặc sụa, ném vào sọt rác. Mọi ý tưởng về “an ninh tập thể”, quan niệm Xô Viết, đều bị vứt bỏ.
Ở Berlin, người ta dè chừng phong trào công nhân, sự bất bình trong những công trường xây dựng lớn. Tình hình xấu đi trong một số khu vực và những nhân viên an ninh thảo những báo cáo phân tích về khả năng có các cuộc nổi dậy, điều này dẫn đến hậu quả là xiết chặt thêm lập trường của Ulbricht. Người ta đòi hỏi Hans Trow phải đặt biệt theo dõi sát những tên theo đuổi “bè lũ hoà bình chủ nghĩa” xung quanh Brecht, kẻ đặc biệt lỗi thời mà theo báo cáo của Maria Eich thì đã từng bị cám dỗ bởi một chuyến chạy sang Trung Quốc của Mao. Brecht vẫn như bị thôi miên trước tấm bản đồ Trung Quốc bị mối gặm treo ở hành lang dẫn đến phòng tắm.
Những báo cáo chồng chất về một phái cải lương chủ nghĩa. Sự tăng cường giám sát chính trị đối với giới nghệ sĩ đặc biệt nặng nề. Đầu tháng Tám, khi Brecht được tin Ernst Busch, một nghệ sĩ – ca sĩ lớn bị Uỷ ban Mỹ thuật chính thức đuổi khỏi nhà xuất bản của mình, ông bị sốc quá đỗi.
Qua ống nhòm, Théo Pilla có thể nhận thấy Ernst Busch đứng giữa trời nắng, sơ-mi cộc xám, quần đen, đeo kính vào, bỏ kính ra, đang nghe Brecht và Hélène nói. Hai ông bà ngồi trên ghế bang, dựa vào những cây liễu già. Những người phái hữu khuynh được mời đến Buckov.
Ngoài ra, trong các báo cáo của mình, Maria nhấn mạnh đến việc đọc sách báo hữu khuynh của Brecht. Mỗi buổi sáng ông chăm chú đọc các báo Newsweek, Quick, Munchener Illustrierte.
Một chiều Maria nhận thấy Brecht đã khoá ngăn kéo bàn giấy của ông. Trái lời Hans Trow đã dặn: “Cô đừng bao giờ dùng điện thoại khi có vấn đề nhạy cảm”, Maria gọi điện từ một làng ở Buckov. Nàng nói cần gặp Hans Trow. Nhưng Théo uể oải trả lời rằng chỉ cần cô tìm lại chìa khoá (“nó chắc chắn phải ở đâu đó”), rằng ngăn kéo đó chắc phải đựng những bản sao kê phiếu ngân hàng và những bức thư “bẩn thỉu”, có thể là một bài thơ chệch đường lối và chua chát của “một phần tử có thể chơi những cô gái đẹp nhất của chế độ”. Hắn dằng giọng: trong lúc chờ đợi, hắn muốn biết Ernst Busch đã nói gì với Brecht và Weigel, “chính xác đến từng dấu phẩy”. Cuối cùng hắn lẩm bẩm nói hắn mong rằng từ nay Maria không được gọi điện để nói về những “việc vặt vãnh” nhất.
Maria nảy ra một ý tưởng điên dại: về Berlin. Nàng phải gặp Hans Trow. Ông sẽ không bao giờ trả lời bằng giọng quá trớn và khinh miệt như thế. Ông là người duy nhất biết tập hợp, phân tích, sàng lọc, soi sáng, vạch ra triển vọng, tin vào đức hạnh và niềm vui của bổn phận. Nàng đã sống quá đủ trong sự thô lỗ, giữa những viên trí thức lèm bèm đến chán tai, và những tên tập sự đạo đức giả chỉ mong kiếm được ghế ngồi và ân huệ. Hans Trow tin cậy nàng vì ông đã nhìn ra trong nàng một “trái tim đầy nhiệt huyết” và giữa đám vô sỉ, trơ trẽn này, ông là người duy nhất quan tâm đến những tin tình báo của nàng.
Trong bữa ăn tối, Brecht đã to tiếng với Maria vì nàng đã lấy những lưỡi lam cạo râu của ông để cạo chân.
- Maria, tôi xin cô, đừng bao giờ động đến những lưỡi dao cạo râu của tôi! Tôi không muốn phải nói lại với cô lần nữa.
Cuộc chuyện trò quanh bàn ngoài vườn ngừng lại. Chỉ còn nghe thấy tiếng vo ve của một con ong vò vẽ rơi vào bình nước và tiếng rì rào của những cây đoạn.
Hélène Weigel cố khởi động lại cuộc nói chuyện. Người nhà thắp nến. Maria có cảm giác lạ lùng; nàng tự nhủ nàng đã rơi vào một cái bẫy như con ong vò vẽ rơi vào bình nước. Nàng nghe thấy Weigel, Brecht và Ernst Busch cười. Các ông ngồi trên bậc tam cấp đọc sách. Nàng định lấy con dao trong bếp phá khoá ngăn kéo. Nàng phải thi hành nhiệm vụ của mình một cách lạnh lùng.
Phần còn lại của bữa tối rất buồn. Mọi người ngồi im lặng quanh bàn xem Brecht chơi cờ, thời gian cứ trôi qua cùng những con ruồi. Maria cảm thấy rõ ràng bị thất sủng khi Hélène hỏi tại sao nàng không được vào Đảng. Nhưng ai không còn sủng ái ai? Có thể chính Maria mới là người đuổi cổ lũ người xảo trá này. Tất cả bọn họ đều ra vẻ quan tâm đến cái cách Brecht lia ra những con bài…
Đột nhiên, trời nổi dông và mát. Maria luồn qua một sân nhỏ đến một cái cổng nhỏ dẫn thẳng đến phòng giấy; căn phòng được chiếu sáng bởi một chiếc đèn đêm bọc giấy nâu có vạch. Nàng định phá khoá ngăn kéo nhưng nàng nhận ra chỉ cần đập nhẹ và luồn tay xuống dưới, nâng ngăn kéo lên thì then khoá long ra.
Nàng tìm được bản nháp những lá thư Brecht gửi cho Ulbricht, phàn nàn về những ý kiến trong các cuộc họp chính thức về cách Brecht phóng tác các nhà kinh điển. Còn có những bản danh sách, những mẩu chuyện vụn vặt dưới lần dạ lót ngăn kéo.
Maria bóc một bì thư bằng giấy bao bì. Phong bì đựng công văn của FBI, đặc biệt là công văn đề ngày 6.6.1941 (một ngày không thể quên). Nhân viên Thompson báo cáo về cuộc gặp gỡ giữa Brecht và Edvard Benes, lãnh sự Tiệp ở Los Angeles. Người ta có thể cho rằng Brecht tìm hiểu khả năng xin giấy thông hành cho ông ta và gia đình nhanh chóng về châu Âu.
Ngày 16 tháng sáu, một công văn khác của FBI nói về cuộc gặp giữa Brecht và phó lãnh sự Nga Gregori Kheifetz. Trong một phong bì trắng, dày, cắt méo bằng kéo, là một lá thư của Ruth Berlau, đề ngày 26.7, gửi ở Bưu cục Pacific Palissade. Nàng Thuỵ Điển xinh đẹp, có mang, đã đáp máy bay đi California để sinh đẻ bên Brecht. Cô báo tin cho ông bố tương lai rằng cô chuyển tới cạnh nghệ sĩ Peter Lorre (người đã đóng phim M. Kẻ chết tiệt)[1] tại nhà nghỉ Motor Hotel. Giọng thư căng thẳng. Hai báo cáo của FBI, cũng của nhân viên Thompson đã xác nhận chắc chắn: “con người nhỏ thó, mặc đồ nâu, đội mũ cát-két, áo vét vải xám” đến nhà nghỉ Motor Hotel chính là nhà soạn kịch Bertolt Brecht. Một báo cáo cuối cùng của FBI, ngày 8.9.1944 ghi nhận: ngày 3 tháng 9 năm 1944, một đứa trẻ Michel nào đó, con của nữ kịch sĩ Thuỵ Điển Ruth Berlau, đã ra đời tại bệnh viện “Cây thông Liban”. Ngoài lề chua thêm bằng bút chì: đứa bé đã chết vài ngày sau.
Maria nhét tất cả giấy tờ vào cặp, đặt lại miếng dạ lót đáy ngăn kéo. Nàng bỏ thì giờ chụp lại các tài liệu. Nàng xúc động vì những gì vừa biết.
Trong tất cả các ghi nhận, thư, trích nhật ký, thơ nàng có trong tay thì báo cáo về sự ra đời của đứa con của Brecht và Ruth Berlau làm nàng chấn động hơn cà. Nàng nghĩ: không có con nữa… không bao giờ… đó là tai hoạ đích thực. Rời bỏ Đông Đức một mình chắc chắn sẽ là một thất bại. Một thất bại chính trị và một thất bại trong đời tư. Nàng hình dung mình lê lết từ cư xá này sang cư xá khác trong khu của Mỹ với con gái Lotte; những bữa ăn một mình, và bao nhiêu đôi lứa ở xung quanh như một hạnh phúc không bao giờ tới được. Nàng tưởn tượng ra những bữa tối buồn thảm bên bàn, đôi ba câu trao đổi giữa một bé gái duy nhất và một người đàn bà đang tàn héo, xa nhà hát, xa đàn ông, xa Hans Trow. Nàng cũng không thể gặp lại bạn bè thời thơ ấu. Vienna cũng đã do Xô Viết kiểm soát.
Nàng khuấy động tất cả những cái đó trong đầu, tới khi nghe tiếng một nhóm nhỏ chuyện trò khe khẽ, không xa cửa sổ mở, tiếng cười, tiếng chạm cốc, Maria lùi lại, tránh xa nơi mặt trời đang sưởi ấm sàn nhà. Nàng chưa bao giờ tưởng tượng mình lang thang cùng với bé Lotte. Một ngày nào đó Hans Trow sẽ chết trong một cái hố. Ông bị đồng nghiệp ở Matxcơva thanh toán. Phải, nỗi cô đơn sẽ vây hãm nàng, vòng vây vươn rộng ngoài Mecklembourg, ngoài Tây Đức đến tận bờ biển Baltic.
Rồi bất chợt, một ngày kia, với khung cảnh mặt biển phẳng lặng, xám mờ, đơn điệu, lạnh lẽo, một cái gì khác sẽ bắt đầu. Cái gì? Một cuộc đời khác.
Đúng lúc ấy Maria nghe thấy tiếng của Brecht trong hành lang:
- Maria!!! Maria!!! Lại đây đi!…
Maria đóng ngăn kéo, đứng ép sát vào tường.
Brecht vào, đầu có máu, mồ hôi trên trán, ông ngậm kẹo Corona, tươi cười.
- Bao giờ cô cũng đến phòng tôi khi tôi không có ở đó; còn khi tôi có mặt thì cô lại lánh đi chỗ khác…
Maria cố không cười. Brecht nói tiếp:
- Cô đi dạo khi trời mưa, nhưng khi trời nắng thi cô giam mình trong phòng. Khi tôi thèm muốn cô thì cô cài áo sơ-mi và khép đùi lại. Buổi sáng, khi tôi uống sâm-banh với bạn, cô đến đánh hơi chăn đệm của tôi, xem tôi có cất giấu những ý kiến đáng thương nào đó, xem tôi có nhét dưới đệm một giấy thông hành Thụy Sĩ, xem tôi có viết ở đâu đó tôi đã nghiền ngẫm một cuộc mưu sát đồng chí Ulbricht. Tôi không biết cô đã tìm thấy cái cô muốn tìm chưa, nhưng cô là một kẻ quấy rầy. Tôi tự hỏi, tôi sẽ làm gì cô đây.
Ông nói lại:
- Làm gì với em đây…
Ông hắn giọng, hạ thấp giọng:
- Có mứt kem hoa quả Helli làm đấy. Em có muốn ăn không?
Qua cửa sổ, hai con bướm bay lượn, chập vào nhau, tiếng động ngoài vườn, tiếng chim hót, không khí dịu mát, những bóng râm lướt qua.
Brecht lấy bút chì máy trong túi áo sơ-mi, quyển sổ bé xíu trong túi áo vét vải lanh treo ở cửa. Ông viết gì đó. Maria đứng há mồm và nhìn chỗ trũng trên giường của Brecht. Nàng tự hỏi: tại sao nàng không tài nào có thể luồn qua khoảng giữa Brecht và bức tường. Ông cần có khôn khí, luôn luôn cần không khí. Nàng muốn một cuộc đi dạo dài trong rừng thanh bình, một khu rừng thánh thiện và ở đầu đường mòn là chiếc ô tô đen cùng Hans Trow đang chờ đợi.
Brecht thụt lại đầu bút chì, nhìn Maria:
- Hôm nay, chúng mình làm hoà.
Ông nắm vai nàng, kéo lại mình, rồi liếm vành tai nàng:
- Lại đây!
Ông thì thầm vào tai nàng:
- Hãy tươi cười, thân thiện, tỏ ra dễ thương với khách mời của chúng ta.
❀ ❀ ❀
[1] M. le Maudit: Phim của đạo diễm Mỹ gốc Áo Fritz Lang.