Những người phụ nữ bé nhỏ

Lượt đọc: 366 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Trại Laurence

❊ ❊ ❊

Beth giữ vai trò phát bưu điện, bởi vì cô thường ở nhà nhất nên có thể đảm nhiệm công việc này một cách đều đặn, và cô rất thích thú với nhiệm vụ hằng ngày là mở cánh cửa nhỏ rồi phân phát thư từ. Một ngày tháng Bảy, cô bước vào nhà với đôi tay đầy ắp thư, rồi đi quanh nhà để phát thư và bưu phẩm giống như nhân viên bưu điện phát tận nhà.

– Đây là đóa hoa của chị này, mẹ ạ! Lúc nào Laurie cũng chu đáo như thế đấy, – cô vừa nói vừa cắm bó hoa tươi vào chiếc bình đặt ở "góc của Marmee" – chiếc bình luôn được cậu thiếu niên tình cảm này mang hoa đến bổ sung đều đặn.

– Cô Meg March, một bức thư và một chiếc găng tay, – Beth tiếp tục trao các món đồ cho người chị đang ngồi gần mẹ để khâu cổ tay áo.

– Ơ, chị để quên một đôi cơ mà, sao ở đây chỉ có một chiếc thế này? – Meg vừa nói vừa nhìn chiếc găng tay bằng vải bông màu xám.

– Chị không làm rơi chiếc kia ở ngoài vườn chứ?

– Không, chị chắc chắn là không; vì trong phòng phát thư chỉ có đúng một chiếc.

– Em rất ghét có những chiếc găng tay lẻ chiếc! Thôi không sao, khéo lại tìm thấy chiếc kia ấy mà. Thư của em chỉ là bản dịch bài hát tiếng Đức mà em vẫn mong muốn; em đoán là anh Brooke dịch đấy, vì đây không phải chữ viết của Laurie.

Bà March liếc nhìn Meg – trông cô vô cùng xinh xắn trong chiếc áo dài mặc nhà bằng vải gingham, với những lọn tóc xoăn nhỏ bay lất phất trên trán, và trông rất ra dáng thiếu nữ khi ngồi khâu vá bên chiếc bàn làm việc nhỏ chất đầy những cuộn vải trắng gọn gàng; cô hoàn toàn không mải mỉm cười và cảm thấy hài lòng khi thấy con gái vừa may vừa hát, đôi ngón tay thoăn thoắt trong khi tâm trí bận rộn với những mộng mơ tuổi trẻ trong lành và tươi tắn như những đóa hoa păng-xê cài trên thắt lưng.

– Hai bức thư cho Bác sĩ Jo, một cuốn sách, và một chiếc mũ cũ buồn cười, trùm kín cả cái bưu điện nhỏ, được gí ở bên ngoài, – Beth vừa cười vừa nói khi bước vào phòng nghiên cứu, nơi Jo đang ngồi viết lách.

– Quả là một tay ranh mãnh thật đấy, cái cậu Laurie này! Chị từng nói là ước gì mấy chiếc mũ rộng vành hơn đang là mốt, vì chị toàn bị cháy nắng vào những ngày trời nóng. Cậu ấy liền bảo: "Sao phải bận tâm đến mốt làm gì? Cứ đội mũ rộng vành cho thoải mái chứ!" Chị bảo nếu có một cái thì chị sẽ đội ngay, thế là cậu ấy gửi cho chị cái này để thử thách đây. Chị cứ đội nó cho vui, và cho cậu ta thấy rằng chị chẳng mải may quan tâm đến thời trang đâu; – và vừa treo chiếc mũ rộng vành cổ lỗ sĩ lên bức tượng bán thân của Plato, Jo vừa đọc thư của mình.

Bức thư từ người mẹ khiến đôi má Jo ứng hồng và đôi mắt rưng rưng, bởi vì thư viết rằng:

– Con yêu của mẹ:

– Mẹ viết đôi lời để cho con biết mẹ vui mừng biết bao khi dõi theo những nỗ lực kìm chế sự nóng giận của con. Con chẳng hề nhắc gì đến những thử thách, thất bại hay thành công của mình, và có lẽ con nghĩ rằng chẳng ai nhìn thấy chúng ngoài Người Bàn mà con vẫn cầu xin sự giúp đỡ hằng ngày, nếu như mẹ có thể tin vào phần bìa đã sờn mép của cuốn cẩm nang ấy. Còn mẹ, mẹ cũng đã nhìn thấy tất cả, và hoàn toàn tin tưởng vào sự chân thành trong quyết tâm của con, bởi vì nó bắt đầu đơm hoa kết trái. Cứ tiếp tục như vậy nhé con yêu, hãy kiên nhẫn và dũng cảm, và hãy luôn tin rằng không có ai thấu cảm với con một cách dịu dàng hơn là người mẹ luôn yêu thương con,

– Mẹ.

– Điều đó làm em thấy thật tuyệt! Đáng giá cả triệu đô la và vô số lời tán dương ấy chứ. Ôi Marmee, con thực sự rất cố gắng! Con sẽ tiếp tục cố gắng và không thấy mệt mỏi nữa, vì con đã có mẹ giúp đỡ con rồi.

Gục đầu lên đôi tay, Jo làm ướt cuốn tiểu thuyết nhỏ của mình bằng vài giọt nước mắt hạnh phúc, bởi vì trước nay cô vẫn nghĩ chẳng ai nhìn thấy và trân trọng những nỗ lực muốn trở nên ngoan ngoãn của mình; và sự đảm bảo này lại càng trở nên vô giá, càng khích lệ gấp bội phần vì nó thật bất ngờ, lại đến từ chính người mà lời khen ngợi có giá trị lớn nhất đối với cô. Cảm thấy mạnh mẽ hơn bao giờ hết để đối mặt và khuất phục con quái vật Apollyon của mình, cô ghim bức thư vào bên trong lớp áo như một chiếc khiên và lời nhắc nhở, kẻo cô lại bị bất ngờ đánh gục, rồi tiếp tục mở bức thư còn lại, hoàn toàn sẵn sàng đón nhận tin vui hay tin dữ. Bằng những nét chữ to và phóng khoáng, Laurie viết:

– Jo yêu quý,

– Thế nào rồi!

– Ngày mai có một số thiếu nữ và thiếu niên người Anh sang thăm tớ và tớ muốn tổ chức một buổi thật vui vẻ. Nếu trời đẹp, tớ sẽ dựng lều ở Longmeadow, và chèo thuyền đưa cả bọn lên đó ăn trưa cùng chơi croquet – đốt lửa, nấu nướng theo kiểu người du mục, và đủ mọi trò nghịch ngợm thú vị khác. Bọn họ đều là những người dễ mến và rất thích những thứ đó. Brooke sẽ đi cùng để kèm cặp bọn con trai chúng mình giữ trật tự, còn Kate Vaughn sẽ đóng vai trò quản lý cho mấy cô gái. Tớ muốn tất cả các cậu đều đến; nhất quyết không buông tha cho Beth đâu đấy, giá nào cũng phải bắt đi, và sẽ không ai làm cô ấy phiền lòng đâu. Đừng bận tâm về chuyện lương thực – tớ sẽ lo việc đó và mọi thứ khác nữa – chỉ cần đến thôi nhé, một người bạn tốt ạ!

– Đang vội cuống cuồng,

– Thân ái, Laurie.

– Thật là thị soạn quá đi mất! – Jo kêu lên, chạy bay vào để báo tin cho Meg.

– Chắc chắn chúng ta được đi rồi chứ, mẹ nhỉ? Sẽ giúp ích cho Laurie rất nhiều đấy ạ, vì em có thể chèo thuyền, Meg lo khoản ăn trưa, còn mấy đứa nhỏ sẽ giúp ích được việc gì đó.

– Mẹ hy vọng mấy anh chị em nhà Vaughn không phải là những người ra dáng người lớn kiêu kỳ. Em có biết gì về họ không, Jo? – Meg hỏi.

– Chỉ biết là có bốn người bọn họ thôi. Kate lớn hơn chị, Fred và Frank (sinh đôi) thì bằng tuổi em, còn một cô em gái nhỏ (Grace) thì lên chín hoặc lên mười. Laurie quen họ ở nước ngoài và quý mấy cậu con trai; qua cách cậu ấy nhăn mặt khi nhắc đến cô chị, em đoán là cậu ấy không ưa Kate cho lắm.

– Chị thật mừng vì chiếc áo in vải Pháp của chị vẫn còn sạch; đúng là món đồ vừa vặn lại rất hợp dáng! – Meg tự đắc nhận xét. – Em có bộ nào trông tử tế không, Jo?

– Bộ đồ chèo thuyền màu đỏ thắm và xám, thế là đủ tốt với em rồi. Em sẽ chèo thuyền và đi bộ lung tung nên chẳng cần diện cái mốt sến sẩm nào đâu. Em sẽ đi chứ, Bethy?

– Nếu chị không để đứa con trai nào nói chuyện với em.

– Không một đứa nào hết!

– Em thích làm vui lòng Laurie; và em không sợ anh Brooke đâu, anh ấy rất tử tế; nhưng em không muốn chơi đùa, hát hò hay nói năng gì đâu nhé. Em sẽ làm việc thật chăm chỉ và không làm phiền ai cả; và chị sẽ chăm sóc em nhé Jo, thế nên em sẽ đi.

– Đó mới là cô bé ngoan của chị; em thực sự đang cố gắng chiến đấu lại sự rụt rè của mình, và chị rất yêu em vì điều đó. Chống lại những thói hư tật xấu không phải là chuyện dễ dàng, chị thừa biết điều đó; và một lời động viên vui vẻ giống như một cú hích nâng đỡ tinh thần vậy. Cảm ơn mẹ nhé, – và Jo trao lên má gầy của mẹ một nụ hôn đầy biết ơn, món quà quý giá đối với bà March hơn cả việc lấy lại được vẻ bầu bĩnh hồng hào của tuổi trẻ.

– Con có một hộp kẹo sô-cô-la viên, và bức tranh con muốn chép lại, – Amy nói, khoe bưu phẩm của mình.

– Còn em nhận được thư mời của ông Laurence, bảo em sang chơi đàn cho ông nghe tối nay, trước khi thắp đèn, và em sẽ đi, – Beth nói thêm, mối thâm tình giữa cô và cụ ông ngày càng tốt đẹp.

– Nào, bây giờ chúng ta hãy làm việc thật nhanh tay và hoàn thành gấp đôi công việc hôm nay, để ngày mai có thể thoải mái vui chơi với tâm trạng thảnh thơi, – Jo nói, chuẩn bị cất chiếc bút đi để cầm lấy cây chổi.

Khi những tia nắng ban mai ghé vào căn phòng của các cô gái từ sớm tinh mơ để hứa hẹn một ngày đẹp trời, nó đã chứng kiến một cảnh tượng vô cùng buồn cười. Mỗi cô đều chuẩn bị cho buổi tiệc mừng theo cách mà họ cho là cần thiết và phù hợp. Meg gắn thêm một hàng giấy cuốn tóc nhỏ chi chít trước trán, Jo thoa thật đẫm kem lạnh lên khuôn mặt đang gặp rắc rối của mình, Beth bế theo búp bê Joanna đi ngủ cùng để bù đắp cho cuộc chia tay sắp tới, còn Amy thì đạt đến đỉnh cao khi kẹp một chiếc kẹp phơi quần áo lên mũi để kéo cái nét chưa hoàn hảo ấy cao lên. Đó là loại kẹp mà các họa sĩ hay dùng để giữ giấy trên ván vẽ, thế nên nó hoàn toàn thích hợp và mang lại hiệu quả cho mục đích mà cô đang dùng. Cảnh tượng kỳ cục này dường như làm ông mặt trời thích thú, bởi ngài bỗng bừng sáng rực rỡ đến mức Jo giật mình tỉnh giấc, rồi đánh thức tất cả các chị em dậy bằng một trận cười sảng khoái trước món đồ trang trí của Amy.

Nắng vàng và tiếng cười là những điềm lành cho một chuyến dã ngoại, và chẳng mấy chốc, bầu không khí nhộn nhịp đã bắt đầu ở cả hai ngôi nhà. Beth, người chuẩn bị xong đầu tiên, liên tục tường thuật những gì diễn ra ở nhà bên cạnh và làm cho việc chuẩn bị trang phục của các chị thêm phần sinh động bằng những bản "tin nhanh" liên tục phát ra từ ô cửa sổ.

– Kìa người ta đang chở lều tới! Em thấy bà Barker đang gói đồ ăn trưa vào một chiếc giỏ xách và một chiếc giỏ lớn kìa. Bây giờ ông Laurence đang ngước nhìn bầu trời và chiếc la bàn gió; ước gì ông ấy cũng đi luôn nhỉ. Kìa Laurie trông như một thủy thủ ấy – cậu bé dễ thương thật! Ôi trời đất ơi! Kìa một cỗ xe đầy người – một người phụ nữ cao lớn, một bé gái và hai thằng bé trông thật khủng khiếp. Một đứa bị què; tội nghiệp chưa, nó chống nạng kìa. Laurie có nói gì với chúng ta điều đó đâu. Nhanh lên mấy chị ơi! Trễ mất thôi. Ơ kìa, có cả Ned Moffat nữa cơ đấy. Nhìn kìa Meg, chẳng phải đó là kẻ từng ngả mũ chào chị hôm chúng ta đi mua sắm đấy sao?

– Đúng thế thật. Lạ thật đấy sao anh ta lại đến đây được nhỉ. Chị tưởng anh ta đang ở vùng núi cơ mà. Kìa có cả Sallie nữa; chị rất mừng vì cô ấy đã về kịp lúc. Trông chị ổn cả chứ, Jo? – Meg bấn loạn kêu lên.

– Đẹp như một bông cúc dại ấy. Kéo váy lên và đội mũ cho ngay ngắn vào; cái mũ cứ nghiêng ngả ra vẻ đa sầu đa cảm thế kia là bay mất ngay cơn gió đầu tiên đấy. Nào, đi thôi!

– Ôi Jo, em không định đội cái chiếc mũ kinh khủng đó đấy chứ? Quá là ngớ ngẩn! Em không được tự biến mình thành một còn bù nhìn như thế, – Meg can ngăn khi Jo dùng một dải ruy băng đỏ buộc chặt chiếc mũ rơm Leghorn rộng vành, cổ lỗ sĩ mà Laurie đã gửi như một trò đùa.

– Em cứ thích đội đấy, vì nó tuyệt lắm – vừa râm mát, nhẹ nhàng lại rộng rãi. Sẽ vui lắm cho mà xem; và em chẳng ngại làm bù nhìn miễn là mình thấy thoải mái. – Nói đoạn, Jo sải bước đi thẳng, và những người còn lại bước theo sau – một nhóm chị em tươi tắn, ai nấy đều diện những bộ cánh mùa hè đẹp nhất, với gương mặt rạng rỡ dưới vành mũ xinh xắn.

Laurie chạy ra đón và giới thiệu họ với những người bạn của mình một cách vô cùng niềm nở. Bãi cỏ chính là phòng tiếp tân, và trong vài phút liền, một khung cảnh náo nhiệt đã diễn ra ở đó. Meg cảm thấy biết ơn khi thấy cô Kate, dù đã đôi mươi, lại ăn mặc với sự giản dị mà các thiếu nữ Mỹ nên học tập; và cô vô cùng phổng mũi trước những lời khẳng định của Ned rằng anh ta đến đây cốt là để gặp cô. Jo thì hiểu vì sao Laurie lại "nhăn mặt" khi nhắc đến Kate, bởi vì vị tiểu thư này mang một vẻ kiêu kỳ, khó gần, hoàn toàn trái ngược với phong thái tự do, thoải mái của những cô gái khác. Beth quan sát mấy cậu con trai mới đến và kết luận rằng cậu bị què không hề "đáng sợ" mà rất hiền lành, yếu đuối, và cô sẽ đối xử tử tế với cậu vì lý do đó. Amy thấy Grace là một cô bé vui vẻ, có giáo dục; và sau vài phút ngẩn ngơ nhìn nhau câm nín, họ bỗng chốc trở thành những người bạn rất thân.

Lều bãi, đồ ăn trưa và các dụng cụ chơi croquet đã được chuyển đi từ trước, chẳng mấy chốc nhóm người đã lên thuyền và hai chiếc thuyền cùng đẩy ra khơi, để lại ông Laurence đang vẫy mũ trên bờ. Laurie và Jo chèo một chiếc thuyền; anh Brooke và Ned chèo chiếc kia; trong khi Fred Vaughn, kẻ sinh đôi hiếu động, đang cố hết sức làm lật cả hai chiếc thuyền bằng cách khua khoắng chiếc xuồng trông như một con bọ nước đang hoảng hốt. Chiếc mũ buồn cười của Jo xứng đáng nhận được một lá phiếu cảm ơn, bởi nó mang lại lợi ích chung to lớn: nó phá vỡ sự ngại ngùng ngay từ đầu bằng những tràng cười sảng khoái; nó tạo ra một làn gió dễ chịu khi bay phấp phới qua lại lúc cô chèo thuyền; và cô bảo rằng nó sẽ là một chiếc ô tuyệt vời cho cả nhóm nếu trời đổ mưa. Kate có vẻ khá kinh ngạc trước những hành động của Jo, nhất là khi cô thốt lên "Christopher Columbus!" lúc đánh rơi mái chèo; còn Laurie thì thốt lên: "Bạn thân mến ơi, tớ có làm cậu bị thương không?" khi vấp phải chân Jo lúc bước vào chỗ ngồi. Nhưng sau khi giơ kính lúp lên quan sát cô gái kỳ quặc ấy vài lần, cô Kate quyết định rằng cô nàng "kỳ cục nhưng khá thông minh", và mỉm cười với cô từ đằng xa.

Meg, ở chiếc thuyền bên kia, có một vị trí vô cùng tuyệt vời, đối mặt với hai tay chèo – những người vừa ngắm cảnh vừa đưa mái chèo lướt đi với "kỹ năng và sự khéo léo" phi thường. Anh Brooke là một thanh niên trầm tính, ít nói, với đôi mắt nâu đẹp và giọng nói dễ chịu. Meg thích cung cách điềm đạm của anh, và coi anh như một bách khoa toàn thư sống chứa đựng đầy kiến thức hữu ích. Anh không bao giờ nói chuyện với cô quá nhiều; nhưng anh nhìn cô rất nhiều, và cô cảm thấy chắc chắn rằng anh không hề có cái nhìn ác cảm với cô. Ned đang học đại học, dĩ nhiên mang theo tất cả những điệu bộ mà mấy sinh viên năm nhất luôn cho là bổn phận phải ra vẻ; anh ta không quá thông minh, nhưng lại rất tốt tính, và nhìn chung là một người cực kỳ thích hợp để tổ chức một chuyến dã ngoại. Sallie Gardiner thì mải miết giữ cho chiếc váy piqué trắng của mình được sạch sẽ và ríu rít trò chuyện với tên Fred lắm điều – kẻ luôn làm Beth khiếp sợ bởi những trò đùa giỡn của hắn.

Đường đến Longmeadow không xa; nhưng lúc họ đến nơi thì lều đã được dựng lên và các khung cửa đánh cricket đã cắm xong. Một bãi cỏ xanh mướt dễ chịu, với ba tán sồi xòe rộng ở chính giữa, và một khoảng cỏ mịn màng dành riêng cho trò croquet.

– Chào mừng đến với Trại Laurence! – vị chủ nhà trẻ tuổi lên tiếng khi họ bước lên bờ trong những tiếng reo hò thích thú.

– Brooke là tổng tư lệnh; tớ là tổng hậu cần; mấy anh chàng kia là sĩ quan tham mưu; còn các tiểu thư đây là khách quý. Chiếc lều là dành riêng cho các bạn, và gốc sồi kia là phòng khách của các bạn; đây là phòng ăn, còn cái thứ ba là bếp trại. Nào, chúng ta hãy làm một ván trước khi trời nắng gắt, rồi tính tiếp chuyện ăn trưa.

Frank, Beth, Amy và Grace ngồi xuống để xem tám người còn lại chơi. Anh Brooke chọn Meg, Kate và Fred; Laurie chọn Sallie, Jo và Ned. Đội Anh chơi hay; nhưng đội Mỹ chơi hay hơn, và giành giật từng tấc đất quyết liệt như thể có tinh thần của cuộc cách mạng năm 76 truyền cảm hứng cho họ vậy. Jo và Fred có vài lần xô xát, và suýt chút nữa đã cãi nhau to. Jo đã vượt qua khung cửa cuối cùng và đánh trượt bóng, sự thất bại đó khiến cô khá bực bội. Fred ngay sát phía sau, và đến lượt anh ta trước cô; anh ta đánh một gậy, bóng trúng khung cửa và dừng lại cách một inch ở phía sai. Không có ai đứng gần; chạy sáu để xem xét, anh ta lén lút dùng mũi giày khều nhẹ một cái, thế là quả bóng dịch chuyển vừa đúng một inch sang phía đúng.

– Tớ qua rồi nhé! Nào cô Jo, tớ sẽ hạ gục cậu và về đích trước cho mà xem, – cậu thanh niên reo lên, vung chiếc búa gỗ chuẩn bị cú đánh tiếp theo.

– Cậu vừa đẩy nó; tớ nhìn thấy đấy; bây giờ đến lượt tớ, – Jo gắt lên.

– Thề có chúa là tớ không hề dịch chuyển nó nhé; có lẽ nó tự lăn một chút thôi, mà điều đó được phép cơ mà; thế nên đứng tránh ra nào, để tớ làm một cú vào cọc đích xem nào.

– Ở Mỹ chúng tôi không chơi gian lận, nhưng cậu thích thì cứ việc, – Jo tức giận nói.

– Bọn Yankees các cậu là lũ ranh mãnh nhất, ai cũng biết cả đấy. Nhận lấy này! – Fred đáp trả, đánh bay quả bóng của cô đi xa tít tắp.

Jo mím môi định thốt ra câu gì đó khó nghe, nhưng kịp kìm chế lại, mặt đỏ bừng lên đến tận trán, rồi đứng đực ra một phút, dùng hết sức đóng cọc xuống đất, trong khi Fred đánh trúng cọc đích và tuyên bố mình đã thắng cuộc với vẻ đầy đắc ý. Cô bỏ đi tìm quả bóng của mình, và mất rất lâu mới tìm thấy nó giữa lùm cây; nhưng khi quay lại, trông cô đã điềm tĩnh, lạnh lùng và kiên nhẫn chờ đến lượt mình. Phải mất mấy cú đánh cô mới giành lại được vị trí đã mất; và khi cô đến nơi, đội bên kia gần như đã thắng, bởi vì quả bóng của Kate chỉ còn cách đích một bước và nằm ngay gần cột.

– Trân trọng báo cáo, chúng ta tiêu đời rồi! Tạm biệt Kate nhé. Cô Jo còn nợ tớ một ván, thế nên cậu xong đời rồi đấy, – Fred hào hứng kêu lên khi tất cả cùng tụ tập lại để xem đoạn kết.

– Người Mỹ có cái thói quen là rất hào phóng với kẻ thù của mình, – Jo nói với ánh mắt khiến cậu thiếu niên đỏ mặt, – nhất là khi họ đánh bại chúng, – cô nói thêm, và bỏ mặc quả bóng của Kate ở đó, cô giành chiến thắng trò chơi bằng một cú đánh khéo léo.

Laurie tung mũ lên trời; rồi sực nhớ ra là không được phép tỏ ra quá đắc thắng trước thất bại của khách, cậu dừng lại giữa chừng tiếng hò reo để thì thầm với bạn mình:

– Hay lắm Jo! Cậu ta gian lận thật đấy, tớ thấy hết; chúng ta không thể nói thẳng ra được, nhưng tớ hứa là cậu ta sẽ không dám tái phạm nữa đâu.

Meg kéo cô ra một góc dưới cái cớ cài lại một lọn tóc bị xõa, và khen ngợi:

– Tức điên lên được ấy chứ; nhưng em đã kìm được cơn giận, chị mừng lắm, Jo ạ.

– Đừng khen em, Meg, vì em muốn đấm vỡ mặt hắn ta ngay lúc này đây. Chắc chắn em đã nổi khùng lên rồi nếu không trốn vào giữa đám tầm ma cho đến khi cơn giận hạ xuống đủ để giữ miệng đấy. Giờ nó vẫn đang âm ỉ nên mong là hắn tránh xa em ra, – Jo vừa nói vừa mến môi, trừng mắt nhìn Fred từ dưới vành mũ rộng.

– Đã đến giờ ăn trưa rồi, – anh Brooke nói khi nhìn đồng hồ. – Tổng hậu cần, cậu có thể nhóm lửa và lấy nước được không, trong khi tiểu thư March, tiểu thư Sallie và anh bày bàn ăn? Ai có thể pha cà phê ngon nào?

– Jo làm được, – Meg vui mừng giới thiệu em gái. Thế là Jo, cảm thấy những bài học nấu ăn gần đây sắp đem lại vinh quang cho mình, bèn bước đến phụ trách bình pha cà phê, trong khi bọn trẻ đi nhặt củi khô, còn mấy cậu con trai nhóm lửa và lấy nước ở con suối gần đó. Tiểu thư Kate ngồi phác họa tranh, còn Frank trò chuyện với Beth – người đang bện những chiếc thảm nhỏ bằng cỏ lác để làm đĩa đựng đồ ăn.

Tổng tư lệnh và các phụ tá nhanh chóng trải khăn bàn với một mảng đồ ăn thức uống vô cùng hấp dẫn, được trang trí xinh xắn bằng những chiếc lá xanh. Jo thông báo cà phê đã sẵn sàng, và ai nấy đều ổn định chỗ ngồi để thưởng thức bữa ăn thịnh soạn; bởi tuổi trẻ hiếm khi bị khó tiêu, và vận động giúp phát triển sự thèm ăn lành mạnh. Đó là một bữa trưa vô cùng náo nhiệt; vì mọi thứ đều tươi mới và vui nhộn, những tràng cười vang dội liên tục làm giật mình một chú ngựa già đang gặm cỏ gần đó. Bàn ăn có một sự khập khiễng thú vị khiến bao nhiêu tai nạn xảy ra với tách và đĩa; những quả sồi rơi lộp bộp vào sữa, mấy con kiến đen nhỏ xíu không được mời cũng đến tham gia tiệc tùng, còn những chú sâu róm lông lá thì đu đưa từ trên cây xuống để xem có chuyện gì đang diễn ra.

– Bữa trưa vui vẻ biết bao. – Trang 156.

– Ở đây có muối đấy, nếu cậu thích, – Laurie vừa nói vừa đưa cho Jo một đĩa quả mọng.

– Cảm ơn, tớ thích nhện hơn, – cô đáp, vớt lên hai chú nhện nhỏ bất cẩn đã chết chìm trong lớp kem béo ngậy. – Sao cậu dám nhắc lại cái bữa tối kinh khủng đó, trong khi bữa trưa của cậu tuyệt vời về mọi mặt thế này cơ chứ? – Jo nói thêm khi cả hai cùng cười và ăn chung một chiếc đĩa, do đồ sứ bị mang thiếu.

– Tớ đã có một khoảng thời gian vô cùng tuyệt vời ngày hôm đó, và đến giờ vẫn chưa hết bàng hoàng đâu. Đây hoàn toàn không phải công trạng gì của tớ đâu nhé, tớ có làm gì đâu; chính cậu, Meg và Brooke mới là người làm cho nó thành công, và tớ cảm ơn các cậu nhiều lắm. Khi nào chúng ta ăn không nổi nữa thì làm gì bây giờ? – Laurie hỏi, cảm thấy lá bài chủ chốt của mình đã được tung ra khi bữa trưa kết thúc.

– Chơi trò chơi cho đến khi trời mát hơn đi. Tớ có mang theo bài "Tác giả", và tớ dám cá là tiểu thư Kate biết trò gì đó mới mẻ và hay ho đấy. Cậu ra hỏi cô ấy đi; cô ấy là khách và cậu nên ở bên cạnh cô ấy nhiều hơn chứ.

– Cậu không phải là khách chắc? Tớ cứ nghĩ cô ấy sẽ hợp với Brooke; nhưng anh ấy cứ nói chuyện mãi với Meg, còn Kate thì cứ trừng trừng nhìn họ qua cái tròng kính nực cười kia kìa. Tớ đi đây, thế nên cậu khỏi cần giảng đạo lý về phép lịch sự làm gì, vì cậu có làm được đâu, Jo.

Tiểu thư Kate quả thật biết rất nhiều trò chơi mới; và vì các cô gái không muốn ăn nữa, còn mấy cậu con trai thì ăn không nổi nữa, tất cả liền kéo nhau ra "phòng khách" để chơi trò "Truyện nhảm nhí".

– Một người bắt đầu kể một câu chuyện, bất kỳ thứ nhảm nhí nào cũng được, và kể bao lâu tùy thích, chỉ cần chú ý dừng lại ở một tình tiết gay cấn nào đó để người tiếp theo nối tiếp và làm tương tự. Sẽ rất buồn cười nếu chơi khéo, và tạo ra một mớ hỗn độn dở khóc dở cười để cười thả ga. Xin mời anh Brooke bắt đầu trước đi ạ, – Kate nói với vẻ mặt ra lệnh khiến Meg ngạc nhiên, bởi cô luôn đối xử với vị gia sư sự tôn trọng như bất kỳ quý ông nào khác.

Nằm trên bãi cỏ dưới chân hai vị tiểu thư, anh Brooke vâng lời bắt đầu câu chuyện, đôi mắt nâu đẹp đẽ đăm đăm nhìn dòng sông lấp lánh ánh nắng.

– Ngày xửa ngày xưa, có một hiệp sĩ lên đường ra thế giới để tìm kiếm vận may, bởi vì anh ta chẳng có gì ngoài thanh kiếm và chiếc khiên của mình. Anh ta lang thang suốt một thời gian dài, gần hai mươi tám năm trời, và trải qua vô vàn gian khó, cho đến khi đến cung điện của một vị vua già tốt bụng – người đã treo thưởng cho bất kỳ ai thuần hóa và huấn luyện được một cỗ ngựa bất kham nhưng rất tuyệt vời mà ngài vô cùng yêu quý. Hiệp sĩ đồng ý thử sức và tiến bộ chậm nhưng chắc chắn; bởi chú ngựa là một con vật hào hiệp, và chẳng mấy chốc đã học được cách yêu mến người chủ mới của mình, dù nó rất hay giở chứng và hoang dã. Mỗi ngày, khi dạy dỗ vật cưng của nhà vua, người hiệp sĩ lại cưỡi nó đi khắp thành phố; và vừa đi, anh ta vừa đảo mắt tìm kiếm một khuôn mặt xinh đẹp nào đó mà anh ta từng thấy nhiều lần trong giấc mơ nhưng chưa bao giờ tìm thấy. Một ngày nọ, khi đang tung vó phi qua một con phố yên tĩnh, anh ta nhìn thấy khuôn mặt đáng yêu ấy ở cửa sổ của một tòa lâu đài đổ nát. Anh ta vô cùng thích thú, dò hỏi xem ai sống trong tòa lâu đài cũ kỹ này và được kể rằng có một số nàng công chúa bị bắt cóc giam giữ ở đó bởi một lời nguyền, ngày ngày phải quay tơ kiếm tiền chuộc lại tự do cho mình. Người hiệp sĩ vô cùng khao khát có thể giải cứu họ; nhưng anh ta nghèo khó, nên chỉ có thể đi qua mỗi ngày, ngóng chờ gương mặt ngọt ngào và khao khát được nhìn thấy nó xuất hiện dưới ánh nắng mặt trời. Cuối cùng, anh ta quyết định đột nhập vào lâu đài và hỏi xem mình có thể giúp gì cho họ. Anh ta đến và gõ cửa; cánh cửa lớn bật mở, và trước mắt anh ta hiện ra –

– Một tiểu thư xinh đẹp tuyệt trần, thốt lên với tiếng kêu đầy ngất ngây: "Cuối cùng thì! Cuối cùng thì!", – Kate tiếp lời, cô vốn đã đọc nhiều tiểu thuyết Pháp và rất ngưỡng mộ phong cách đó. – "Chính là nàng!", bá tể Gustave kêu lên, và ngã quỵ xuống chân nàng trong sự ngây ngất của niềm hạnh phúc. "Ôi, hãy đứng dậy đi!", nàng nói, đưa ra một bàn tay trắng muốt tựa cẩm thạch. "Không bao giờ! Cho đến khi nàng nói cho ta biết cách làm thế nào để giải cứu nàng", vị hiệp sĩ thề thốt, vẫn quỳ gối. "Than ôi, số phận nghiệt ngã của ta bắt ta phải ở lại đây cho đến khi kẻ bạo chúa bị tiêu diệt." "Tên ác nhân đó ở đâu?" "Trong phòng khách màu hoa cà. Hãy đi đi, trái tim dũng cảm, và cứu ta khỏi sự tuyệt vọng." "Ta tuân lệnh, và sẽ trở về khải hoàn hoặc chết!" Với những lời đầy kích thích ấy, anh ta vội vã lao đi, xô mạnh cánh cửa phòng khách màu hoa cà ra, và định bước vào thì hứng chịu ngay –

– Một cú đánh trời giáng bằng cuốn từ điển tiếng Hy Lạp dày cộp do một lão già mặc áo choàng đen ném thẳng vào người, – Ned tiếp lời. – Lập tức ngài Quên-tên-rồi-nhé lấy lại tinh thần, đá văng kẻ bạo chúa ra ngoài cửa sổ, rồi quay sang nhập bọn với người đẹp, chiến thắng vẻ vang nhưng trên trán mọc lên một cục u to tướng; thấy cửa khóa trái, anh ta liền xé rách rèm cửa, bện thành một chiếc thang dây, leo xuống được nửa chừng thì thang đứt, và anh ta cắm đầu củ quế lao thẳng xuống hào nước sâu sáu mươi thước bên dưới. Bơi giỏi như vịt, anh ta khua chân mạn quanh lâu đài cho đến khi bắt gặp một cánh cửa nhỏ do hai tên lợn gạo to con canh gác; anh ta đập đầu chúng vào nhau kêu rôm rốp như hai quả hạt dẻ, rồi chỉ bằng một chút gắng sức nhỏ của thứ sức mạnh phi thường, anh ta phá tung cánh cửa, bước lên một bậc thang bằng đá dày đặc bụi bặm một thước, có những con cóc to bằng nắm đấm và nhện to đến mức làm bạn phát hoảng ngất xỉu đấy, tiểu thư March ạ. Ngay trên đỉnh những bậc cầu thang ấy, anh ta đụng độ ngay một cảnh tượng làm tim ngừng đập và máu trong người đông cứng lại –

– Một bóng người cao lớn mặc đồ trắng toàn thân, che khăn voan kín mặt và cầm chiếc đèn lợt lạt trên bàn tay gầy guộc, – Meg kể tiếp. – Bóng người ấy ra hiệu, lướt đi không một tiếng động trước mặt anh ta dọc theo một hành lang tối tăm và lạnh lẽo như mồ mả. Những pho tượng mang áo giáp mờ ảo đứng hai bên, một sự tĩnh mịch chết chóc bao trùm, ngọn đèn lóe lên thứ ánh sáng xanh ngắt, và bóng ma cứ chốc chốc lại quay mặt về phía anh ta, để lộ ánh nhìn đáng sợ xuyên qua lớp khăn voan trắng. Họ đến một cánh cửa có rèm che, văng vẳng tiếng nhạc tuyệt diệu phát ra từ phía sau; anh ta chồm tới để bước vào, nhưng hồn ma đã kéo giật anh ta lại, và đe dọa quơ quơ trước mặt anh ta một cái –

– Hộp đựng thuốc lá hít, – Jo cất giọng trầm đục như từ cõi âm vọng về, khiến tất cả khán giả cười lăn lộn. – "Cảm ơn nhé", vị hiệp sĩ lịch sự nói khi nhón một nhúm, rồi hắt hơi liền bảy cái dữ dội đến mức cái đầu văng ra khỏi cổ. "Hà hà!", con ma cười lớn; và sau khi ngó qua lỗ khóa thấy các nàng công chúa đang miệt mài quay tơ giữ mạng sống, con yêu tinh liền nhặt nạn nhân của nó lên và nhét vào một chiếc hộp thiếc lớn, nơi có mười một hiệp sĩ khác cũng bị nhét chung mà không có đầu, giống như cá mòi, tất cả cùng vùng dậy và bắt đầu –

– Nhảy điệu thủy thủ, – Fred chen ngang khi Jo dừng lại để thở; – và khi họêu nhảy, tòa lâu đài cũ rích bỗng biến thành một chiến thuyền đang giương đầy buồm. "Kéo buồm dọc lên, thu buồm đỉnh lại, bẻ lái hết cỡ và vào vị trí pháo thủ!", viên thuyền trưởng gầm lên khi một chiếc tàu cướp biển Bồ Đào Nha xuất hiện trong tầm mắt, với lá cờ đen xì như mực phất phới trên cột buồm trước. "Tiến lên và chiến thắng nào mấy chàng trai!", viên thuyền trưởng ra lệnh; và một trận chiến kinh thiên động địa bùng nổ. Dĩ nhiên là phe Anh thắng rồi; lúc nào họ chẳng thắng."

– Không, đời nào có chuyện đó! – Jo lẩm bẩm phản đối.

– Bắt sống được tên thuyền trưởng cướp biển, họ cho thuyền lướt thẳng qua chiếc thuyền buồm với boong tàu chất đầy xác chết và rãnh thoát nước ngập ngụa máu me, bởi vì mệnh lệnh đưa ra là "Tuốt gươm và chiến đấu đến cùng!". "Hỡi phó thuyền trưởng, hãy lấy một đoạn dây thừng buộc buồm và trừng trị tên đểu cáng này nếu hắn không chịu khai nhận tội lỗi của mình ngay lập tức", viên thuyền trưởng Anh ra lệnh. Tên người Bồ Đào Nha ngậm miệng tịt như hến và bước ra tấm ván để ngã xuống biển, trong khi các thủy thủ reo hò điên cuồng. Nhưng gã ranh con này lại lặn xuống, bơi ngầm dưới đáy chiến thuyền, đục thủng lợn thuyền, thế là con tàu chìm nghỉm cùng toàn bộ buồm giương cao, "Xuống tận đáy biển sâu, sâu, sâu", nơi mà –

– Ôi chúa ơi! Mình phải nói gì bây giờ đây? – Sallie kêu lên khi Fred kết thúc câu chuyện nhảm nhí của hắn ta, trong đó hắn đã trộn lẫn lộn xộn các thuật ngữ hàng hải và sự kiện rút ra từ cuốn sách yêu thích của mình. – Chà, họ chìm xuống đáy biển, và một nàng nhân ngư xinh đẹp đã chào đón họ, nhưng vô cùng đau buồn khi tìm thấy chiếc hộp đựng các hiệp sĩ cụt đầu, liền tốt bụng ngâm họ vào nước muối với hy vọng khám phá ra bí ẩn về họ; bởi vì là phụ nữ nên cô ta rất tò mò. Chẳng mấy chốc, một thợ lặn bơi xuống, và nàng nhân ngư bảo: "Tôi sẽ tặng anh hộp ngọc trai này nếu anh vớt được nó lên"; vì cô ta muốn hồi sinh những kẻ tội nghiệp ấy mà không thể tự mình nhấc nổi món đồ nặng nhọc đó. Thế là người thợ lặn kéo nó lên, và vô cùng thất vọng khi mở ra chẳng thấy hạt ngọc nào cả. Anh ta bỏ nó lại trong một bãi đất trống hoang vắng, nơi nó được tìm thấy bởi –

– Một cô bé chăn ngỗng, người nuôi một trăm con ngỗng béo ngậy trên cánh đồng, – Amy nói khi khả năng sáng tạo của Sallie cạn kiệt. – Cô bé cảm thấy thương hại họ, và hỏi một bà già xem mình phải làm gì để giúp họ. "Đám ngỗng của cháu sẽ bảo cho cháu biết, chúng biết tuốt mọi thứ", bà cụ nói. Thế là cô bé hỏi xem mình nên dùng cái gì làm đầu mới cho họ, vì những cái đầu cũ đã bị mất, và tất cả đám ngỗng liền mở một trăm cái mồm của chúng ra và hét lớn –

– "Bắp cải!", Laurie nhanh nhẩu tiếp lời. – "Đúng ý ghê", cô bé nói, và chạy đi hái mười hai quả bắp cải tuyệt đẹp trong vườn của mình. Cô ta lắp chúng vào, các hiệp sĩ liền sống lại ngay lập tức, cảm ơn cô rối rít và vui vẻ lên đường, chẳng hề nhận ra sự khác biệt nào, bởi vì trên đời có quá nhiều cái đầu giống như thế nên chẳng ai thèm để ý. Vị hiệp sĩ mà tôi quan tâm thì quay lại để tìm kiếm gương mặt xinh đẹp, và hay tin các nàng công chúa đã tự quay tơ chuộc lại tự do, và tất cả đều đã đi lấy chồng, trừ một người. Anh ta vô cùng hoang mang trước tin đó; và leo lên lưng chú ngựa – người đã sát cánh bên anh ta qua bao thăng trầm – phóng ngay đến lâu đài để xem ai là người còn sót lại. Ngó qua hàng rào, anh ta nhìn thấy nữ vương của lòng mình đang hái hoa trong vườn. "Em cho anh xin một bông hồng nhé?", anh ta nói. "Anh phải đến đây mà hái chứ. Em không thể ra chỗ anh được; làm vậy là không phải phép đâu", nàng đáp ngọt ngào như mía lùi. Anh ta cố leo qua hàng rào, nhưng nó cứ cao lên mãi; rồi anh ta cố chen qua, nhưng nó lại càng dày đặc thêm, và anh ta rơi vào tuyệt vọng. Thế là anh ta kiên nhẫn bẻ từng cành cây một cho đến khi tạo được một chiếc lỗ nhỏ, ngó qua đó và khẩn khoản van nài: "Xin hãy cho anh vào! Xin hãy cho anh vào!". Nhưng cô công chúa xinh đẹp hình như chẳng thèm hiểu, vì nàng vẫn điềm tĩnh hái những bông hồng của mình, mặc kệ anh ta tự tìm đường vào. Anh ta có làm được hay không thì Frank sẽ kể cho các bạn nghe.

– Tôi chịu; tôi có chơi đâu, tôi có bao giờ chơi đâu, – Frank hoảng hốt từ chối khi phải giải cứu cặp đôi ngớ ngẩn khỏi tình thế tiến thối lưỡng nan đầy sướt mướt ấy. Beth đã biến mất sau lưng Jo, và Grace thì đang ngủ gật.

– Thế là tội nghiệp chàng hiệp sĩ bị mắc kẹt lại trong hàng rào à? – anh Brooke hỏi, vẫn chăm chú nhìn dòng sông và nghịch bông hồng dại trên khuyết áo.

– Tớ đoán là nàng công chúa đã tặng anh ấy đóa hoa và mở cổng sau một lúc thôi, – Laurie mỉm cười một mình, vừa ném quả sồi về phía gia sư của mình.

– Chúng ta vừa tạo ra một đống vô nghĩa gì thế này chứ! Nếu luyện tập thì có lẽ chúng ta cũng làm được khối trò hay ho đấy. Các cậu có biết trò "Sự thật" không? – Sallie hỏi sau khi họ đã cười thả ga về câu chuyện của mình.

– Tôi hy vọng là có, – Meg điềm đạm đáp.

– Ý tớ là trò chơi cơ?

– Nó là gì thế? – Fred hỏi.

– Ồ, các cậu chồng tay lên nhau, chọn một con số, rồi lần lượt rút tay ra, và ai rút đúng vào con số đó sẽ phải trả lời thật lòng bất kỳ câu hỏi nào do những người còn lại đặt ra. Vui lắm đấy.

– Chơi thử đi, – Jo nói, cô rất thích những trải nghiệm mới mẻ.

Tiểu thư Kate, anh Brooke, Meg và Ned từ chối, nhưng Fred, Sallie, Jo và Laurie thì chồng tay lên rút; và kết quả là trúng vào Laurie.

– Ai là thần tượng của cậu? – Jo hỏi.

– Ông nội và Napoleon.

– Cậu thấy quý cô nào ở đây xinh đẹp nhất? – Sallie hỏi.

– Margaret.

– Cậu thích ai nhất? – Fred hỏi tiếp.

– Jo, dĩ nhiên rồi.

– Cậu hỏi mấy câu ngốc nghếch thế! – Jo nhún vai khinh bỉ khi những người khác bật cười trước câu trả lời tỉnh bơ của Laurie.

– Thử lại đi; Sự thật không phải là trò chơi tồi đâu, – Fred nói.

– Trò này hợp với cậu lắm đấy chứ, – Jo lẩm bẩm đáp trả bằng giọng thấp.

Đến lượt cô.

– Khuyết điểm lớn nhất của cậu là gì? – Fred hỏi, nhằm thử thách ở cô thứ đức tính mà hắn còn thiếu.

– Tính nóng như lửa.

– Điều cậu ao ước nhất là gì? – Laurie hỏi.

– Một đôi dây giày, – Jo đáp, đoán trước và phá hỏng mục đích của cậu.

– Trả lời không thật lòng nhé; cậu phải nói điều thực sự muốn nhất cơ.

– Thiên tài; không phải cậu ước gì mình có thể cho tớ nó sao, Laurie? – và cô lén lười mỉm cười trước khuôn mặt thất vọng của cậu.

– Cậu ngưỡng mộ đức tính nào nhất ở một người đàn ông? – Sallie hỏi.

– Sự dũng cảm và lòng trung thực.

– Giờ đến lượt tôi, – Fred nói khi tay hắn rút cuối cùng.

– "Hành hạ" hắn đi nào, – Laurie thì thầm với Jo, cô gật đầu và hỏi ngay lập tức –

– Có phải cậu đã gian lận khi chơi croquet không?

– Ờ thì, có, một tí tẹo.

– Hay lắm! Thế cậu chẳng lấy câu chuyện của mình từ cuốn "Sư tử biển" đấy à? – Laurie bồi thêm.

– Hơi hơi.

– Cậu không nghĩ đất nước Anh là hoàn hảo về mọi mặt đấy chứ? – Sallie hỏi.

– Tôi sẽ phải xấu hổ với bản thân nếu không nghĩ thế.

– Đúng là một gã John Bull chính hiệu. Nào tiểu thư Sallie, cô sẽ có cơ hội mà không cần phải đợi rút thăm đâu. Tôi sẽ làm tan nát cõi lòng cô trước bằng cách hỏi xem có phải cô nghĩ mình là một tay chuyên tán tỉnh không nhé, – Laurie nói khi Jo gật đầu với Fred như một dấu hiệu tuyên bố hòa bình.

– Cái cậu thiếu niên hỗn xược này! Dĩ nhiên là tôi không phải thế rồi, – Sallie la lên với cái điệu bộ chứng minh điều ngược lại.

– Cậu ghét nhất thứ gì? – Fred hỏi.

– Nhện và chè pudding gạo.

– Cậu thích nhất cái gì? – Jo hỏi.

– Khiêu vũ và găng tay Pháp.

– Chà, tớ nghĩ "Sự thật" là một trò chơi ngớ ngẩn; chúng ta chơi một ván "Tác giả" ra trò để làm tươi mới đầu óc đi nào, – Jo đề xuất.

Ned, Frank và mấy cô bé cùng tham gia, và trong khi trò chơi diễn ra, ba người lớn tuổi hơn ngồi tách ra một góc trò chuyện. Tiểu thư Kate lại lấy sổ phác họa ra, Margaret ngắm nhìn cô ấy, trong khi anh Brooke nằm trên thảm cỏ với một cuốn sách nhưng chẳng thèm đọc.

– Chị vẽ đẹp quá! Ước gì em cũng biết vẽ, – Meg nói, trong giọng nói pha trộn giữa sự ngưỡng mộ và tiếc nuối.

– Sao em không học? Chị nghĩ em có khiếu và có tài năng về môn này đấy chứ, – tiểu thư Kate nhã nhặn đáp.

– Em không có thời gian.

– Chắc mẹ em thích những tài nghệ khác hơn nhỉ. Mẹ chị cũng vậy; nhưng chị đã chứng minh cho bà thấy mình có tài bằng cách học riêng vài bài, và sau đó bà hoàn toàn sẵn lòng để chị tiếp tục. Em không thể làm thế với gia sư của mình sao?

– Em làm gì có gia sư.

– Chị quên mất; thiếu niên ở Mỹ đi học trường nhiều hơn ở chỗ chúng ta. Toàn những ngôi trường rất tuyệt vời, bố chị bảo thế. Chắc em học trường tư thục nhỉ?

– Em chẳng học ở đâu cả; chính em là gia sư đây.

– Ồ, ra vậy! – tiểu thư Kate nói; nhưng cô thà nói "Ôi trời, khủng khiếp làm sao!" thì hơn, bởi giọng điệu của cô ngụ ý điều đó, và biểu cảm trên gương mặt cô khiến Meg đỏ mặt, thầm ước gì mình đừng quá thành thật.

Anh Brooke ngước lên và nói nhanh: "Thiếu niên ở Mỹ yêu thích sự độc lập giống như tổ tiên của họ vậy, và rất được ngưỡng mộ cũng như tôn trọng vì tự lập bằng sức lao động của mình."

– Ồ, vâng; dĩ nhiên là việc đó rất hay và đúng đắn ở họ rồi. Chúng tôi có rất nhiều phụ nữ trẻ rất đáng kính và xứng đáng, cũng làm như vậy và được giới quý tộc thuê mướn, bởi vì họ là con gái của các bậc quyền quý nên vừa có giáo dục lại vừa đa tài, bạn biết đấy, – tiểu thư Kate nói với giọng điệu bề trên, làm tổn thương lòng tự ái của Meg và khiến công việc của cô không chỉ trở nên chán ghét hơn mà còn mang cảm giác bị hạ thấp.

– Bài hát tiếng Đức có vừa ý cô không, tiểu thư March? – anh Brooke hỏi, phá vỡ khoảng lặng ngượng ngùng.

– Ồ, vâng! Rất hay và em vô cùng cảm ơn ai đã dịch nó hộ em; – và khuôn mặt cúi gằm của Meg bừng sáng lên khi cô nói.

– Cô không đọc được tiếng Đức à? – tiểu thư Kate hỏi với vẻ ngạc nhiên.

– Không giỏi lắm. Bố em – người dạy em – đang đi vắng, và em tự học nên không tiến bộ nhanh được, vì chẳng có ai sửa phát âm cho.

– Thử đọc một chút xem nào; ở đây có cuốn "Mary Stuart" của Schiller, và lại có sẵn một gia sư rất thích dạy học đây, – anh Brooke đặt cuốn sách lên đùi cô với nụ cười mời gọi.

– Khó lắm, em sợ không dám thử đâu, – Meg nói, vừa biết ơn vừa rụt rè trước mặt cô tiểu thư tài sắc ngồi bên cạnh.

– Tôi sẽ đọc một đoạn để khích lệ cô nhé; – và tiểu thư Kate đọc một trong những đoạn hay nhất, với một giọng điệu hoàn toàn chính xác nhưng lại hoàn toàn vô cảm.

Anh Brooke không đưa ra bình luận nào khi cô trả lời trao lại cuốn sách cho Meg – người ngây thơ thốt lên rằng:

– Em cứ tưởng đó là thơ.

– Đúng là thơ mà. Thử đoạn này xem.

Có một nụ cười kỳ lạ thoáng qua trên khóe môi anh Brooke khi anh mở sách đến đoạn khúc oán thán của tội nhân Mary.

Meg vâng lời dõi theo ngọn cỏ dài mà vị gia sư mới dùng để chỉ bài, đọc một cách chậm rãi và rụt rè, vô tình biến những từ ngữ khó nhằn thành thơ bằng âm điệu ngọt ngào trong giọng nói du dương của mình. Chiếc cần gạt màu xanh lướt xuống trang giấy, và chẳng mấy chốc, quên đi người nghe trong vẻ đẹp của cảnh tượng buồn bã ấy, Meg đọc như thể chỉ có một mình, thổi một chút nét bi tráng vào lời thoại của vị nữ hoàng bất hạnh. Giá như lúc đó cô nhìn thấy đôi mắt nâu thì cô đã khựng lại ngay; nhưng cô chẳng bao giờ ngước lên, và bài học không bị phá hỏng đối với cô.

– Thật sự rất tuyệt! – anh Brooke nói khi cô ngưng bặt, hoàn toàn lờ đi những lỗi sai của cô và trông như thể anh thực sự "rất thích dạy học".

Tiểu thư Kate giơ kính lúp lên, sau khi quét một lượt bức tranh sinh động trước mắt, liền gấp sổ phác họa lại và nói với giọng ban ơn:

– Cô phát âm khá đấy, và theo thời gian sẽ trở thành một người đọc giỏi. Tôi khuyên cô nên học tiếp, vì tiếng Đức là một tài nghệ có giá trị đối với giáo viên. Tôi phải đi tìm Grace đây, nó đang đùa nghịch kìa; – và tiểu thư Kate thong thả bước đi, tự lẩm bẩm với một cái nhún vai: "Mình đâu có đến đây để làm giám thị cho một cô gia sư, dù cô ta còn trẻ và xinh xắn. Lũ người Mỹ này đúng là kỳ quặc; tôi sợ Laurie sẽ bị hỏng người mất thôi khi ở cạnh họ."

– Em quên mất là người Anh thường coi thường giáo viên gia sư, chứ không đối xử với họ như chúng ta, – Meg nhìn theo bóng người khuất dạng với vẻ mặt bực bội.

– Ở trển, các gia sư cũng có khoảng thời gian khá vất vả, tôi thừa biết điều đó và đau đớn vì nó đây. Không có nơi nào bằng nước Mỹ đối với những người lao động như chúng ta đâu, cô Margaret ạ; – và anh Brooke trông mãn nguyện và vui vẻ đến mức Meg cảm thấy xấu hổ khi cứ than vãn về số phận hẩm hiu của mình.

– Thế thì em mừng vì mình sống ở đây. Em không thích công việc của mình lắm, nhưng rốt cuộc em vẫn nhận được rất nhiều sự thỏa mãn từ nó, thế nên em sẽ không phàn nàn nữa; em chỉ ước gì mình thích việc dạy học được như anh.

– Tôi nghĩ cô sẽ thích nếu có Laurie làm học trò đấy. Tôi sẽ rất buồn nếu phải mất cậu ta vào năm tới, – anh Brooke nói, bận rộn chọc những lỗ thủng trên thảm cỏ.

– Chắc là đi học đại học chứ gì? – Đôi môi Meg thốt ra câu hỏi đó, nhưng đôi mắt cô lại nói thêm: "Và điều gì sẽ xảy ra với anh?"

– Vâng; đã đến lúc cậu ấy phải đi rồi, vì cậu ấy đã sẵn sàng; và ngay khi cậu ấy đi, tôi sẽ đi tòng quân. Tôi cần thiết ở nơi đó.

– Em mừng vì điều đó! – Meg thốt lên. – Em nghĩ bất kỳ thanh niên nào cũng muốn đi; mặc dù điều đó thật khó khăn cho những người mẹ và người chị ở nhà, – cô nói thêm với vẻ buồn bã.

– Tôi chẳng có ai cả, và rất ít bạn bè để quan tâm xem mình sống hay chết, – anh Brooke nói với giọng hơi cay đắng, khi anh lơ đễnh cắm bông hồng tàn vào cái lỗ vừa chọc và lấp đất lại như một nấm mồ nhỏ.

– Laurie và ông của cậu ấy sẽ quan tâm rất nhiều, và tất cả chúng tôi sẽ rất buồn nếu có chuyện bất trắc xảy ra với anh, – Meg chân thành nói.

– Cảm ơn cô; nghe lọt tai đấy chứ, – anh Brooke bắt đầu, trông tươi tắn trở lại; nhưng trước khi anh kịp nói hết câu, Ned cưỡi trên con ngựa già lộc cộc tiến lại để khoe tài cưỡi ngựa trước các thiếu nữ, và chẳng còn chút yên tĩnh nào cho phần còn lại của ngày hôm đó.

– Cậu không thích cưỡi ngựa à? – Grace hỏi Amy khi họ đứng nghỉ ngơi sau một vòng đua quanh bãi cỏ cùng những người khác do Ned dẫn đầu.

– Tớ mê mẩn nó ấy chứ; chị Meg của tớ từng hay cưỡi ngựa khi bố còn giàu có, nhưng giờ chúng tớ chẳng giữ con ngựa nào ngoài Ellen Tree cả, – Amy vừa cười vừa nói thêm.

– Kể cho tớ nghe về Ellen Tree đi; nó là con lừa à? – Grace tò mò hỏi.

– Chà, cậu thấy đấy, Jo phát cuồng vì ngựa, tớ cũng vậy, nhưng chúng tớ chỉ có một chiếc yên ngựa phụ nữ cũ chứ chẳng có con ngựa nào. Ngoài vườn nhà chúng tôi có một cây táo, có một cành thấp rất đẹp; thế là Jo đặt chiếc yên lên đó, buộc mấy sợi dây cương vào phần cong lên, thế là chúng tớ cứ nhún nhảy trên lưng Ellen Tree bất cứ lúc nào thích.

– Buồn cười thật đấy! – Grace cười lớn. – Tớ có một con ngựa lùn ở nhà và cưỡi gần như mỗi ngày trong công viên cùng Fred và Kate; rất thích, vì bạn bè tớ cũng đi cùng, và đường đua lúc nào cũng đông đúc các quý ông quý bà.

– Ôi, thật quyến rũ làm sao! Tớ hy vọng một ngày nào đó mình sẽ được ra nước ngoài; nhưng tớ thà đi Rome còn hơn đi đường đua đó, – Amy nói – người hoàn toàn chẳng có tí khái niệm nào về đường đua đó là gì và đời nào chịu hỏi.

Frank, ngồi ngay phía sau mấy đứa nhỏ, nghe thấy những gì chúng nói và đẩy chiếc nợ nần sang một bên bằng cử động thiếu kiên nhẫn khi theo dõi mấy cậu thiếu niên hiếu động đang thực hiện đủ loại bài tập thể dục kỳ cục. Beth – người đang thu dọn những lá bài Tác giả bị vương vãi – ngước lên và cất giọng rụt rè nhưng thân thiện:

– Em sợ là anh mệt rồi; em có thể giúp gì cho anh không?

– Trò chuyện với tôi đi, ngồi một mình chán chết được, – Frank trả lời, rõ ràng là quen được cưng chiều ở nhà rồi.

Nếu cậu bắt cô đọc một bài diễn văn bằng tiếng Latinh thì có lẽ đối với cô bé Beth rụt rè đó cũng không phải là nhiệm vụ bất khả thi hơn; nhưng giờ chẳng còn chỗ để trốn chạy, chẳng có Jo để nấp đằng sau nữa, và cậu thiếu niên tội nghiệp nhìn cô với ánh mắt đầy khẩn khoản, khiến cô can đảm quyết định thử xem sao.

– Anh thích trò chuyện về cái gì nào? – cô hỏi, vừa cúi xuống lục lọi đống bài và làm rơi một nửa khi cố gắng buộc chúng lại.

– Ờ, tôi thích nghe về cricket, đua thuyền và săn bắn, – Frank nói, kẻ vẫn chưa học được cách điều chỉnh các trò giải trí cho phù hợp với sức khỏe của mình.

– Chúa ơi! Mình phải làm gì bây giờ? Mình có biết tí gì về mấy cái đó đâu, – Beth thầm nghĩ; và quên mất nỗi bất hạnh của cậu bé trong cơn hoảng loạn, cô nói với hy vọng khuyến khích cậu nói chuyện: – Tôi chưa từng đi săn bao giờ, nhưng chắc là anh biết tuốt về nó nhỉ.

– Từng có lúc thế; nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ được đi săn nữa, vì tôi bị thương khi nhảy qua cái hàng rào năm chấn song chết tiệt đó; thế nên chẳng còn ngựa với chó săn nào cho tôi nữa rồi, – Frank nói với một tiếng thở dài khiến Beth tự căm ghét chính mình vì sự ngớ ngẩn vô ý thức.

– Lũ hươu của anh đẹp hơn mấy con trâu xấu xí của chúng tôi nhiều, – cô nói, quay sang thảo nguyên để tìm kiếm sự giúp đỡ và cảm thấy mừng vì mình đã đọc được một trong những cuốn sách về con trai mà Jo vô cùng yêu thích.

Lũ trâu tỏ ra vô cùng xoa dịu và thỏa đáng; và trong sự hăng hái muốn làm vui lòng người khác, Beth đã quên mất bản thân mình và hoàn toàn không mảy may hay biết về sự ngạc nhiên lẫn thích thú của các chị khi chứng kiến cảnh tượng bất thường: Beth đang huyên thoáng trò chuyện với một trong những thằng bé đáng sợ mà cô từng cầu xin được bảo vệ.

– Phước cho con bé! Nó thương hại cậu ta nên mới đối xử tốt với cậu ấy, – Jo vừa nói vừa rạng rỡ nhìn cô từ sân croquet.

– Chị vẫn luôn bảo nó là một vị thánh nhỏ mà, – Meg nói thêm như thể không còn chút nghi ngờ nào nữa.

– Tớ chẳng thấy Frank cười nhiều thế này từ lâu lắm rồi đấy, – Grace nói với Amy khi họ ngồi bàn về búp bê và làm những bộ ấm trà bằng chén vỏ sồi.

– Chị Beth của tớ là một cô gái rất khó tính, khi cô ấy muốn thế, – Amy nói, tỏ ra vô cùng mãn nguyện trước thành công của Beth. Ý cô bé là "cuốn hút", nhưng vì Grace không hiểu nghĩa chính xác của cả hai từ, từ "khó tính" nghe có vẻ hay ho và tạo được ấn tượng tốt.

Một rạp xiếc ứng biến, trò mèo vờn chuột và một ván croquet hữu nghị đã khép lại buổi chiều hôm đó. Khi hoàng hôn buông xuống, lều được hạ trại, giỏ xách được đóng gói, cọc cắm được nhổ lên, thuyền được chất đồ và cả nhóm cùng trôi dạt xuống dòng sông, hát vang hết cỡ. Ned, bắt đầu trở nên đa sầu đa cảm, cất giọng ngâm nga một khúc serenade với điệp khúc u sầu:

– Cô độc, cô độc, ôi! Thật đáng thương, cô độc,

Và đến những câu thơ –

– Chúng ta đều trẻ, chúng ta đều có trái tim,

Ôi, sao chúng ta phải đứng cách xa nhau lạnh lùng thế này?

– anh ta nhìn Meg với vẻ mặt thẫn thờ đến mức cô bật cười thành tiếng và làm hỏng cả bài hát của anh ta.

– Sao em lại tàn nhẫn với anh thế? – anh ta thì thầm dưới sự che chở của một điệp khúc náo nhiệt. – Cả ngày em cứ kè kè bên cạnh mụ đàn bà Anh cứng nhắc đó, và giờ thì em phớt lờ anh.

– Em không có ý đó; nhưng trông anh buồn cười quá nên em thực sự không nhịn được, – Meg đáp, lướt qua phần đầu trong lời trách móc của anh ta; vì quả thật cô đã tránh mặt anh, nhớ đến bữa tiệc nhà Moffat và những lời bàn tán sau đó.

Ned bị tổn thương và quay sang Sallie để tìm kiếm sự an ủi, nói với cô bé bằng giọng hơi hờn dỗi:

– Chẳng có tí tẹo tính tán tỉnh nào trong con người cô gái đó phải không?

– Không một chút nào; nhưng cô ấy là một người đáng yêu, – Sallie đáp, bênh vực bạn mình ngay cả khi thừa nhận những điểm yếu của cô ấy.

– Dù sao thì cô ấy cũng chẳng phải là một con hươu bị thương, – Ned nói, cố tỏ ra thông minh và thành công như những cậu thiếu niên trẻ tuổi thường làm.

Trên bãi cỏ, nơi họ đã tụ tập, nhóm nhỏ chia tay nhau với những lời chúc ngủ ngon và tạm biệt nồng nhiệt, bởi vì nhà Vaughn chuẩn bị sang Canada. Khi bốn chị em đi bộ về nhà qua khu vườn, tiểu thư Kate nhìn theo họ và nói mà không còn giọng điệu bề trên:

– Bất chấp phong thái có phần khoa trương, các cô gái Mỹ thực sự rất dễ thương khi người ta đã hiểu họ đấy chứ.

– Tôi hoàn toàn đồng ý với cô, – anh Brooke nói.

Nguồn: Gutenberg, dịch thuật Gemini
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.