Những Phác Thảo Cũ Và Mới

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Thứ Ba

❊ ❊ ❊

Gần mép dòng sông lớn, các nhà khoa học chẳng mấy chốc đã tìm thấy một khối đá khổng lồ, cân đối, trên đó khắc dòng chữ:

“Vào mùa xuân năm 1847, nước sông dâng cao tràn bờ và nhấn chìm toàn bộ thị trấn. Mực nước ngập sâu từ hai đến sáu sải chân. Hơn 900 con gia súc đã bị cuốn trôi, nhiều nhà cửa bị phá hủy. Ngài Thị trưởng ra lệnh dựng đài kỷ niệm này để lưu danh muôn thuở sự kiện trên. Xin Chúa hãy rủ lòng thương, đừng để thảm cảnh ấy lặp lại!”

Với vô vàn khó khăn, Giáo sư Woodlouse cuối cùng đã dịch được văn bia này. Bản dịch được gửi về nước và ngay lập tức tạo nên một cơn sốt vô cùng lớn. Nó đã xác thực một cách kỳ diệu những truyền thuyết quý giá của cổ nhân. Bản dịch chỉ bị lu mờ đôi chút bởi một hoặc hai từ không thể dịch nổi, nhưng điều đó không làm giảm đi sự sáng sủa chung của ý nghĩa. Nội dung bản dịch được trình bày như sau:

“Cách đây một nghìn tám trăm bốn mươi bảy năm, (những ngọn lửa?) đã giáng xuống và thiêu rụi toàn bộ thành phố. Chỉ có khoảng chín trăm sinh linh thoát nạn, tất cả những kẻ khác đều bỏ mạng. (Nhà vua?) đã ra lệnh dựng tấm bia đá này để... (không thể dịch)... ngăn chặn thảm họa đó lặp lại.”

Đây là bản dịch thành công và trọn vẹn đầu tiên về thứ ký tự bí ẩn do loài người tuyệt chủng để lại. Nó mang lại cho Giáo sư Woodlouse danh tiếng lớn đến mức ngay lập tức, mọi trung tâm học thuật ở quê nhà đều phong tặng ông học vị cao quý nhất. Người ta tin rằng nếu ông là một binh sĩ và đem tài năng kiệt xuất của mình đi tận dụng để tiêu diệt một bộ lạc bò sát ở chốn thâm sơn cùng cốc, nhà vua hẳn đã ban tước hiệu và làm ông giàu có. Đây cũng chính là nguồn gốc của trường phái khoa học mang tên Nhân chủng học (Manologists), với chuyên môn là giải mã các văn bản cổ của loài chim đã tuyệt chủng gọi là Loài Người. [Bởi vì giờ đây người ta đã đi đến kết luận rằng Con Người là một loài chim chứ không phải loài bò sát.] Thế nhưng Giáo sư Woodlouse vẫn khởi xướng và giữ ngôi vị đứng đầu nhóm này, vì ai cũng công nhận chưa có bản dịch nào ít sai sót như của ông. Người khác mắc lỗi — còn ông thì dường như miễn nhiễm với điều đó. Về sau, người ta còn tìm thấy nhiều di vật khác của chủng loài đã mất, nhưng chẳng cái nào đạt được tiếng tăm và sự kính ngưỡng như “Tên gọi Hòn đá Thị trưởng” — sở dĩ gọi như vậy là vì trong văn khắc có từ “Thị trưởng”, mà khi dịch ra là “Nhà vua”, nên “Hòn đá Thị trưởng” thực chất chỉ là một cách gọi khác của “Hòn đá Nhà vua”.

Một lần khác, đoàn thám hiểm lại có một “phát hiện” vĩ đại. Đó là một khối tròn dẹt khổng lồ, đường kính rộng mười sải chân ếch và cao năm hoặc sáu sải. Giáo sư Snail đeo kính vào, săm soi khắp lượt rồi trèo lên đỉnh để quan sát. Ông ta tuyên bố:

“Kết quả của cuộc khảo sát và nghiên cứu tường tận về khối u có chu vi đẳng thức này khiến tôi tin rằng nó là một trong những tạo tác hiếm hoi và kỳ diệu do Kẻ đắp gò để lại. Việc khối này có cấu trúc mang hình phiến mang chỉ càng làm tăng thêm sự thú vị, bởi rất có thể nó thuộc về một chủng loại khác với những gì chúng ta từng đọc trong thư tịch khoa học, nhưng dẫu vậy, điều đó không hề làm suy giảm tính xác thực của nó. Hãy để con châu chấu với giọng ca vang dội thổi còi cất tiếng kêu gọi Bọ Hung — kẻ vốn làm việc hời hợt và hay lang thang — đến đây, để chúng ta tiến hành khai quật và mang về cho tri thức những kho báu mới.”

Chẳng tìm được một con Bọ Hung nào đang làm nhiệm vụ, thế nên Gò đất cuối cùng đã được một đội thợ gồm toàn Kiến đứng ra khai quật. Chẳng có gì được tìm thấy cả. Sự việc này hẳn đã gây ra nỗi thất vọng lớn, nếu như cụ Longlegs đáng kính không đứng ra giải thích.

“Giờ đây tôi đã thấy rõ một điều: chủng loài bí ẩn và đã lãng quên của những Kẻ đắp gò không phải lúc nào cũng dựng lên những công trình này làm lăng mộ. Nếu phải vậy, thì trong trường hợp này, cũng như mọi trường hợp trước đây, bộ xương của họ hẳn đã nằm lại đây cùng với những công cụ thô sơ mà sinh vật ấy từng dùng khi còn sống. Điều đó chẳng lẽ còn chưa rõ ràng hay sao?”

“Đúng vậy! Quá đúng!” — tất cả mọi người đồng thanh hưởng ứng.

“Thế thì chúng ta vừa thực hiện được một phát hiện có giá trị đặc biệt; một phát hiện làm mở rộng đáng kể hiểu biết của chúng ta về sinh vật này thay vì làm giảm đi; một phát hiện sẽ làm rạng danh những thành tựu của đoàn thám hiểm này và mang về cho chúng ta sự tán dương của các học giả khắp muôn nơi. Bởi vì sự vắng mặt của các di vật thông thường ở đây không mang ý nghĩa gì khác ngoài điều này: Kẻ đắp gò, thay vì là một sinh vật bò sát ngu dốt, dã man như chúng ta vẫn hằng được dạy phải nghĩ về hắn, lại là một sinh vật có văn hóa và trí thông minh cao độ, không những biết trân trọng những thành tựu đáng quý của những bậc vĩ nhân cao cả cùng loài, mà còn biết cách tưởng nhớ họ! Hỡi các bậc trí thức đồng nghiệp, Gò đất uy nghi này không phải là một ngôi mộ, nó là một đài tưởng niệm!”

Một ấn tượng sâu sắc đã bao trùm lấy tất cả.

Nhưng rồi bầu không khí ấy bị cắt đứt bởi những tiếng cười thô lỗ và đầy vẻ chế giễu — và con Bọ Hung xuất hiện.

“Đài tưởng niệm ư!” — hắn ta lên tiếng. — “Một đài tưởng niệm do Kẻ đắp gò dựng lên! Ồ, đúng thế chứ! Quả là thế thật, qua con mắt sắc bén, tinh tường của khoa học; nhưng đối với một kẻ khốn khổ dốt nát chưa từng đặt chân đến cổng trường đại học, thì nói một cách nghiêm túc, nó chẳng phải Đài tưởng niệm gì cả, mà lại là một tài sản vô cùng giá trị và cao quý; và xin các ngài đại nhân rộng lượng cho phép, tôi xin phép được tiến hành biến nó thành những khối cầu có vẻ đẹp tuyệt vời và—”

Con Bọ Hung ngay lập tức bị đuổi đi bằng những roi vọt, và các họa viên của đoàn thám hiểm được lệnh vẽ lại các góc độ khác nhau của Đài tưởng niệm. Trong khi đó, Giáo sư Woodlouse, với sự cuồng nhiệt của lòng nhiệt thành khoa học, đã trèo lên lặn xuống khắp mọi ngóc ngách của nó với hy vọng tìm thấy một dòng khắc chữ. Nhưng nếu nơi đây từng có một văn khắc nào đi nữa, thì nó cũng đã mục nát hoặc bị một kẻ phá hoại nào đó lấy mất như một món di vật rồi.

Sau khi các bức vẽ đã hoàn tất, người ta cho rằng việc vận chuyển chính Đài tưởng niệm quý giá ấy trên lưng của bốn con Rùa lớn nhất để gửi về viện bảo tàng của nhà vua là hoàn toàn an toàn, và công việc ấy đã được tiến hành. Khi nó đến nơi, nó đã được đón tiếp với sự hoan hênh nồng nhiệt vô bờ bến và được hàng vạn công dân đầy nhiệt huyết hộ tống về chốn an nghỉ tương lai. Bản thân Vua Ếch Xanh XVI cũng thân chinh ngự giá tới dự và rộng lòng ngồi ngự trị trên đó suốt dọc đường di chuyển.

Thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt đang nhắc nhở các nhà khoa học nên tạm khép lại công việc nghiên cứu trong lúc này, thế nên họ bắt đầu chuẩn bị hành lý lên đường về nước. Nhưng ngay cả ngày cuối cùng của họ giữa chốn Hang động cũng vẫn mang lại thành quả: một trong các học giả đã tìm thấy ở một góc khuất xó xỉnh của Viện bảo tàng hay còn gọi là “Nơi chôn cất” một vật vô cùng kỳ lạ và bất thường. Đó không gì khác chính là một con Chim-Người kép dính liền lấy nhau ở phần ngực bởi một lớp màng tự nhiên, trên đó có dán tấm nhãn ghi bằng những từ không thể dịch nổi: “Cặp song sinh Siamese”. Bản báo cáo chính thức về dị vật này đã khép lại như sau:

“Do đó, có thể thấy rằng vào thời cổ đại từng tồn tại hai loài riêng biệt thuộc giống gia cầm uy nghi này: một loài đơn và một loài kép. Tạo hóa luôn có lý do cho vạn vật. Dưới con mắt của khoa học, thật rõ ràng khi loài Người-Kép ban đầu sinh sống ở một vùng đất đầy rẫy hiểm nguy; thế nên chúng mới được gắn kết với nhau để trong khi một nửa ngủ thì nửa kia có thể canh gác; và tương tự như vậy, khi phát hiện hiểm nguy, luôn có một sức mạnh gấp đôi thay vì đơn độc để chống lại nó. Xin dâng vạn tráng kính đến con mắt phá giải màn sương bí ẩn của Khoa học tựa thần linh!”

Và ngay gần chỗ con Chim-Người kép ấy, người ta lại tìm thấy thứ rõ ràng là một bản ghi chép cổ xưa của sinh vật này, được khắc trên vô số tờ giấy mỏng màu trắng và được đóng thành tập. Hầu như cái liếc mắt đầu tiên mà Giáo sư Woodlouse ném vào đó đã hé lộ câu văn sau đây. Ông lập tức dịch nó và đặt lên bàn trước các nhà khoa học trong cơn run rẩy, khiến mọi tâm hồn có mặt ở đó đều sục sôi nỗi hân hoan và kinh ngạc:

“Thực tế là nhiều người tin rằng các loài động vật bậc thấp cũng biết suy nghĩ và trò chuyện với nhau.”

Khi bản báo cáo chính thức vĩ đại của đoàn thám hiểm được xuất bản, câu văn trên đã kèm theo lời bình phẩm này:

“Thế ra vẫn còn có những loài động vật ở cấp bậc thấp hơn cả Con Người! Đoạn văn đáng kinh ngạc này không thể có ý nghĩa nào khác. Bản thân loài Người đã tuyệt chủng, nhưng chúng thì có lẽ vẫn còn tồn tại đâu đó. Chúng có thể là gì? Chúng sinh sống ở đâu? Nhiệt huyết của con người như muốn bùng nổ khi suy ngẫm về cánh đồng khám phá và nghiên cứu đầy rỡ ràng đang mở ra trước mắt khoa học tại đây. Chúng ta khép lại công việc của mình với lời cầu nguyện khiêm nhường rằng Bệ hạ hãy lập tức thành lập một ủy ban và ra lệnh cho họ không được nghỉ ngơi cũng không được tiếc tiền của cho đến khi cuộc tìm kiếm chủng loài chưa từng bị nghi ngờ này — những sinh vật thuộc về Thượng Đế — gặt hái được thành công rực rỡ.”

Đoàn thám hiểm sau đó đã lên đường trở về quê hương sau chuyến đi dài ngày cùng những nỗ lực tận tụy, và đã được cả đất nước biết ơn đón chào bằng một buổi lễ khải hoàn vô cùng hoành tráng. Tất nhiên, đời nào mà chẳng có những kẻ bới móc dốt nát, tục tĩu, và trước sau gì cũng vẫn thế; và hiển nhiên một trong số những kẻ đó chính là con Bọ Hung bỉ oán. Hắn ta bảo rằng tất cả những gì hắn học được qua những chuyến đi chính là việc khoa học chỉ cần một nhúm giả thuyết là đủ để xây dựng nên cả một ngọn núi sự thật đã được chứng minh; và rằng từ nay về sau hắn sẽ chỉ hài lòng với tri thức mà tạo hóa ban phát tự do cho muôn loài chứ không thèm đi xía mũi vào những bí mật uy nghiêm của Đấng Tối Cao.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.