Trái Tim Trên Những Con Đường

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Nẻo Đường Calvados
Những Nẻo Đường Calvados

❊ ❊ ❊

Khi còn trẻ, bạn nên cố làm những điều huyền diệu. Gắng hết mình để làm những điều phi thường tưởng như không thể, ví dụ như chạy marathon, nhảy bungee, thân gái một mình tới Ấn Độ, hay qua đường ở Hà Nội lúc bảy giờ sáng. Tôi cũng tính làm những điều vượt sức mình để xem ngoài cân nặng và sự ngu dốt, còn có điều gì ở mình không có giới hạn. Dạo này thay vì thích tới những nơi đô thị rực rỡ, mơ chốn phồn hoa, tôi lại có thiên hướng lui về làng mạc, trèo đèo, lội suối, đạp xe, phi thân, chui vào rừng, lao xuống biển, làm những việc đòi hỏi khí chất và thể lực. Cái đó thì tôi hơi dư, thế nên để xài nốt đống năng lượng dồi dào của mình, tôi ngồi thiết kế ngay tour đạp xe về vùng biển vắng.

Nói cho oai, thực ra tôi chỉ ngồi chỉ tay năm ngón.

Ngón thứ nhất: Tìm địa điểm. Sau khi được Giang chỉ thị là thích đi tìm hiểu văn hóa, còn các em giai chỉ thị là chúng em thích đi nơi hùng vĩ, tôi mò mẫm một hồi và quyết định đi Basse-Normandie. Tại sao lại là vùng này? Ái chà, xin cho năm phút quảng cáo. Normandie là vùng đất giáp Đại Tây Dương, nơi sóng vỗ ầm ầm không ngừng nghỉ, nước biển nhiều sắc thái, nơi xanh lục như Bessin, chỗ lại xanh thẫm như Étretat.

Normandie nằm ở eo biển Manche chiến lược giữa hai thực dân bự nhất thế giới: Pháp và Anh, nên trong điểm lưu thông huyết mạch này thẩm thấu những nền văn hóa đặc thù, gọi theo phong cách của báo Lao Động là kiểu Gô-loa và Phớt-Ăng-lê. Vùng đất giàu văn hóa, giàu lịch sử này còn lưu giữ những chiến tích oanh liệt của chiến tranh thế giới thứ hai. Quân Mỹ đã hiến vào lòng đất này 9.000 quân tinh nhuệ cho một ngày D-Day* , giành lại hòa bình cho nhân loại. Thế giới phải biết ơn về điều đó. Những gã mê lịch sử, hoặc thích chơi game* có lẽ ai cũng mong một lần tới đây xem những thứ mình đọc, mình chơi thực hư như thế nào. Còn tôi tới đây không vì thế, mà chỉ vì bon chen kiểu người ta biết, mình cũng không thể không biết.

* Tức ngày 6/6/1944, là ngày quân Đồng Minh đổ bộ lên bãi biển Normandie Pháp, mở màn cho cuộc tổng phản công của quân Đồng Minh trên các mặt trận, là cột mốc quan trọng đánh dấu sự thật bại của chủ nghĩa phát xít, và tiến tới kết thúc chiên tranh thế giới thứ hai.

* Có rất nhiều game dựng lại cuộc chiến Normandie này như Company of heros, Call of duty 1, 2, 1944 D-Day Operation Overlord….

Sau khi nghiên cứu chán chê, cân đo đong đếm các vùng đất ở Normandie thì vùng Calvados đã được lôi ra làm điểm ngắm. Calvados với bãi biển Ohama huyền thoại ở Bessin, với các bảo tàng chiến tranh ở Bayeux đã nhanh chóng thành điểm hành hương cho ngày lễ Phục Sinh. Con thỏ sẽ được lăn trứng trên những ngả đường quê, từ phố tới thôn, từ núi ra biển.

Ngón thứ 2: Kêu gọi. Tôi thảo một bài hịch dài tầm nửa trang A4, giới thiệu xuất xứ ý tưởng, quảng cáo cho Calvados, kêu gọi anh em tham gia. Cuối thư nhấn mạnh: Nay ngày 8/3, xin anh em rủ lòng trả lời mail ngay lập tức. Thư được gửi đi cho tất cả các chiến hữu tiềm năng. Tôi ngồi cười hí hí hân hoan, “mùi mẫn thế này, ai nỡ không quan tâm”. Thư gửi đi, hai tiếng sau vẫn mất dạng. Thành ra cả ngày 8/3, tôi bị ấm ách trong lòng.

Ngón thứ 3: Đánh giáp lá cà. Nhân dịp gặp một anh Phật tử ngoài cửa lab, tôi thống thiết kêu gào: “Anh đi không?”, “Anh đi”. “Vậy anh về trả lời thư và kêu gọi cho em đi”. Anh Phật tử hộc tốc về phòng trả lời dứt khoát: “Xin một vé nha. Các anh em còn lại trả lời đi, 8/3 mà”. Năm phút sau thư từ đâu bay tới tấp như mòng biển rợp trời: “Em không trả lời vì mặc định là đi”, “Cho em xin một suất”...

Ngón thứ 4: Tạo cú hích. Mặc dù các anh em đã khẳng định sẽ chung một chiến hào, nhưng không có ai động đậy dù chỉ một tấc lưỡi để hỏi về việc bao giờ đi, bao giờ về, vé tàu, thời gian, giá cả. Thế giới đã sinh ra cả một thế hệ rô bốt, xem ảnh thích bấm Like (lũ Likaholic), đọc thư chỉ trả lời “Đã đọc” (lũ Skimaholic - chỉ đọc lướt), không hơn không kém. Để khuấy cái nồi cám sôi bùng lên, tôi gửi ngay cái mail ghi ngày giờ tàu cụ thể, kèm theo lời chú thích: Mình đã mua vé, các bạn không mua, vé tăng ráng chịu. Thế là nhao nhao như cào cào sau mưa, mọi người đã hứng thú mua vé ngay tắp lự. Sơ sơ đã có tới 18 chú cào cào chui vào rọ, dù tôi đã thản nhiên đưa ra vài cái lắc đầu làm cao. Giang còn sợ, đông quá loãng không khí tập thể, sẽ chia bè kéo phái.

Ngón thứ 5: Phủi tay cho sạch. Tôi vốn lười bẩm sinh, đụng tay chân tí là kêu oai oái, nếu mà hy sinh thân mình vì tập thể thì phải có khen thưởng mới làm. Vụ này đâu có phần thưởng nào, nên tôi phải tìm cách trút công việc và trách nhiệm lên đầu kẻ khác. Tôi chia công việc chung làm năm làm bảy rồi viết thư kêu gọi anh em đồng lòng dốc sức. Ba ngày sau, thư đi không thấy thư về. Tôi tính tung hê hết, anh em chơi thế này thì không được. Ai mà cáng đáng nổi, sức tôi hay sức trâu cũng thế. Trong cơn bĩ cực, tự nhiên có anh giai nhiều râu tốt bụng lao lên xin giúp. Người tốt duy nhất còn lại trên thế giới (do ba thành viên nhà chúng tôi bình chọn) hay Giang còn gọi là “thánh nam”, lo chu toàn hết từ đặt nhà, thuê xe, xem địa hình, tìm đường đi, lập kế hoạch. Tất cả được hoàn thành trong âm thầm, không tìm kiếm một lời tán dương. Nhờ “thánh nam” mà mọi việc trở nên trơn tru thuận lợi.

Vậy là nhờ một mình người tốt, 17 mạng còn lại ngồi rung đùi đợi ngày khởi hành.

Còn một tuần tới ngày xuất phát, dự báo thời tiết nói “Trời có mưa, âm u, gió mạnh, mây mù”. Cuộc đời thật tù mù quá. Tôi tính bỏ. Người tốt lên dây cót tinh thần cho chúng tôi: “Ăn chơi sợ gì mưa rơi, mưa mà rơi xuống thì ta chơi bài”. Thế là cả đoàn quân lại tiến về phía Đại Tây Dương mưa bão, dẫu rằng vẫn bị rớt lại ba thành viên do các sự cố bất khả kháng.

Ngày chúng tôi tới, trời lạnh thật lạnh, âm u thật âm u. Cuối tháng Ba mà châu Âu còn rét quá. Mới tuần trước Paris còn có tuyết, lạnh thấu xương, cuối tuần đó trời lại nắng cháy. Những tưởng lôi váy hoa ra được rồi, lại phải mặc áo bông, ai cũng cáu. Thời tiết năm nay bất thường đỏng đảnh như gái mới lớn, lạnh tới nửa năm, vậy mà cây cối đã đơm chồi từ cuối tháng Mười Hai. Hoa tuyết, hoa nghệ tây cứ đua nhau nở vàng, nở tím trên những vạt cỏ xanh rì.

Chúng tôi bắt tàu nhanh từ Paris tới Bayeux, phải chuyển tàu ở Caen mà chỉ mất có hai giờ đồng hồ. Tới Bayeux lúc mười một giờ trưa mà trời đã như năm, sáu giờ chiều. Trời lạnh ảm đạm, thỉnh thoảng mới có vài tia nắng. Tất cả ngược gió đi vào trung tâm, khoác tay nhau đi theo hàng, chắn gió, che lạnh. Đi loanh quanh tầm vài tiếng qua bảo tàng, qua nhà thờ lớn thì ai cũng thèm khát hơi ấm bếp lửa nên đòi về nhà. Thuê 14 chiếc xe đạp, cả lũ lên đường tìm về chỗ trọ. Chúng tôi thuê nguyên căn nhà lớn hai tầng ở giữa cánh đồng, từ phố đi 8km mới tới. Đây gọi là “đã đuối còn xách nải chuối vào thân”.

Cả lũ ra đường như vũ bão, đi lòng vòng một hồi thì người tốt kêu lên: “A kia rồi”, anh em phía sau hồ hởi. Người ở xa bảo “A tới nhà rồi sao”, người ở gần thốt lên “Làm gì đã tới biển?”. Dân tình người tưởng về nhà, người tưởng ra biển, trong khi trưởng đoàn đang dắt anh em đi tìm siêu thị Carrefour để chất đồ về bản. Tới siêu thị thì ai cũng á khẩu bất ngờ. Các chị em nhanh chóng kéo xe đẩy hàng vào “săn bắt hái lượm”, nào thịt gà, bò, lợn, rau, củ, quả và vô vàn hải sản.

Ở Paris, hải sản vừa đắt vừa không tươi ngon, tới đây chúng tôi như được vứt vào cái vựa cá, mắt ai cũng đê mê như nhà quê lên tỉnh. Con amandes (họ nhà con ngao), 1.5ekg, các bạn sướng quá, mua hết trên quầy. Con boulot (họ nhà con ốc biển) 3ekg các bạn cũng mua sạch bách hàng. Một con mực khổng lồ, vài cân tôm đỏ au, thêm ít sò làm, chị bán hàng cười rất tươi. Được mùa hải sản, các bạn hớn hở, hò nhau thồ về. Người thồ rau, người bánh mì, người tôm mực. Mới ngày đầu mà chúng tôi đã thấy rã rời từng khớp đùi.

Khi ngôi nhà đá hiện lên bên vệ đường, ai cũng mừng, cười nói xôn xao. Nhà mình sao mà đẹp quá, thế này còn ai muốn đi chơi, chỉ muốn ở nhà cả ngày, ăn nhậu, chơi bài. Chỉ trong một ngày đoàn quân đã dạo cả qua Bayeux và kết thúc ở ville khác tên Crouay. Giờ thì cả lũ ngồi tranh nhau thở, tranh nhau món xôi thập cẩm của em Thủy mang tới. Sau đó đám con trai lên giường ngủ, một số ngồi đánh bài, số khác hát, người tốt ngồi thổi kèn harmonica. Con gái xuống bếp, một số nấu, một số tiếp chuyện, một số xác định tư thế rửa bát ở thì tương lai. Sự khác nhau của đi chơi và ở nhà là bạn chuyển từ cái bếp nhỏ tới cái bếp lớn, từ nấu cho ba thành nấu cho mười lăm người. Thế thôi.

Sau này nghĩ lại mới thấy mình trâu, Giang cũng trâu, ngày nào cũng đạp xe từng nấy cây số mà về tới nhà vẫn lao ngay vào bếp được. Như thể không gắn với cái bếp là không sống được, như uống, như thở vậy. Các em gái khen “Các chị thật khỏe”. Vài người khỏe cả chục người vui. Ngày nào cũng đều như vắt chanh, chỉ biết con đường và nhà bếp.

Đường, đường rất đẹp. Đường ngoắt ngoéo, vắt ngang qua những cánh đồng cỏ, nơi bò nhởn nhơ, ngựa thả rông, cừu đi lạc. Vài ba mái nhà sơn đen, cửa tím thấp thoáng. Con đường cứ xuống dốc lại lên, lên lại xuống. Nhiều lúc tưởng không đạp nổi, tưởng như muốn lao ngay xuống cái vực gần nhất, vậy mà vẫn cố lết. Duyên còn nôn thốc ngay sau con dốc đầu tiên. Tôi cứ hùng hục đạp, Giang thì vừa đạp nhẹ nhàng vừa chụp ảnh ký sự. Thi thoảng cả lũ hò nhau, xuống xe cùng dắt, hèn một tí mà khỏe.

Đứa trước dắt, đứa sau giả bộ dắt cho có đồng bọn, rồi cả đoàn, cả gái cả trai cùng dắt. Đi một đoạn lại í ới đợi nhau uống nước, sẻ kitkat, chia nhau sáu đứa một quả táo. Giang bảo đó là quả táo ngon nhất tao từng ăn, dù đó là quả táo đã bầm dập mà tôi mang theo từ Paris. Đoàn lúc nào cũng có một người đi đầu, có thể là anh Phong, có thể là nhóc Hưng, đôi lúc là Vũ. Tiếp theo sẽ là các cô gái tri kỉ: tôi, Linh, Giang, hoặc Duyên thi nhau tranh vị trí phía sau em Ngân, còn dưới chúng tôi là em Thủy. Đôi lúc, anh Tèo vượt lên hét vào tai khiến cả lũ loạng choạng. Anh Hùng uể oải phía sau. Tú và anh Trường sóng đôi đi gần cuối, còn anh Sơn chốt đoàn để không lo ai rớt lại. Trúc thi thoảng quay lại để tìm những người vô tình ở phía sau.

Tháng Ba, nắng chang chang mà lạnh căm căm. Gió thổi thốc khiến mặt ai cũng nẻ toác và đỏ au giống lũ trẻ con miền núi phía Bắc. Nhiều lúc gió thổi cay xè mắt, tôi tưởng mình đang khóc. Đạp trên 10km thì chúng tôi không còn là đoàn đông nối liền nữa, mỗi người cách xa nhau một đoạn. Lúc mệt, thở không ra hơi, không nói năng cười đùa nổi, chỉ muốn một mình một thế giới. Tới khi lạc lõng ở đâu đó lại nghĩ: Sao mình tội nghiệp thế nhỉ? Nghĩ vậy lại thấy mình vô duyên, chỉ cố gắng đạp lên một chút, hoặc lùi lại một chút là được đi cùng bạn bè rồi. Cái tôi cũng thế, giảm một chút, thêm một chút mới có thể hòa hợp với người khác. Nguyên tắc số 1 của cuộc sống: Đừng bao giờ duy ngã độc tôn vì chẳng ai là thánh cả. Thánh cũng cần có bạn bè. Có bạn bè để cười nói, thúc nhau lên lúc mệt mỏi, bớt nản chí mà cùng nhau đi hết con đường. Đi một mình thì đi nhanh, đi nhiều người thì đi xa.

Đi chậm rãi vậy mà cũng vượt được 18km ngon lành để tới bãi biển Ohama. Bãi biển này nổi tiếng vì ngày D-Day 6/6/1944 quân Mỹ đã vươn theo sóng ào vào đất liền. Anh Hùng - biết - tuốt kể quân Mỹ đã phải giả lập một bãi biển Ohama như thế để tập trận trong nhiều tháng ròng. Dù biết trước D-Day là ngày bão, quân Mỹ vẫn phải ào vào mặc mưa bão bởi thủy triều vừa đủ, không phải đợi tới hai tháng nữa. Thời cơ mất coi như nguồn lợi cũng mất, Nga sẽ nhanh chóng chiếm trọn Berlin.

Anh Hùng, anh Phong, anh Trường bàn chuyện thời cuộc, sự sắc sảo của Mỹ, sự kém tinh nhuệ của Ý, hay sự bù nhìn của Charles de Gaulle. Lần đầu tiên tôi nghe những chuyện này nên cũng hào hứng, theo mọi người vào thăm nghĩa trang quân Mỹ, thăm bảo tàng, rồi bịt kín mặt mũi, lao qua gió xuống bờ biển. Qua những bụi lau sậy, bãi biển sỏi sóng đánh lên như bọt xà phòng, nước biển xanh nhờ nhờ dù trời nắng chói chang. Những đụn cát thấp mịn lấp đầy bởi cỏ xanh, cỏ khô. Vẻ đẹp hoang vu ấy rất lạ. Nó buồn buồn, tội tội, giống như câu thơ trong “Truyện Kiều”: “Buồn trông nội cỏ rầu rầu, chân mây mặt đất một màu xanh xanh”. Gió lao xao, cỏ đổ rạp, ảo não. Tê tái lòng, tê buốt tay, cóng lạnh đầu óc, cả lũ ngao ngán nghĩ đến quay về.

Đường về êm ái hơn đường đi. Đi ngả khác, nhanh hơn, đẹp hơn. Thả dốc cao vèo vèo, lên dốc thoai thoải rù rì. Chỉ hơn nửa thời gian khi đến đã về tới nhà. Đường đi ngày đầu đã đẹp, ngày sau còn tuyệt vời hơn. Vài đồng chí yếu thì xin phép về Paris nghỉ dưỡng trước, mười một đồng chí còn lại lên đường tiếp. 10km để tới Port-en-Bessin. Những con đường cứ trải dài bát ngát, có những đoạn những hàng cây khẳng khiu tiêu điều đứng bên con nước nhỏ tràn bờ, giống bức tranh “Mùa xuân, con nước” của Levitan.

Tôi hiểu vì sao Robert lại mê đắm sự rong ruổi Một ngàn con đường quê* đến thế. Tôi cũng khoái cảm giác thả dốc ào ào, thấy mình như lao vào biển cỏ, xé gió vù vù, tai bịt kín, không nghe thấy gì, chỉ thấy tim đập rộn ràng, còn đầu cứ nhộn nhịp “Let me take you down, ‘cos I’m going to Strawberry field”* . Đôi lúc tôi hát rú lên “yeah yeah yeah she loves you, yeah yeah yeah” của The Beatles. Khi bắt gặp một lâu đài đẹp, chúng tôi dừng lại chụp như ở Barbeville hay Sully. Cả lũ còn bày hoa quả ra trước bãi cỏ lâu đài như đi picnic, thật thoải mái tự do.

* Một ngàn con đường quê: Phần hai của tác phẩm Những cây cầu ở quận Madison của tác giả Robert James Waller.

* Lời bài hát “Strawberry field forever” của ban nhạc The Beatles.

Khi tới hải cảng thì trời đã bắt đầu buổi chiều. Nắng vẫn còn mê mải. Sóng Đại Tây Dương đánh rất mạnh. Biển như động vì bão, sóng đánh qua tường chắn sóng ầm ầm, tung bọt trắng xóa. Sóng đánh vào chân núi ào ạt, mù mịt bọt nước li ti. Có lúc sóng tràn bờ tưởng sẽ cuốn trôi cả đống xe đạp. Tôi chạy ra cứu xe vẫn nhớ tiếng em Trúc kêu cẩn thận. Thằng nhóc đó thế mà ngoan, lúc nào cũng biết đi sau mọi người để giúp đỡ, hoặc có ai lạc là quay lại tìm ngay. Khi đi chơi nhóm đông mới thấy mọi người thật tốt, thật biết quan tâm nhau.

Cả lũ hò nhau leo lên trên đỉnh đồi đầy cỏ dày. Cỏ ở đây kỳ lạ, cao như cây lau, dày dặn ấm áp, như nằm lên đống rơm ở nhà. Bước chân khó nhọc trên cỏ ngỡ như bước chân Heathcliff đang hoảng loạn đi tìm linh hồn Catherine. Có nhiều người không thích Đồi gió hú, nhưng tôi lại thích nhất tiểu thuyết này. Tôi thích nghe gió thổi vù vù bên tai lạnh cắt. Bạn bè râm ran, cả thành phố dưới chân mình, sóng thì cứ tung mình vào đá. Sóng không đau, đá cũng chẳng đau. Ném đời mình vào đời người khác chắc cũng chẳng khó như Lâm Thị Mĩ Dạ vẫn nói.

Cảm giác ngồi trên nóc thị trấn bé nhỏ Bessin này gần như là hạnh phúc. Hạnh phúc tùy vào mức độ mỗi người trông đợi, tùy vào cảm nhận từng người. Đôi khi chỉ là đang ngủ bị mẹ gọi điện hỏi “Thấy có miếng vải đẹp, mẹ may áo cho con nhé”, bố khoe “có cà phê ngon gửi sang cho con trước đấy”, thằng em bảo “chị thật kháu”, có người xoa đầu ngoan, hay được uống bia trên đỉnh đồi sau những giờ đạp xe mệt nhoài.

Tôi nhớ buổi sáng cuối ở căn nhà Calvados. Nắng chiếu hoang hoải ngoài sân. Nắng tỏa qua tấm rèm cửa vàng nhạt vào trong bếp, tôi đang nướng bánh mì thơm lừng. Ngoài phòng khách nắng chiếu trên cái bàn ăn, qua bình hoa thủy tiên vàng rực. Anh Sơn bật nhạc du dương, nhè nhẹ. Tôi biết bài đó. “Katie Melua phải không?”, “Ừ”. Mọi người bắt đầu lục đục trên gác. Cảm giác giống như gia đình vậy. Nhạc rất hay, Calvados cũng hay, không hẳn là đẹp, nó có vẻ buồn buồn mà vui lạ.

- Không đề -

“Cuộc đời em vo tròn lại

Ném vào cuộc đời anh

Nó sẽ lặn sâu tận đáy

Cuộc đời anh

Sâu cho đến tận... cái chết

Trời ơi

Làm sao có một cuộc đời

Để cho tôi ném mình vào đó

Mà không hề cân nhắc đắn đo

Rằng cuộc đời ấy vẫn còn chưa đủ...”.

-Lâm Thị Mĩ Dạ-

truyện —★— TRÁI TIM TRÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG ebook©MotSAch —★— TVE-4u©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản: Văn Học
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Mai Thanh Nga

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.