Tháng Bảy nóng như đổ lửa, miền Nam nước Pháp giống một cái chảo dầu sôi sùng sục. Những ngôi làng ở đó cũng như muốn bốc cháy. Trên đường đi, hơi nóng bốc lên như nồi nước phở, vậy mà tôi vẫn đi. Tôi muốn tìm con đường đến với hoa lavender, nhưng sự thật thì con đường đó đã không kết thúc ở Valensole mà ở tận Saignon, Roussillon và cả Gordes nữa. Nơi mà chẳng mấy ai biết, kể cả làng chúng tôi ở trọ, ngôi làng mang tên ngắn nhất mọi thời đại - Apt.
Ngày lên đường, chị Hiền - cựu phượt tử, ba mươi lăm tuổi, mắt tinh ranh, độc thân vui tính, cao chừng gần 1m7, vác trên vai con ba lô tầm 60 lít, nặng khoảng 15kg. Áo tím cộc tay, tóc cắt cao, quần jean, giầy thể thao, cười tới tai, chị vỗ vai hai đứa: “Nắng này nhằm nhò gì”. Tôi, 1m56, đương kim phượt tử, cận 5 đi-ốp, độc thân khó tính, vác vai con ba lô 20 lít, nặng chừng 7kg. Áo trong áo ngoài, quần dài tới mắt cá, chân đi giày, cười nguệch ngoạc: “Dạ đi thôi”. Bạn tôi, trai 1m6, không độc thân không vui tính, mắt lồi 8 đi-ốp, vác vai ba lô 30 lít, nặng chừng chục cân, lúc lắc cái tripod bên hông, cổ lăm le con Canon chuyên dụng, sơ mi xắn tay, quần Celio gấp vài lượt gấu, tất cổ dài, mặt méo xệch: “Chết nắng thôi”. Ba con người bốn tính cách lần đầu lập hội, lên đường chưa được năm phút đã hồ hởi, háo hức, như quen nhau cả chục năm trước.
Tàu đi vun vút như tên lửa, băng qua đồng cỏ, lướt nhẹ như nệm chân không, chỉ một cái chợp mắt đã tới Avignon. Thêm một cái chợp mắt nữa, chúng tôi đã ở giữa đám đông. Mọi người đổ dồn về đây vì đang diễn ra Lễ hội Nhà hát lớn nhất thế giới. Mọi căn nhà đều thành nhà hát diễn kịch, mọi đứa trẻ đều thành nhân viên bán vé, còn bố mẹ chúng thành diễn viên. Trên mọi ngả đường, người ta biểu diễn xiếc, ca nhạc, nhảy múa, mời chào xem kịch. Có tốp nhảy thật hăng say trên nền bài “Englishman in New York” của Sting. Giai điệu đó đã theo tôi vào cả giấc mơ những ngày sau này. Chen lấn giữa đám người, chúng tôi tới tòa lâu đài giáo hoàng, tới cầu Avignon, và nghỉ ngơi một chút ở quảng trường lớn. Năm 1309, một cha xứ người Pháp được phong làm giáo hoàng và ông đã chuyển ngai vị của mình từ Rome về Avignon. Tiếp sau ông, bảy vị giáo hoàng người Pháp khác cũng chọn nơi đây là nơi tại vị, tuy nhiên sau xung đột với vua Pháp vào năm 1378, thủ đô nước Ý đã lấy lại được vầng hào quang của mình. Khi mọi con đường đều đổ về thành Rome thì tòa lâu đài này trở thành viện bảo tàng, nằm uy nghi giữa trung tâm thành phố. Còn cầu Avignon vẫn vậy, vẫn như chưa bao giờ được hoàn thành, nhưng ai cũng biết qua bài hát nổi tiếng “Sur le pont Avignon”.
Chúng tôi ở lại Avignon cho tới chiều tà, lúc này người nhễ nhại mồ hôi, mệt mỏi, ba lô nặng trĩu. Đoàn người chen lấn trong thành phố càng lúc càng đông hơn. Thảo nào mà khó thuê khách sạn ở đây đến thế. Trèo lên xe bus để tới Apt, mặt trời đã bắt đầu chìm xuống bên kia sông, cái dịu êm bắt đầu xâm chiếm tinh thần. Đường lát gạch như gương, khiến mặt trời như được nhân đôi. Tôi gọi đó là hiện tượng ảnh đất, gấp đôi ánh sáng, trang hoàng cho một buổi chiều tráng lệ. Cây cối không động cựa, ngâm mình trong nắng muộn và gió chiều.
Thành phố này bé tí hin, gọi là phố thì oan mà gọi là làng thì tội. Hàng quán đã đóng cửa, đường lên đèn. Thứ ánh sáng vàng dịu nhẹ, trải bóng chân tới các quảng trường nhỏ xinh. Trong những con đường hẹp, không bóng người, không cười nói luyên thuyên, chỉ có ánh đèn vàng và đèn đường loang loáng. Ngồi nhâm nhi ly kem rưới sốt chocolate trong cái gió khe khẽ của buổi chiều sao mà tuyệt diệu. Xa xa, luống hoa hồng nở he hé bên cây cầu cũ. Thành phố này cũng từng có quá khứ. Quá khứ tôi nói là một lịch sử hào hùng, chứ không phải vài cuộc tình vẩn vơ.
Tối đó, chúng tôi đi ngủ rất sớm. Ngủ mà thở khò khè như có viên đá tảng trên ngực. Chỉ mong sớm mai dậy thấy mặt trời hiền hòa. Nhưng sợ thay, mặt trời như cô gái mới lớn, thích thoát mình khỏi sự thơ ngây, ngày một nóng bỏng, khiêu khích. Mới bảy giờ sáng vương quốc mát lành của tôi đã bị mặt trời xâm chiếm. Chúng tôi quần áo là lượt, lên đường ra trạm bus để hỏi đường tới cánh đồng oải hương. Vài cái lắc đầu, vài cái cười nhẹ, vài cái nhún vai, chúng tôi biết mình không có cơ hội nào tới giấc mơ. Tất cả chỉ có sự cảm thông từ những người dân cho lũ lớn đầu mà dại. Đang là tháng nghỉ hè, xe bus hầu như không chạy, lấy đâu ra xe mà đi với chơi. Lếch thếch, ba đứa hò nhau leo núi lên ngôi làng bé nhỏ, dễ thương Saignon.
Thật mừng là chuyến hành hương 5km đã có thành quả bước đầu. Đi được tầm 1km thì chúng tôi thấy ruộng oải hương. Hoa tím ngắt, Lá xanh rì, ong vởn vơ, vo ve và không có hàng rào. Ba đứa vui sướng như những đứa trẻ ngày đầu tựu trường. Chụp ảnh, tạo dáng, quay phim, hít hà mùi hương trong nắng. Chị Hiền quay sang: “Cũng đáng, cũng đáng”, hai đứa tiến sĩ ngơ ngẩn: “Chưa đáng, chưa đáng”. Mới có chút xíu thế này đâu bõ, phải đi tiếp chị ơi. Vậy là hò nhau đi thêm, đi thêm nữa. Càng đi càng mệt mỏi, càng thấy quyết định của mình là sai lầm. Có vô vàn ruộng oải hương, ở xa tít tắp, nhìn mà không với tới. Có vô số ruộng oải hương, ở gần, chỉ cách một tầm tay và hàng dây thép gai nhúng điện. Chúng tôi cùng đường thật rồi, không biết nên đi hay về. Bỗng như thấy đất liền, hoa tiêu reo lên: “Làng trên núi kìa”. Quá ấn tượng, chạy lên thôi. Chạy chừng 10m thì lại đi bộ rồi bò rồi lết. Là Saignon.
Saignon là ngôi làng nhỏ dễ thương, xinh đẹp nhất mà tôi từng biết. Mất tầm 30 phút thì bạn đi quanh được một vòng. “Đặc sản” ở đây gồm: Dây leo lá nho xanh mơn mởn, tường gạch, những giàn hoa lan tiêu màu cam đỏ, đường hẹp thật bé, đá lát bóng, những chồng củi khô cho mùa đông, vài khóm oải hương ven bờ, một thành lũy đã vỡ nát, một quảng trường lớn thật đẹp, con cún dễ thương, cây mận trĩu quả và cái nắng vỡ đầu. Nếu giả sử chúng tôi là gia đình: chồng đẹp, vợ xinh, vài đứa con dễ thương. Sáng chúng tôi dậy ngắm toàn cảnh phía dưới, trưa ra ngoài quảng trường nhâm nhi ly rượu, tối dắt tay nhau ngắm hoàng hôn trên tường thành, thì đó ắt là cuộc sống tuyệt vời, đáng sống vô cùng.
Chà, nếu Saignon đẹp thì Gordes thế nào? Gordes không chỉ đẹp mà còn ấn tượng. Khi bắt xe bus tới Gordes chúng tôi đã ngắm nhìn nó từ bên dưới. Cứ tưởng tượng một thành phố hoàn toàn bằng đá cheo leo ở tít trên cao, lơ lửng giống như lâu đài giữa trời ấy, giống ngôi nhà của Thượng Đế trong truyện “Bảy viên ngọc rồng”. Đại loại cả ba chúng tôi đã cực kỳ choáng ngợp. Thành phố nhỏ xinh ấy, nhà cửa bằng đá ngà ngà, hoa nở khắp nơi, cái gì cũng xinh, cái gì cũng đẹp, mà kể ra lại không thấy có gì. Trong cái không có gì ấy là một điều gì thật kỳ vĩ. Cứ nghĩ họ đã leo tít lên cao như thế, đục đá làm nhà, sống yên bình thảnh thơi, không đáng kinh ngạc sao? Chỉ có điều đi lên Gordes đã khó, mà từ đó sang làng khác cũng khó. Đi hết Gordes chân mệt nhoài, mà tôi tham lam đòi qua cả Roussillon nữa, nên chúng tôi đành gọi taxi đi.
Tại sao lại là Roussillon? Ôi tại vì nó lạ. Nó là phần khác hẳn của nước Pháp. Một khu vực rộng lớn đất đỏ là nơi sống của người Roussillon thời xưa. Nổi bật trên nền trời là những ống khói đất cao thật cao. Các gia đình xưa sống trong lòng đất, làm ống khói cao lên, để đi xa, vẫn nghe thấy tiếng trẻ con khóc mà chạy về. Những rẻo đất đỏ càng trở nên oi bức trong cái nóng ngày hè. Những vạt đất bị cắt gọt, uốn lượn, tạo cho người ta những ảo giác, làm tôi nhớ giấc mơ Grand Canyon của mình. Bao giờ mới có cơ hội đặt chân tới nước Mỹ, cho một giấc mơ thực sự. Tôi cũng chẳng biết nữa, chỉ biết mình đang cháy tới khô cong dưới mặt trời và sự cuồng nhiệt với vùng đất đỏ.
Gordes và Roussillon đều được bình chọn là những ngôi làng đẹp nhất của Pháp, đáng để đi và đi lại. Năm ngày ngồi lại nói chuyện với nhau, cứ nghĩ về những ngày hè ấy lại thấy đuối lòng. Nắng gì mà nắng ghê thế. Nắng làm tiêu tan hết mọi ký ức đẹp về một vùng đất. Nắng làm nản chí con người. Trong nắng, những ngôi nhà đá, những ống khói gạch đẹp hơn, tươi hơn, vui hơn miền ký ức.