Ngày còn bé, cũng như bao nhiêu đứa trẻ khác, tôi được kể cho nghe những công chúa, hoàng tử, những cô bé chăn cừu, những cậu bé tí hon trong truyện cổ Andersen. Nhưng tôi chưa bao giờ mơ mình là công chúa, chưa từng ước mong hoàng tử, tôi chỉ mơ thấy những tòa lâu đài. Những tòa lâu đài với cái âm u ngàn đời luôn chứa những bí ẩn không bao giờ dứt về một cuộc sống tuyệt vời đã từng tồn tại. Có lẽ vì thế mà khi nhìn thấy những hình ảnh của Mytras, tôi không thể không thốt lên: “Giấc mơ của tôi đây rồi!”. Và tôi nằng nặc đòi đến Mystras cho bằng được.
Ô tô của chúng hằng ngày vẫn leo lên leo xuống những triền núi ngoằn ngoèo, nhưng tôi không còn sợ hãi. Tôi vẫn ngủ ngon lành và mơ trong tiếng Bouzouki. Pierre thường than phiền vì chuyện này. Cậu ta bảo mỗi lần nhìn vào gương chiếu hậu thấy tôi đã há hốc mồm ngủ là cậu ta cũng mệt nhoài theo, nhưng tôi vẫn không thể nào sửa được. Thỉnh thoảng Alex lấy máy ảnh chụp lại những khoảnh khắc “khó đỡ” của tôi để làm bằng chứng cho việc lười nhác của lũ con gái. Khi mà ngày ngày thì ngủ, tối tối lại ôm laptop xem phim, trong khi con trai vạch kế hoạch và kiểm tra thời tiết. Tôi vẫn ngụy biện: “Tôi mới là người làm việc vất vả nhất, tôi phải ngủ để tránh nôn mửa lên các bạn, và tối xem phim để tránh làm phiền công việc của các chuyên gia”, nhưng chẳng ai tin.
Tôi thì tin, tôi tin chúng tôi là những con trâu khỏe bậc nhất xứ Tây Âu. Mỗi ngày chúng tôi đi qua khoảng hai hoặc ba thành phố nhỏ để ngắm các di tích lịch sử. Ăn trưa ngay trên xe với các loại khoai tây chiên, bánh mứt cam hoặc xa xỉ hơn là bánh nướng nhân táo, nhân cheese hoặc spinach* tuyệt ngon của Hy Lạp. Giữa buổi chúng tôi nhâm nhi đống chocolate mà tôi mang theo (thói quen khó bỏ của tôi là đi đâu cũng tàng trữ chất gây nghiện này). Arnab vẫn thường bảo: “Không thể tưởng tượng được mày cất giữ bao nhiêu chocolate trong người mà lúc nào cần cũng có”.
* Ở Việt Nam gọi là rau cải bó xôi.
Ngày lang thang ở những thành phố nhỏ, đến tối chúng tôi tạt vào những thành phố lớn. Đêm xuống đường phố lạnh buốt và vắng tanh. Đang là đợt đông cuối tháng Một nên gần như các thành phố hóa hoang vu, không khách du lịch, chúng tôi thường một mình độc chiếm cả khách sạn to đùng với giá bình dân. Thậm chí ở các đảo lớn lúc này, dân trên đảo còn đi nghỉ mát ở đâu đó gần đất nước tôi, để lại những hoang đảo bơ vơ, đó cũng là lý do tại sao chúng tôi không thể bước chân lên Santorini tuyệt mỹ.
Đêm qua tôi ngủ lại ở Sparta và đã mơ về người anh hùng Leonidas. Vậy đấy, trước kia nghe tới từ Leonidas tôi chỉ nghĩ tới loại chocolate tuyệt hảo ở Bỉ, nhưng bây giờ tôi biết Leonidas không chỉ là tên một cửa hàng. Leonidas là bậc đế vương dũng cảm của người Sparta. Vào khoảng năm 480 trước Công nguyên, quân Thespians cùng quân Spartans dưới sự lãnh đạo của Leonidas đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng để ngăn bước chân của Persian tiến vào trung tâm Hy Lạp. Trận chiến đẫm máu này tuy thất bại, nhưng đã nêu cao được tinh thần quả cảm của dân Lakedaimonians* . Với dân Hy Lạp, không chỉ mình Leonidas mà tất cả những kẻ vô danh đã ngã xuống đều là những người anh hùng. Dù Sparta đã hiện đại hóa, tôi vẫn nghe đâu đó “tiếng ngày xưa vọng nói về” của những người chết trận Thermopyles.
* Xưa là vùng tự trị của Hy Lạp có thủ phủ là Sparta.
“Stranger, go tell the Lakedaimonians that we lie here, obedient to their command”. “Hỡi những kẻ lạ mặt, hãy tới nói với dân xứ Lakedaimonian rằng chúng ta đã ở đây sẵn sàng đợi lệnh” - thơ của Simonides trên mộ những người Sparta đã nằm xuống.
Ấy vậy mà sáng tỉnh dậy, tôi nằm liếm môi và chỉ còn nhớ mình đã mơ về chocolate. Nhiều lúc tôi nghĩ có khi mình nên ngủ nhiều hơn để xóa bớt phần “con” hết sức vật chất của mình. Cũng may, phần “người” vẫn thôi thúc tôi “thức dậy để thực hiện giấc mơ” - tới lâu đài Mystras. Từ Sparta, chúng tôi rong “ngựa sắt” khoảng 15 phút, tòa thành đổ nát đẹp như trong tranh đã lọt ngay vào tầm ngắm. Đứa nào cũng phải xuýt xoa: “Đẹp và lạnh quá”. Ừ nhỉ, tuyết đang rơi trên đỉnh Taygetos. Dưới đế chế Byzantine, nếu Constantinople được coi là hoàng hậu thì Mystras phải là ái phi được sủng ái bậc nhất, nhưng rồi lại bị thất sủng trước Sparti khi Ottoman lên ngôi. Tôi không muốn nói đế chế Ottoman ngốc nghếch, tôi chỉ muốn nói: “Nếu là tôi, chẳng đời nào tôi đổi Mystras lấy Sparta xấu hoắc tới rùng mình”.
Khu di tích Mystras nằm trên đỉnh Taygetos, đón chúng tôi sau chiếc cổng vòm đá. Khác hẳn với sự lạnh lẽo của cổng Myceane, cổng đá nơi đây được tạo từ trăm nghìn mảnh đá xen kẽ với gạch đỏ, và được kết dính nhờ bùn đất nâu, mang lại vẻ ấm nóng lạ thường. Thực ra thì tôi cũng không dám chắc lắm về chuyện chất kết dính là bùn, biết đâu ẩn sau đó lại là một công thức chế tạo chất liệu vĩ đại. Như thành nhà Hồ ở Việt Nam, thầy tôi từng bảo tường thành lấy sự vững chắc từ hỗn hợp mật ong và giấy vụn. Quả là sự kết hợp phi thường.
Lâu đài ở Mystras được xây dựng từ thế kỷ XIII, từng là nơi ở ưa thích của hoàng đế William II của đế chế Byzantine. Nhưng thực sự bây giờ, tôi phải áp dụng trí tưởng tượng của mình triệt để mới có thể trông thấy nó. Tôi ước mình trở lại như thuở lên năm, thì có lẽ điều đó sẽ không hề khó khăn. Với kết cấu y như phần cổng chào, tường thành cùng di tích những phòng ốc cho thấy sự đồ sộ của lâu đài một thời. Chân tường thành kéo dài ôm gần như trọn đỉnh Taygetos, cùng một thành phố thu nhỏ trong nó. Ở khu Metropolis của Mystras, tôi bắt gặp tất tần tật những gì tôi thích: nhà thờ, tu viện, cho tới tàn tích lâu đài. Các khu nhà có kiến trúc giống nhau gồm nhà dành cho thợ thủ công, dành cho các thầy tu và dành cho tôi tớ. Các ông hoàng chỉ việc ngồi một chỗ trên đỉnh núi vẫn có hết mọi thứ họ cần cho ăn, ngủ và cầu nguyện. Đúng là Mohamed không tới với núi, thì núi phải tới với Mohamed.
Nhà dành cho các thầy tu hay tu viện (Monastery) có mái vòm lát gạch đỏ hình đài hoa úp ngược. Tường nhà chủ yếu bằng gạch xếp các cách khác nhau. Gạch thường được xếp ngang đơn giản, đặc biệt gần cửa sổ thì được xếp chéo lạ mắt. Tổng thể kiến trúc Byzantine hiện lên ấm áp lạ lùng, khiến ngày đông tuyết không còn giá buốt. Tuy tu viện này đã bị đóng cửa, tôi và Pierre vẫn trèo cửa sổ lẻn vào xem. Tôi háo hức như một kẻ khám phá chuyên nghiệp, và còn vì việc gì bị cấm làm cũng thú vị hơn. Nhưng chỉ sau một hồi tôi hết hứng thú, khi thấy ba tên còn lại lũ lượt vào từ một cửa hậu kín đáo.
Tu viện khá rộng rãi nhưng chỉ trơ trọi vài hàng cột màu đỏ. Trần nhà trang trí tinh xảo bằng các bức tranh tường hình thần Zeus và các vị thánh, đã phần nào bong tróc trước sự tàn phá của thời gian. Hình ảnh Zeus thời kỳ này xem ra rất khổ hạnh đúng theo tinh thần của các tu viện, hy vọng họ không có trò hành xác đáng sợ (như trong tiểu thuyết “Mật mã DaVinci” của Dan Brown). Các hình ảnh này tôi cũng bắt gặp trong các nhà thờ nơi đây.
Nhà thờ ở Mystras tuy bề ngoài khá giống nhau, nhưng cũng có một nhà thờ khác thường, rất ấn tượng.
Ngay lối vào, chúng tôi bắt gặp ngay một quan tài đá được chạm khắc tỉ mẩn. Ban đầu Alex còn cho rằng đấy là một chiếc bồn tắm thời xưa. Trước những bức tranh tường cực kỳ đẹp, bạn dễ dàng bị thôi miên bởi màu xanh và ánh vàng từ mái vòm chiếu vào tranh. Còn dưới sàn nhà, hình một con đại bàng hai đầu kẹp một chiếc vương miện được khảm nổi trên đá hoa cương trắng làm tôi không khỏi tò mò. Đại bàng hai đầu là biểu tượng quyền lực của đế chế Byzantine. Hình ảnh này lấy cảm hứng từ quái vật Haga trong truyền thuyết. Haga là con đại bàng hai đầu, có thể bắt được cả bò mộng bằng móng vuốt của mình, chính vì thế Haga tượng trưng cho quyền lực. Ban đầu hình ảnh này chỉ là gia huy, nhưng sau đó nhanh chóng được sử dụng rộng rãi như biểu tượng của vua chúa. Hai đầu đại bàng tượng trưng cho sự hùng mạnh của đế chế ở cả phía Tây và Đông (thời kỳ đó quyền lực đế chế này bao trùm cả châu Âu và châu Á), đồng thời cũng tượng trưng cho sự sức mạnh tinh thần và thể xác. Phải nói biểu tượng này là sự hòa quyện của tự nhiên, là sức mạnh của vũ trụ.
Không chỉ hình ảnh chạm khắc gây tò mò trong tôi, mà tôi còn bị dán mắt vào những lá bùa kỳ lạ treo dưới chân bàn thờ. Gọi đó là những lá bùa kỳ thực ra cũng không đúng, bởi chúng rất đa dạng, có thể là những bức tranh nhỏ, có thể là những bài thơ, có thể là trang sách nào đó. Người phụ nữ Hy Lạp nói rằng những lá bùa này được mang tới từ những người dân để cầu khấn một điều ước. Nếu họ muốn xây nhà thuận lợi, họ mang tới hình ảnh ngôi nhà, nếu họ muốn cầu con, họ mang tới hình ảnh những đứa trẻ. Và hay nhất là thói quen đó vẫn còn tới ngày nay, dân xứ này vẫn lên núi khi họ cần tới sự giúp đỡ của thánh thần. Tôi đã ước giá mà mình mang theo quyển “Antennas”* của Balanis, thì tôi sẽ hiến tế ngay. Saru thì ước sẽ có một tấm chồng sau khi tốt nghiệp. Và sự thật là cô nàng sắp cưới, còn tôi không trượt môn “Antennas” cho dù không để lời cầu nguyện lại đó.
* Tên viết tắt của cuốn giáo trình chuyên ngành “Antenna theory” của Constantine Balanis.
Mystras là mảnh đất tuyệt vời nhất trên xứ Hy Lạp hay ít nhất là tuyệt nhất trong những nơi tôi đã từng qua trên xứ sở thần thánh. Nơi những khoảnh khắc kỳ diệu nhất xảy ra, không phải là khi tôi đắm chìm trong lâu đài đổ nát, mà là khi tôi chạm tay vào những bông đào mới nở. Hoa đào xứ lạ đang cười gió đông. Cảm giác như trở về với Việt Nam vào những ngày giáp Tết khiến tôi gợn lòng. Năm nay, lần đầu đón Tết xa xứ, tôi đã thấy hoa đào trước cả mùa xuân.