Người ta ai cũng trải qua các giai đoạn: bé, lớn và già. Điều đó tương đương với việc: đi học, đi chợ, và đi chơi. Nhỏ thì phải học cho giỏi. Giỏi để biết cách kiếm tiền đi chợ. Đi chợ để nuôi thân và nuôi con. Con khôn lớn để nhàn nhã đi chơi. Mỗi giai đoạn chiếm 20 năm là hết cuộc đời. Đi chơi sướng, đi học cũng không khổ, chỉ có đi chợ là mệt mỏi, gian nan. Ý tôi không chỉ ở việc tham gia chợ lao động, kiếm tiền đi chợ, mà thực sự đi chợ đúng nghĩa đã là cực hình. Nay ăn món gì? Mai ăn món gì? Bố nó thích nhắm gì? Mẹ nó muốn húp canh gì? Thằng cu ăn gì thì lên cơ? Con gái ăn gì để giảm cân? Mẹ chồng liệu răng còn khỏe? Cứ thế mỗi cuộc đi chợ là một lần cân não.
Chợ, mới nghe từ đó thôi đã thấy nhộn nhạo. Từ những chợ lớn như Chợ Lớn, Đồng Xuân, cho tới những chợ nho nhỏ len lỏi theo các đường tàu, hoặc dọc cái ngõ phố Hà Nội đều có đời sống riêng, được tạo nên từ những tiếng rao hàng, mặc cả, hay số phận những con người ở đó. Như cái ngõ chợ Dịch Vọng nhỏ xíu ấy, cô Thủy bán rau, người còm cõi mới bốn mười tuổi mà như bà già sáu mươi, có ông chồng nghiện rượu, đã kịp lên chức bà ngoại vài năm rồi. Cô ốm đau liên miên, bán hàng xởi lởi ai cũng thương, cũng cho. Cạnh cô, một người đàn bà bán rau khác, hằn học, ghê gớm, có đứa con gái mười lăm tuổi bỏ nhà đi, mười bảy tuổi về trên tay bế một đứa trẻ. Còn bà hàng bún bị đau lưng kinh niên, vẫn miệt mài ngồi bán, cố gắng trả nợ cho chiếu bạc. Đấy, cái chợ nào cũng thế, những lời qua tiếng lại, những lời ong tiếng ve, ghen ghét có, mà yêu thương cũng có.
Ngày bé xíu, cậu vẫn hay đưa tôi ra chợ. Hồi đó, người yêu giờ là vợ cậu có sạp hàng ở đấy. Tôi cũng không nhớ gì nhiều, chỉ nhớ mỗi lần ra, cô hay mua bi zon zon cho ăn. Bi zon zon đựng trong gói giấy như cái phễu, cuộn từ giấy viết của học sinh, hoặc giấy báo, phảng phất mùi vanilla. Vị giòn ngon mà tới tận bây giờ còn thổn thức. Ngày xưa dì tôi cũng bán hàng ở chợ. Dì có cái sạp lagim, bán đủ thứ kim chỉ, đá lửa, phéc mơ tuya, cho tới quần áo trẻ em và đồ lót phụ nữ. Cái sạp của dì ở ngay đầu chợ Điện Biên, chỉ cần ra khỏi bãi gửi xe là thấy. Người ta muốn vào trong chợ phải đi qua cái lối hẹp hẹp, toàn mùi quần áo Trung Quốc của sạp dì và sạp bác Tuyết đối diện. Hồi đó, tôi học lớp Một ở trường tiểu học Điện Biên. Sau giờ học mà mẹ chưa đón, lại hay chạy ra chợ, ngồi đong đưa ở sạp dì, đợi mẹ tới. Dì chịu thương chịu khó mà số mãi không giàu lên được. Không giàu nhưng thảo tính, cháu chắt thích gì là lấy, tới là cho ăn, nên đến sạp hàng của dì rất thích. Tôi hay qua nên cũng biết vài người, vài bác bán lagim giống dì, vài bác bán vải may áo cho mẹ, cả bác bán bánh khoái hay mấy cô bán tôm. Trong khu chợ đấy, người ta truyền miệng nhau về những mảnh đời kỳ lạ, dang dở, và thiếu thốn.
Cuộc sống ở chợ phức tạp, nhiều mùi, nhiều vị, nhiều khi phải tránh xa.
Tôi đã gặp sự đa dạng mùi vị đó ở Grand Bazzar thuộc Istanbul. Cái Bazaar này đã hân hạnh được anh James Bond lao xe máy xuống, sụt cả trần, vỡ cả gạch lát trong bộ phim bom tấn “Sky fall”. Nếu không có anh thì Bazaar này cũng đủ lộn xộn rồi. Những hàng khăn lụa sặc sỡ, những con mắt quỷ dữ ở khắp nơi, hàng đèn hay đồ nhôm sáng lóa, hàng bán kẹo gôm thơm lừng, những hũ đựng đầy hạt dẻ, hạt hướng dương, còn trà đen, trà nhài ăm ắp chực rơi khỏi bồ. Chỉ nhìn qua chợ sẽ tưởng rằng cuộc sống ở đây sung túc lắm. Dân bán dẻo mỏ vô cùng, họ biết cách lôi kéo, tâng bốc, vuốt ve thật khéo léo. Tôi cân nhắc mãi cuối cùng vẫn bị một anh lừa mua hai cái khăn lụa cho mẹ và chị Thảo, anh khác thì lừa mua đống kẹo delights lúc thử thì ngon mà khi về mở ra toàn thấy đường cục. Nhưng bù lại tôi đã tán được anh khác bán cho đôi giày mầu hồng nhạt, xỏ dây cói thật dễ thương với cái giá đáng yêu vô cùng. Vậy là tôi có thể tung tăng tung tẩy đi khắp Bazaar. Tôi thích cuộc sống ở chợ, nó phản ánh được một phần xã hội dung thứ nó. Có vài cuốn sách có ưu ái dành riêng chỉ viết về Grand Bazaar và cuộc sống lam lũ của tiểu thương nơi đây, rất thú vị. Uống một ly trà Thổ, ăn một chút hạt khô, rồi họ uốn lưỡi vài lần để chèo kéo, thế là khu chợ cựa mình.
Cái chợ lớn này chỉ bán cho khách du lịch và người lao động. Tầng lớp cao như Godze hay em gái cô ấy thì ở Istanbul tới mười năm cũng không biết Grand Bazaar là cái gì. Cũng như chợ Khan Al Khali ở Cairo, đó là một cái nồi súp thập cẩm thú vị chứ còn gì nữa. Từ quần áo, đồ ăn, tới đồ lưu niệm đều có thể dễ dàng tìm thấy ở đây. Cùng hét giá như nhau nhưng dân Ai Cập thì khéo mồm hơn chút, khiến người ta dễ thở và dễ thích. Tôi thích những vụ trả giá cho có ấy. Không hẳn sợ mình bị thua thiệt, nhưng không trả giá thì không chịu nổi. Trả giá là cách vui vẻ, thú vị nhất để liên hệ với những con người thổ địa. Không giống như ở Việt Nam, khi trả giá luôn phải dè chừng kẻo bị chửi trước mặt, đốt vía sau lưng. Ở đây những cuộc ngã giá diễn ra thân thiện, hòa bình, đầy những nụ cười và những câu nói hóm hỉnh.
Câu đầu tiên của một anh bán hàng ở Khan Al Khali luôn là: “Em à, em tên gì? Từ đâu đến? Khách sạn ở đâu”, “À Việt Nam hả, chào mừng, chào mừng” rồi nhoẻn miệng cười thật tươi, liếc mắt qua lại rất dễ thương. Hoàn cảnh tạo nên con người. Người bán hàng dễ thương thì mình cũng tự động ngọt ngào đáp lại, như kiểu: “Cô bạn em dễ thương vậy thì anh phải giảm giá chứ” hay “Em biết anh tốt, thế thì anh giảm giá cho em đi”, “Em biết giá là phải thế, nhưng đó là cho thằng bạn em, cho em thì phải khác chứ” hoặc “Thôi bác giữ lấy mà bán, cháu xin lỗi vì đã làm tốn thời gian” rồi giả vờ ra đi, là các bác bán hàng sẽ í ới gọi lại “Để bác bán cho em”. Cứ tầm một phần tư giá là chấp nhận được rồi, cả hai sẽ cùng vui vẻ.
Đó là chợ của người Ả Rập. Chợ Ả Rập thì đâu cũng vậy, dù ở Bắc Phi hay ở Choisy le roi của Paris. Chợ của người châu Âu không co giãn như thế. Hồi đi Fizenre, chúng tôi tới chợ đồ da ở đây và chịu không trả giá được gì. Thực ra cũng có trả giá một chút cho có, nhưng người bán gần như chắc nịch với mức hét giá ban đầu. Dĩ nhiên chất lượng sản phẩm cũng an tâm và xứng đáng với giá tiền. Toscana vốn nổi tiếng với món thịt bò nướng và các đồ dùng làm từ da bò. Chúng tôi đã ăn đĩa bò 40ekg ngon lành và mua tới chục cái túi ví to nhỏ đẹp đẽ. Chợ đồ da này có đầy đủ: túi, ví, mũ, quần áo, đều từ da bò thơm lừng, sờ vào mềm cả tay. Có một anh đầu trọc, đẹp trai, cao lớn lại vui tính bán hàng rất duyên, đã giữ chân bốn đứa cả buổi. Anh nói: “Tao không phải người Ý, tao là người Fizenre thôi”.
Anh bán hàng đáng yêu ấy không chỉ bán được rất nhiều ví cho bốn đứa khù khờ mà còn kịp tán tỉnh Huyền, nháy mắt với Giang, và mời cả lũ về nhà ăn tối. Tất nhiên đó chỉ lời đường mật đầu môi. Sau này tình trạng ấy lại xảy ra với bốn đứa con gái khác (trong đó vẫn có tôi) khi tới Porto. Chợ trời Porto nằm ngay bên sông Duoro với khách hàng trung thành là nắng. Ở đó, những sạp hàng đồ thủ công mỹ nghệ và anh chàng khắc vòng tay da đã níu chân cả lũ hàng tiếng trời. Các em gái thi nhau mua vòng cho bạn, tôi với Giang thì mắc kẹt ở những hàng bán khăn, tạp dề, đồ gốm sứ và con gà trống Barcelos trứ danh. Hàng hóa ở Porto đẹp, rẻ, dễ khiến khách du lịch hài lòng, không như ở các thành phố lớn như Paris.
Nếu đi chợ trời ở Paris hay bất kỳ thành phố lớn nào ở Pháp thì bạn cũng sẽ thấy đồ ăn ở đây còn đắt hơn ở siêu thị. Hoa quả, rau xanh, sữa tươi, bánh mì hay pho mát đều của nhà trồng được, tươi ngon đặc biệt, điều mà khó có thể tìm thấy ở siêu thị nào. Vào sáng chủ nhật, khi cửa hàng cửa hiệu đều đóng cửa, người Paris tìm tới các chợ trời. Chợ trời thường được dựng rạp từ đêm trước, sáng hôm sau tầm chín giờ trở ra đã nhộn nhịp người và hàng. Chợ thường chỉ nằm dọc những con đường, không rộng mà thật dài, có khi tới một hay hai cây số.
Sạp hàng cá tươi: cá trích xanh bóng, cá hồi hồng, cá hương đốm xám, bên cạnh là tôm càng nhọn, cua biển, ốc, sò điệp được ướp lạnh trong đá. Ốc hay con sò amande về chỉ cần hấp nhẹ, thái lát cá hồi rồi chan lên hỗn hợp nước tương và dầu olive, hoặc kỳ công hơn thì mang nướng sốt cam, trong khi đợi thì cho nồi moule lên bếp với cần tây và kem tươi là thành bữa trưa cuối tuần ngon tuyệt. Quầy hải sản bé thôi mà người xếp hàng dài tới cả chục mét và mùi tanh thì lan tỏa nửa khu chợ.
Cạnh đó quầy thịt lợn hồng hồng cả thịt tươi và thịt muối. Những hũ thịt đông nấu từ sách bò hay đầu heo óng ánh dưới lớp gel. Pate, mouse và rilette tranh nhau tìm vị trí trên những lát bánh mì. Pate campagne thân thuộc với hỗn hợp lẫn giữa những miếng mỡ và gan hạt lựu, trong khi mouse thì mịn màng như kem, ăn hơi ngán, chỉ quét nhẹ lên bánh mì khô là xong bữa sáng. Rilette thì vẫn còn những thớ thịt như ruốc xen giữa, thi thoảng còn có mùi rượu nồng nồng, ví như loại Terrine làm từ thịt lợn rừng Sanglier hay thỏ.
Những quầy này còn có mật ong và pho mát đủ loại. Pho mát đông cứng, to như bánh xe, có lỗ như pho mát trong phim “Tom và Jerry”, được cắt thành miếng vuông vắn. Pho mát tươi còn ngâm trong nước như đậu phụ. Pho mát dê nồng, pho mát brie để nướng, pho mát dạng kem mềm, pho mát có nấm xanh bên trong, pho mát có mốc đen bên ngoài, nhìn đã thấy vị béo ngậy trên bề mặt răng. Còn mật ong thì đủ màu, tùy thuộc vào từng loại hoa mà mật sẽ đặc như kem hay lỏng như siro. Tôi thích mật màu vàng nhẹ, đặc như kem của loại hoa li ti gì đó màu tím như oải hương, khi về pha với nước nóng và chanh thì ngon tuyệt.
Nói về mật ong, lại phải nói tới mứt, cũng được đựng trong những hũ thủy tinh nhỏ, ở ngoài dán giấy trắng, tên viết tay. Mứt cũng đa dạng, mứt quả mâm xôi, mơ, đào, dâu tây, quả vả, những quả rừng tí hin và hay nhất là quả cây Rhubarb, một loại cây thân xốp, lá như lá cải, có vị chua nhưng làm mứt thì ngọt lịm. Loại mứt này chị Thảo phải lùng mua ở chợ Bayeux trên Normandy mới có. Mứt đủ màu sắc, chen chúc trên những bàn gỗ xinh xắn.
Bên cạnh là gian rau củ đẹp mắt, tất cả tươi rói, cam, vàng, xanh xen lẫn. Người bán luôn tay luôn chân, chào mời, nếm thử, cân đong, đóng túi. Dâu tây của Pháp có đến chục loại, dâu rừng, dâu mâm xôi, dâu Charlotte, nhỏ xíu, bóng bẩy, đỏ rực, mọng lên, ngửi mùi vừa ngọt vừa thơm mát. Anh Eric dẫn tôi vào một sạp. Bà bán hàng dễ thương mời ăn thử thứ dâu nhỏ mà ngọt lịm ấy. Anh Eric mê quá mua về ăn với Chantilly. Những người phụ nữ khác, họ còn mua về làm bánh, làm mứt. Con bé con trong đoàn sà vào hàng hoa bên cạnh, đang được bà bán hàng cưng nựng.
Hoa đa sắc trong những xô chậu hay bó giấy. Mùa xuân mang tới tulip bảy màu, đồng tiền nhiều cánh, loa kèn chúm nụ, cúc đóa lớn, ly thơm, ớt đỏ, những cây hoa li ti tím hoặc xanh nhạt, những giỏ thường xuân và dương xỉ xanh mướt. Hoa ở chợ thường tươi và rẻ hơn trong tiệm hoa, mọi người thích tới sớm để kiếm những bụi cẩm tú cầu chưa bị nhầu cánh.
Có mùi thơm ngạt ngào của gà nướng lá thơm, mỡ ri rỉ chảy xuống đám khoai tây bi bên dưới. Hàng bên cạnh là những chảo to rán nem hoặc samosa ngây ngấy. Đồ ăn từ chín đến sống đều ngon mắt, thơm mũi. Quần áo, giày dép, ngay cả thảm và bàn ghế cũng có. Chợ trời thường cố định họp một tuần hai buổi sáng, mang những vẻ đẹp của thôn quê lên thành phố. Vào mùa hè tôi hay đi chợ trời để mua cherry, chợ ở đường Auguste Blanqui hoặc Avenue d’Italie. Cherry lúc đó vào mùa, đỏ mọng, ngọt lịm, căng bóng, nên mua ở chợ rẻ hơn siêu thị. Nhất là chợ trời Palazzo của Torino, cherry hay cam, táo cũng chỉ một 1ekg. Rau củ hay thịt ở đây đều rẻ, nên cứ thứ bảy, sinh viên thi nhau kéo xe tới mang về rau xanh cho cả tuần. Chợ thì thích thật đấy, nhưng mỗi chiều tan chợ, mùi hôi lại bốc lên nồng cả đường xe điện và phía lâu đài cổ của cố đô Savoie.
Chợ trời Paris còn có chợ đồ cũ và đồ cổ. Nổi tiếng thì có chợ ở Saint-Ouen, Vanves, Clignancourt hay Popincourt, còn hầu như ở khu vực nào cũng có những chợ đồ cổ và đồ cũ riêng. Những khu chợ này cũng đông vui nhộn nhịp như khu chợ đồ cũ bên ngoài Rome, mà có lần tôi, Giang, em Ngọc Anh đã không ngại khó để tới. Chợ Brocante này bán từ những thứ lớn như ti vi, tủ lạnh, tới những thứ tin hin như bông tai. Chợ thường có những đồ khác biệt: nhạc cụ cũ, đồ dùng cũ, đồng hồ, hay quần áo cũ, mà khó có thể kiếm được ở những cửa hiệu mới. Dĩ nhiên đồ cũ thì rẻ còn đồ cổ thì đắt. Giang có thể kiếm được cái túi chỉ 2 euros nhưng người khác cũng có thể mua một cái đồng hồ với giá 100 euros.
Chợ, phải đi chợ. Không phải siêu thị mà phải chợ, bạn mới thấy được cuộc sống đa dạng, phong phú, cơ cực mà vui nhộn trù phú của cái thành phố bao bọc nó.