Poros - một hòn đảo rất được.
Từ khi bắt đầu hành trình Hy Lạp, tôi đã nói với Pierre: “Dù có chết, tôi cũng muốn tới đảo”. Trong khi những hòn đảo xinh đẹp to lớn đều hoang vắng vào đợt này, chúng tôi chẳng dám liều mình bắt máy bay tới để phải ngủ ngoài trời. Cả lũ quyết định ghé vào Poros - một hòn đảo nhỏ cực kỳ xinh đẹp trên con đường dọc Peloponese. Phải nói đó là một hòn đảo rất được, xứng đáng là nơi thờ thần Poseidon vĩ đại.
Dừng xe ở Galata, tôi và Saru tiếp tục gà gật trong xe, còn ba anh chàng của chúng tôi băng qua đêm tối tìm nhà trọ. Bên ngoài lúc này trời lạnh cắt da cắt thịt, tôi sợ cái cảm giác ở trong đêm lạnh mà không biết đâu là đường về nhà, thế nên tôi cứ ru rú trong chiếc xe Ford để đợi tin. Sau một hồi chạy ngược xuôi, chúng tôi cũng tìm ra nhà nghỉ như trong “Lonely planet” gợi ý. Đêm đã điểm hồi chuông thứ chín khi chúng tôi an vị trong căn nhà nghỉ ấm áp.
Sau một chuyến du ngoạn ngắn dọc bờ biển đêm, chúng tôi tạt vào một quán Kebab nhỏ bên đường. Quán nhỏ xinh, nhưng ấm nóng với các lò nướng thịt bò, thịt gà, và lợn đang hoạt động hết công suất. Hương thơm tràn ngập không gian nhỏ bé, át cả mùi mặn nồng của biển đêm. Kebab là món ăn thông dụng và dễ tìm bậc nhất ở Hy Lạp. Thế nên chúng cũng trở thành bạn đồng hành ngọt ngào nhất của chúng tôi trong chuỗi ngày rong ruổi này.
Món Kebab đặc sắc nhất của Hy Lạp gọi là Pitta Girop. Sự hòa quyện ngọt ngào của thứ nước sốt béo làm từ mayonnaise, cùng bột ớt, rau củ và thịt nướng thơm lừng, được cuốn tròn trong những chiếc vỏ bánh giống Tortilla* , làm cho Pitta nơi đây mê đắm lòng người. Lúc nào đi qua những gian hàng này, tôi cũng thèm muốn cồn cào, háo hức những miếng đầu tiên, để rồi không bao giờ hoàn thành phần ăn của mình. Trong khi đó Arnab đang hoàn thành cái thứ hai, và Pierre thì đang liếc sang cái Pitta dở của tôi với ý: “Để tôi ăn giúp”. Arnab vẫn bảo: “Thật tuyệt khi có những kẻ đồng hành là dân Bỉ, họ vừa dẫn đường, vừa làm lái xe, lại có thể xử nốt đống thức ăn thừa bất cứ lúc nào”. Pierre là mẫu hình hoàn hảo như thế.
* Tortilla là một loại bánh mì dạng dẹt được làm từ bột bắp hoặc bột mì có xuất xứ từ Mexico và các nước Nam Mỹ.
Trời về khuya càng lúc càng lạnh, cái thú vục biển đêm không thể chiều theo được. Chúng tôi khoác vai nhau đi tìm hàng café để kiếm chút chocolate nóng ngọt ngào. Nhưng giờ này, xó tỉnh lẻ như Galata dường như đã an giấc. Chúng tôi ngược trở về nhà nghỉ trong tình trạng lạnh cóng tay và mũi đỏ hoe. Tôi ước giá mà có rượu nóng ở hội chợ Noel để uống thì tuyệt biết mấy. Và tôi đã ngủ trong giấc mơ thấm đượm vị thơm nồng của vin.
Binh minh xám bạc nơi chân trời khi chúng tôi tỉnh giấc. Khoác vội chiếc áo khoác, tôi ra lan can bắt ánh nắng của ngày sắp mới. Biển sớm mang vị nồng mặn và hơi tanh tao. Biển Aegean lúc nào cũng nổi tiếng vì màu trong xanh vô tận của mình. Khỏa tay vào làn nước, tôi cứ sợ mình đang phá đám sự an bình của những đàn cá. Chúng thủng thẳng bơi lội, nhẹ nhàng quẫy những cái đuôi xinh như chọc tức kẻ quan sát. Tuy cá bơi nhưng mặt biển rất tĩnh. Cả khối nước đông lại như thạch, một loại thạch trong suốt ngọt lành và mát lạnh. Chỉ khi tàu thuyền neo đậu bắt đầu rục rịch tỉnh giấc, những dao động nhẹ rất nhẹ bắt đầu lan tỏa, nhịp nhàng như tiếng đàn T’rưng loang trong không gian. Thánh thót và dịu dàng, mặt biển xao động, làm những con thuyền cũng nhấp nhô theo. Cô đơn quá con thuyền buổi sớm. Đứng đó bơ vơ, phủ trên mình một màu xanh trắng hoặc xanh vàng, thuyền nơi đây nhỏ xíu như những chiếc ca nô rung rinh rung rinh.
Những con thuyền bắt đầu mở lòng đón các vị khách du lịch tới thăm Poros. Tôi cứ băn khoăn không biết có nên lên thuyền đến đảo không. Vì từ phía Galata, đảo Poros hiện ra thật đẹp. Những tòa nhà đặc trưng hai màu xanh trắng của Hy Lạp lấp ló sau những tán cây. Cả hòn đảo nhỏ xíu như một mô hình đồ chơi, nhưng thật hơn những gì thật nhất. Tôi cứ sợ lỡ mình chạm chân đến đấy, thấy một hòn đảo xấu xí thì phải làm sao? Nhưng theo chân các chiến hữu tôi vẫn lên tàu và chạm tới Poros chỉ sau mười phút.
Giữa muôn vàn đảo ở Hy Lạp, tôi nghĩ Poros là hòn đảo nhỏ nhất. Với diện tích nhỏ bé chứa khoảng bốn nghìn cư dân, lại rất gần Athina, đây là nơi nghỉ dưỡng cuối tuần tuyệt hảo cho dân thủ đô. Nếu đi theo đường cá bơi thì chỉ mất khoảng hai tiếng đồng hồ từ Athina tới đây, nhưng đi theo đường “cá sắt” như chúng tôi thì mất hai ngày liền, thật oan uổng. Nhưng cứ chạm chân lên Poros là chúng tôi không thấy ấm ức chút nào. Poros xứng danh là điểm giao thoa văn hóa, tinh thần của dân Athina và dân Peloponese.
Poros nhấp nhô với những dãy nhà xây dọc sườn núi. Những ngôi nhà màu trắng, sơn xanh đặc trưng của đảo Hy Lạp nổi bật trên nền trời xanh nhẹ. Ai đã từng xem “Mama mia”, hay từng ngắm những bức tranh về Santorini sẽ không khỏi sung sướng khi tận mắt chiêm ngưỡng những ngôi nhà hài hòa nơi đây. Những bậc thang trắng hân hoan, len lỏi giữa những dãy nhà, uốn éo theo từng hàng hoa rực rỡ đưa chân khách lên tới đỉnh của Poros, nơi ngự trị tháp đồng hồ lâu đời - biểu tượng của đảo.
Tháp đồng hồ cũng đồng bộ với tông màu của đảo, xanh và trắng, vươn lên như một ngọn hải đăng, giúp tàu bè có thể nhìn thấy Poros từ xa. Quanh chân tháp, những con mèo hoang nhàn nhã đang tụ tập, con thì sưởi nắng, con thì nấp trong các bụi rậm, chỉ chực nhảy ra để hù dọa kẻ yếu tim. Alex suýt chút nữa thì hét lên vì đang ngồi thì bị một con mèo béo núc ních “tấn công”. Những con mèo nơi đây thân thiện, đáng yêu, cứ tha thẩn ăn chơi không chút sợ hãi con người. Kỳ lạ là ở Athina chó chạy đầy đường, nhưng ở Poros mèo lại làm bá chủ.
Ở trên đỉnh của Poros, tôi có cảm giác mình là Gulliver lạc vào thành phố tí hon. Những ngôi nhà nhỏ bé, ngói đỏ chen chúc nhau, như khẽ búng tay là tôi có thể tốc mái bất kỳ căn nhà nào. Cảnh vật quả thật kỳ diệu, gió biển lào xào như cuốn tôi về với những giấc mơ ngày nhỏ, khi tôi còn cắm cúi đọc Doremon và ao ước bước chân qua cánh cổng thần kỳ để vào thế giới tí hon. Ngày đấy tôi còn nghĩ biết đâu có thế giới kỳ lạ như thế thật, tôi đi trên mặt đất mà còn ko dám đi mạnh, sợ rằng sẽ giẫm nát những người tí hon. Tôi còn tưởng tượng có những kẻ khổng lồ ngoài vũ trụ bao la kia, họ coi trái đất như cái hộp đựng tiền xu, và hằng ngày khi thả xu vào đấy, họ sẽ nhìn thấy tôi. Ôi thật sự là tôi đã tưởng tượng ra những điều kỳ quái như thế đấy. May mắn Saru và Alex đã lôi tôi ra khỏi đầm lầy mơ mộng.
Chúng tôi men theo những cầu thang nhỏ, xuống khỏi những dãy nhà nhấp nhô, và bắt gặp Arnab cùng Pierre đang nhâm nhi café sáng trong một quán nhỏ ven biển. Tôi cũng lao ngay vào để thưởng thức một chút bánh táo cùng thứ nước cam tinh khiết ngon tuyệt trên đảo. Alex đang quanh quẩn với một con mèo béo ú, hình như nó có ý định nhăm nhe cái bánh nhân cheese của cậu chàng. Arnab và Pierre vẫn tiếp tục hàn huyên những chuyện trên trời dưới biển về nước Đức. Tôi ngồi mơ màng nhìn ra biển. Có cái gì đó sâu thẳm từ biển, cứ như hút lấy rồi nuốt chửng cả trí tưởng tượng và sự mộng mơ của tôi. Tôi ngồi mà đầu óc trống rỗng, chỉ đơn giản là nhìn. Saru chọc: “Đang mơ có hoàng tử đến à?”. Tôi cười sặc sụa, tôi chưa bao giờ là con nhóc ngồi đợi cánh buồm đỏ thắm. Cuộc đời này có làm gì có hoàng tử để mộng mơ, ngay cả khi tôi đã từng đặt chân lên hòn đảo mang tên Hoàng Tử.
Không tìm hoàng tử ở đảo Hoàng Tử
Đặt chân tới Istanbul lúc nửa đêm, thấy Istanbul thở gấp gáp như người bệnh thiếu oxy, mệt mỏi. Đèn đường sáng trưng, đèn xe sáng loáng, bóng người chập choạng, liên mạch liên hồi. Tôi không thấy Istanbul giản đơn chỉ đen và trắng như trong cuốn sách “Istanbul - Hồi ức và thành phố” của tác giả Orhan Pamuk. Với tôi, Istanbul đa sắc và nhộn nhạo. Nằm giữa hai lục địa Âu Á, thành phố này gồm ba phần đất liền tách biệt: phần Tây Âu, Đông Âu và phần châu Á hay vẫn gọi là Anatolian, ngoài ra còn vô số đảo lớn bé, như hệ thống bảy đảo Hoàng Tử.
Lên tàu từ Beşiktaş, sau khoảng bốn mươi lăm phút dập dềnh thì chúng tôi cập đảo lớn nhất Buyukada.
Phần lớn đảo được đồi thông xanh rì rào che phủ. Trên cao có tiếng nhảy cầu, phía dưới có tiếng trẻ em cười đùa í ới. Lên đảo Hoàng Tử, cô gái nào cũng mua vòng hoa đội đầu làm công chúa duyên dáng. Tôi thuê xe đạp chạy lòng vòng lên trên xuống dưới, vào rừng, ghé biển, gió mát thấu tim gan. Người cho thuê xe bảo: “Mày Việt Nam nên tao mới cho thuê giá 3 eurosngày đấy”, tôi hí hửng, dân ở đây có vẻ thích người Việt, cũng đưa tay lên pằng pằng kiểu Rambo, họ khoái chí lắm. Sau tôi mới biết đó là giá thuê chung của cả đảo.
Đảo Buyukada có phần giống Đà Lạt với những đồi thông, xe ngựa ngược xuôi, bóng mát hiền hòa, những cô gái nhẹ nhàng dạo bước. Tôi đạp xe lên xuống, hòa vào các nhóm người khác nhau, lượn vòng quanh, lúc khoan thai, khi vội vàng bởi đôi lần tưởng như bị lạc đường ở một góc cua nào đó. Trưa đó tôi ăn món Kumpir thật ngon với khoai tây nướng trộn cùng đậu Hà Lan, pho mát sợi, xúc xích, ngô ngọt và nhiều thứ linh tinh khác cùng một chai bia Efes.
Biển Marmare xanh ngắt, sóng sánh, ngửi chẳng thấy vị mặn mòi. Tháng Bảy, nắng như đổ lửa, mồ hôi rịn kẽ tay, tôi đạp ra gờ đá, nhìn người ta bơi lội, thưởng thức dưa hấu và biển. Nước vây quanh tứ bề tôi chỉ thèm lao xuống, nhưng nước sâu như lòng người nên tôi lại chẳng dám bơi. Bãi biển lúc này đầy người, những xe ngô luộc, xe chở hoa quả ngâm muối giống như dưa muối hay cà mua và hải âu chen chúc trên đó. Hải âu nhiều vô kể, tung cánh trong ánh chiều đẹp ngỡ ngàng. Nhìn những cánh chim nhỏ bé trên bầu trời thênh thênh, mặt nước dềnh dàng thuyền xe tấp nập, mới thấy hết sự bao la của biển cả.
Đảo Hoàng Tử làm tôi mệt nhoài tới mức ngủ một giấc trên tàu rồi trở về Istanbul trong tiếng hát trong trẻo và khỏe khoắn của cô bé người Thổ. Cuối cùng tôi bò về đất liền, vẫn nguyên vòng hoa cài đầu mà chẳng tìm được chàng hoàng tử nào. Bởi đâu đó trong tiềm thức tôi, đảo gắn liền với sự chia ly hơn là gặp gỡ.
Capri, c’est fini
Đó là tên một bài hát tiếng Pháp rất nổi tiếng. Bài hát về hòn đảo Capri nhỏ bé gần Napoli rộng lớn. Hòn đảo ấy tôi đã đến vào một ngày hơi mưa sau chuyến tàu nhỏ từ Napoli xô bồ.
“Nous n’irons plus jamais,
Où tu m’as dit je t’aime”
Em tôi đã ngân nga những câu hát này trên hòn đảo nhỏ.
“Capri, nơi chúng ta không bao giờ còn ở bên nhau dù là nơi mà em đã nói em yêu tôi”.
Bài hát ấy sao mà day dứt thế. Capri là nơi bắt đầu tình yêu, nhưng cũng là dấu chấm hết. Nó đã đặt dấu chấm đẹp cho cuộc hành trình đi vào lòng nước Ý của tôi.
Hòn đảo ấy bé nhỏ và dễ thương lắm, tôi yêu nó vô cùng. Tôi và em trai đã men theo những con đường gạch nhỏ xíu hun hút bất tận, qua những khung cửa xanh lam, những góc vườn xanh mướt để đến trung tâm đảo. Nhà cửa nơi đây xinh xắn vô cùng với những biển tên bằng gốm sứ đầy màu sắc và bao quanh là những vườn cam chanh vàng ươm. Từ trên cao, người ta sẽ bị hút mắt trước nước biển xanh thẫm, trước những con tàu trắng xa xa. Tôi yêu biển, cánh buồm và ước mơ mình làm hải âu, dù xưa kia tôi sợ nước điên cuồng, chỉ vì không biết bơi. Tôi tung tăng dọc ngang đảo, thấy hạnh phúc tràn ngập. Tôi nghĩ nếu muốn kiếm tìm sự lãng mạn, phải đến Capri. Capri mang cho sự thân thiện, hồn nhiên hơn nhiều hòn đảo đẹp như Murano hay Burano của Venezia. Thật sự, nếu Napoli là địa ngục tối tăm thì Capri là thiên đường ánh sáng. Có những thứ trái nghịch mà có thể đứng cạnh nhau hài hòa tới thế, cũng giống như sự hài hòa của âm dương.
Capri một ngày mưa phùn ngọt ngào, giá mà có chút rượu vang nóng nữa thì thật tuyệt vời.
Bỏ đi sự đổ nát, lạo nhạo, bẩn thỉu, đáng thất vọng của Athina để tới Poros, bỏ đi mùi hôi nồng của rác, của những con phố nhỏ bé ẩm thấp, những dãy quần áo phơi dọc ngang của Napoli để tới Capri, và bỏ đi sự đa dạng, phức tạp, nóng nực của Istanbul để tới đảo Hoàng Tử. Những hòn đảo nhỏ, cạnh những thành phố lớn là sự trốn tránh hiện thực tuyệt vời hoặc là sự tận hưởng cuộc sống đúng nghĩa nhất.