Thật ngốc khi nói rằng tôi thích những ngày trời như thế này: nhiều lúc nắng vàng đậm, trời xanh thẫm, đôi khi trở xám, mây dày đặc, tưởng chừng như sẽ đổ ập xuống bất cứ khi nào. Cánh đồng bị đè nặng bởi khối bông gòn lớn, nén lại tới nghẹn thở. Chiếc xe ô tô chỉ là một cái chấm đen bé xíu, trôi giữa không gian xám đặc, u ám của một ngày gần như mưa. Những ngày này, trời ẩm ương, lúc nắng lúc mây, lúc ấm lúc lạnh, chả có gì thú vị nhưng nếu bạn đang trên một chiếc ô tô chạy ngang Thụy Sĩ, bên hông là cánh đồng hoa cải vàng rực rỡ thì quả là tuyệt vời. Tôi đang ngồi trên xe, nhâm nhi ly cà phê to bự (do chú lái xe pha) và đọc cuốn “Au coeur des Amériques” - “Từ trái tim châu Mỹ” (do chú lái xe cho mượn). Nghe thật kỳ quặc, giống như chú lái xe có tất cả mọi thứ vậy.
“Ôi trời, mình tôi với bốn quý cô à”, chú lái xe đã thốt lên như thế khi trước mặt là bốn cô gái không xinh đẹp. Ngày đầu tháng Năm, tôi leo lên xe của một người xa lạ. Ở Pháp, co-voiturage - hình thức đi chung xe rất phổ biến, vì giá phải chăng, được gặp gỡ những người xa lạ, thú vị vô cùng. Một chị gái thừa cân cấp độ một, xinh đẹp, ăn vận thời thượng với quần skinny, áo sequin lấp lánh được ưu tiên ngồi cạnh vô lăng. Tôi ngồi dưới, rúm ró bên người đàn bà trắng rớt, ăn vận đen tuyền, theo kiểu hippi hoặc grunge, thoảng mùi hương nồng nồng nhưng dễ chịu. Phía bên kia, một chị gái đầu tóc bù xù, mặc áo len cũng xù sờn cả lên, quần công nhân, đeo bóp ở thắp lưng, thô ráp không ăn nhập với đôi giày cao gót tí xíu. Một gương mặt xinh nhưng gu thời trang kỳ quặc. Tôi ngắn ngủn mũm mĩm, tự coi mình là đứa trẻ con giữa đoàn người.
Chuyến xe lao vun vút qua đất nước đồng hồ từ Lausanne, qua Geneve, Dijon để tới Paris. Mây gòn thành bông, lơ lửng trên những ngọn núi bạc đầu. Đàn bò sữa, bò vàng nhởn nhơ gặm cỏ bên những ngôi nhà gỗ nhỏ. Bé Heidi ở đâu rồi nhỉ? Tôi thấy hoa vàng, hoa trắng li ti trên cỏ xanh và hạt bồ công anh lơ lửng trong không khí. Nông trại nào đó có hàng rào trắng và hoa táo cũng trắng. Từng lúa mì mới mọc xanh rì, chạy bên dải hoa cải dầu vàng rực. Mùa xuân đấy, rõ ràng là mùa xuân, dù không có chim én, chỉ có chim sâu đang chinh chích ở những bãi đá ở hồ Léman. Hồ Léman vào xuân xanh lắm, xanh lững lờ dưới dải sương sớm mai và bàng bạc trong chiều tà. Tôi vẫn nhớ hoàng hôn ở đây, dù giờ đang ngồi trên ô tô, đang lơ mơ ngủ gục.
Đấy, thì như tôi đã kể, chú lái xe rất tuyệt. Ở trạm dừng xe đầu tiên, chú pha cà phê rồi lôi ra đống sách đưa cho ba chị gái, còn tôi, chị cuối lúc ấy đang ở nhà vệ sinh hoặc siêu thị nào đó. Chú nói gì tôi chẳng biết, chỉ biết khi lên xe thì họ truyền tay nhau đọc ba quyển sách của Jamel Bahli.
“Chúng ta giống như mấy đứa trẻ ngồi xem tranh vậy”, người đàn bà hippi kế bên tôi cười giòn tan khi lật cuốn sách ảnh “Si lointains, si proches” (Khi xa, khi gần), rồi vứt cho tôi quyển sách cũng nhiều ảnh không kém, tầm 300 trang với duy nhất một trang ảnh “Au coeur des Amériques” (Từ trái tim châu Mỹ). Bên kia chị công nhân đang đọc “Un thé a Shanghai” (Một tách trà ở Thượng Hải). Tôi với cái dạ dày bé nhất nên được ưu tiên mang cốc cà phê dở lên xe uống tiếp. Tôi nhâm nhi cà phê và bắt đầu đọc lời tựa.
“Mọi chuyện bắt đầu từ cái chết của một thanh niên ở nước Mỹ”, chết vì dùng thuốc phiện quá liều. Ở Mỹ, cứ 30 giây có một người chết, 24 giây có một kẻ ra đời, 20 giây có một người nhập cư, 20 giây có một kẻ định cư (trích từ sách, theo trí nhớ tạm bợ của tôi). Vùng đất này mọi người tìm tới, khám phá, xây dựng cho mình một thứ gọi là Giấc mơ Mỹ. Có là giấc mơ không? Khi những người trẻ tuổi tìm tới thuốc phiện, nhiều kẻ tự tử, cảnh sát đầy đường, bạo lực và người dân mang súng trong người? Jamel muốn ra đi, trốn chạy khỏi cái giấc mơ ấy.
Thực chất Jamel đã chạy, đã chạy rất nhiều trước đó, đầu tiên là vì người bạn bảo: “Tới Thượng Hải dùng trà với tôi nhé”, thế là ông lên đường, bắt đầu từ trung tâm của nước Pháp - Nhà thờ Đức bà Paris.
Sau này khi kể cho thầy giáo về Jamel, thầy bảo: Ý nghĩa của việc chạy này là một hình thức tìm về sự giản đơn. Con người luôn cố gắng đi từ xe đạp lên xe máy, lên ô tô. Đến khi có ô tô thì họ tự hỏi: “Mình muốn có ô tô để làm gì?”. Sự tiến hóa của vật chất đâm ra dư thừa, khi dư thừa người ta sẽ nhàm chán. Thuốc phiện hay tự tử là một điều tất yếu. Nước Mỹ là thế”. David Herz, ông thầy người Mỹ của tôi nói, rồi lôi ra cuốn sách của một vị Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng từ những năm 1973, cùng chung ý tưởng. Trong đầu tôi, hình ảnh chín triệu chiếc xe đạp ở Bắc Kinh (Nine million bicycles) trong bài hát của Katti Melua hiện lên. Khi người Mỹ gắn với ô tô, người Trung Quốc đang đi về phía xe đạp. Tôi đang ngồi ở sảnh trường, uống cà phê ở Paris mà hiểu sâu hơn về ly trà Thượng Hải. Rõ ràng Jamel chạy không phải vì ly trà.
Jamel muốn tìm ý nghĩa cuộc sống. Jamel yêu tôn giáo, yêu tất cả. Ông từng hôn tay giáo hoàng, được ngủ trong nhà của Abraham, leo tới Tây Tạng, nhưng vẫn không hiểu ra thế là nào ý niệm tuyệt nhất (tuyệt đối và duy nhất) hay thế nào là giới cao? Khi trẻ, Jamel nghĩ mỗi người có một vũ trụ, họ là tâm điểm trong đó. Tôi hiểu điều này thành mỗi người một nhân sinh quan. Khi không còn trẻ, Jamel muốn thoát khỏi vũ trụ của mình, khám phá nhân sinh quan của người khác. Ông quyết định chạy, chạy từ Paris tới Thượng Hải, chạy dọc châu Mỹ, châu Phi. Ông gặp những câu chuyện, những cuộc đời. Có thể là những ngôi làng bị bỏ hoang ở Alaska, những kẻ đào vàng một thời, những con người chạy trốn vào rừng sâu, săn thú để sống.
Khi ta sống một mình, giữa tám tỉ người hoặc hơn trên thế giới, thì ai cũng cô đơn và bị cô lập cả. Để tự chủ hơn, một số người vẽ ra một vòng tròn, chui vào đó ngồi, tìm cách cô lập chính mình trước, cũng là cô lập cái thế giới ngoài kia. Một cách sống mới rất tuyệt nếu họ tìm thấy sự tự tại trong đó. Khi đọc “Suối nguồn” tôi bị ảnh hưởng bởi cách sống “đừng bao giờ để mình bị phụ thuộc vào ai quá nhiều, nếu đủ nhiều nên dứt ra, bởi nhiều quá khi bị bỏ rơi sẽ không sống nổi” và “cách trả thù cuộc đời tốt nhất chính là hành hạ bản thân mình”. Ở sách của Jamel, tôi thấy vài con người biệt lập có cách suy nghĩ thú vị như thế. Chắc chắn không phải là Jamel, người luôn lăn lóc trên đường để tìm thấy bản ngã của mình và của thế giới.
Thú vị thật nhưng tôi đọc xong 20 trang thì lăn ra ngủ. Trong cơn mơ tôi cứ vang vọng “Khúc thụy du”, dù trên đời này chẳng ai nợ ai cái gì. Có lẽ do bị Dương, cô bạn chủ nhà của tôi ở Lausanne đầu độc các đêm trước, hoặc do cái thứ nhạc rất Trung Quốc đang vang lên từ trong xe.
“Nhạc Trung Quốc sao?”, tôi bật dậy khỏi giấc mơ.
“Không, tao nghĩ là nhạc Việt”, chú lái xe quay lại.
“Tôi người Việt mà, không phải đâu”.
“Vậy có lẽ nhạc Nhật”, mái đầu muối tiêu nhún vai.
“Cuốn sách này hay thật đấy”, tôi nói vọng lên. Quả thật tôi thấy nó tuyệt cú mèo. Cách viết văn hay tuyệt (hoa mỹ mà đủ dễ hiểu cho đứa cà tàng tiếng Pháp) và cả ý nghĩa độc đáo. Chú lái xe chẳng có động thái gì đồng tình. “Làm bộ”, tôi nghĩ chú ta phải mê mệt tác giả lắm mới có một đống sách như thế ấy chứ. Tôi ngó lơ ra ngoài cửa sổ, quăng tâm thức lên một khối mây nào đó, mải mê với những ý nghĩ không đâu.
Ở trạm dừng tiếp theo, chúng tôi lại xuống, lại uống cà phê. Ba chị gái lại chuyện trò sôi nổi. Tôi chịu, vì tôi chẳng giỏi tiếng Pháp. Chú lái xe với thứ tiếng Anh như dân Mỹ, quay sang hỏi chuyện. Chúng tôi nói vài câu xã giao.
“Chú làm gì ở Lausanne vậy?”.
“Tôi tới trình diễn ảnh của mình. Tôi làm nhiếp ảnh mà”.
“Ôi, tuyệt hảo. Mái đầu muối tiêu lại nhún vai rồi quay sang tiếp chuyện ba chị gái.
Rong ruổi trên xe, chụp ảnh, trình diễn, cách chú ấy pha cà phê, rửa cốc, đổ xăng, bơm lốp, cả mái đầu muối tiêu và cái cổ sẹo thật sự làm tôi ngất ngây. Nếu Francesca ở Bari bị gục đổ trước một chàng nhiếp ảnh trong Những cây cầu ở quận Madison thì ở đây cũng có con nhóc vần a ở Paris bị cảm phục một lão làng nhiếp ảnh.
“Có ảnh con trai tôi trong bức ảnh ở Syrie đấy. Thỉnh thoảng tôi cũng mang nó đi du lịch cùng”, chú ấy khoe khi chúng tôi bắt đầu lại hành trình. “Lúc đó nó lên ba”, chú cười tươi rói.
Tôi ngó vào quyển “Si lointains, si proches”, thằng nhóc mới dễ thương làm sao. Nó đang cảm nhận gió giữa đồng hoa, giống như August Rush đắm chìm trong bản giao hưởng thiên nhiên của mình. Tôi ngó lên nửa khuôn mặt người lái xe gân guốc mà thân quen. Trong một bức ảnh về hành trình của Jamel, có bức ảnh ông chụp cùng giáo hoàng, cũng nửa khuôn mặt ấy. Đấy, tôi đủ ngu ngốc để không nhận ra rằng mình đang được người đầu tiên chạy liên lục địa Á Âu chở đi. Con người đã vượt 25.000km dọc nước Mỹ tìm cho ra ý nghĩa của cuộc sống ở xứ giấc mơ, con người đã vượt 80.000km để uống một tách trà ở Thượng Hải, đã đi qua 186 nước, chạy hơn 280.000km trong cuộc đời, người đó đang lái xe và kể chuyện cho chúng tôi về những chuyến đi.
Tôi nghĩ chắc chú ấy phải thích thú khi thấy khuôn mặt há hốc của tôi qua gương chiếu (lần đầu từ lúc lên xe, mồm há hốc không phải để ngủ). “Bây giờ tôi vẫn chạy, một tháng tôi dành 10 ngày cho du lịch, 20 ngày cho gia đình”. Tôi ngẩn ngơ, người mà tiếng trước còn đang trong sách, còn đang lên giây cót vô hình cho mình, đang ngồi ngay đây. Trời ạ, cuộc đời này thú vị thật. “Tôi thích người đi xe cùng gọi điện cho mình đặt chỗ, tôi có thể nghe giọng nói và biết mình sẽ đi cùng ai”, ngay cả cách suy nghĩ của chú ấy cũng thú vị.
Jamel, những quyển sách, chiếc ô tô cà tàng này nữa làm tôi thấy yêu hơn những chuyến rong ruổi của mình. Tôi thật sự lại muốn đi, đi thêm, đi mãi. Tuổi trẻ phải sống thật giản đơn và vui vẻ. Tôi nhìn ra bên ngoài, nắng quá, mây quá, đẹp quá. Hoa chuông linh lan có lẽ đang tỏa hương giữa độ tháng Năm. Tôi, chú ấy, họ, đều đặt trái tim trên những con đường. Những con đường chạy dọc, chạy ngang, qua núi đồi trơ đá, qua những ngôi làng bé nhỏ, qua những thảo nguyên xanh, qua những rừng cây non mọc. Tôi biết rằng trên đời có một điều luôn luôn đúng “Chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”. Goethe à, trong cuộc đời đầy hy vọng này, trái tim tôi, xin cứ mãi lăn trên con đường.
“Khi tình đã vội quên, tim lăn trên đường mòn
Trên giọt máu cuồng điên, con chim đứng lặng câm
Khi về trong mùa đông, tay rong rêu muộn màng.
Thôi chờ những rạng đông”.
(Trịnh Công Sơn)
Lausanne - Paris, 1/5/2012