Các bạn nói “Ý”, tôi kêu “Nhà thờ”;
”Pháp” - “Tiệm bánh mì”;
”Bỉ” - “Louvain la neuve”;
”Đức” - “Bia”;
”Hy Lạp” - “Pierre”;
”Thổ Nhĩ Kỳ” - “Kumpir”;
”Tây Ban Nha” - “Gaudi”;
Thế “Bồ Đào Nha”, à “quý ông”.
Đơn giản đó là ý nghĩ đầu tiên bật lên trong đầu khi nghe về những đất nước này. Ở Ý có nhà thờ, Pháp có bánh mì, Đức có bia, Tây Ban Nha của Gaudi hộ mệnh* , ở Hy Lạp có quá nhiều thứ để nhớ, nhưng ấn tượng nhất là sự ẩm ương của thằng bạn Pierre. Thổ Nhĩ Kỳ, tôi kết nổ mắt món khoai tây nhồi đủ thứ tạp-bí-lù tên Kumpir, ngon sao mà ngon. Ngon như món cá trích nướng muối trên than hồng ở Mantosinho, Porto. Ôi Bồ Đào Nha. Có một đất nước lại tuyệt vời thế, đẹp, ngon, bổ, rẻ và con người. Những quý ông ở đây trên cả tuyệt vời.
* Tức Antoni Gaudi i Cornet (25/06/1852 - 10/02/1926) là kiến trúc sư người xứ Catalan, Tây Ban Nha, nổi tiếng với những thiết kế theo phong cách Tân nghệ thuật của dòng kiến trúc hiện đại.
Nếu bạn tìm hình ảnh các bác đầu muối tiêu, cằm chẻ, nước da nâu khỏe khoắn, mặc suit, xách ca táp, giày bóng lộn, mép túi áo ló ra khăn mùi xoa lụa bóng thơm lừng mùi Allure và gọi đó là những quý ông, thì chắc chắn bạn chẳng tìm được ở Bồ Đào Nha đâu, tôi đang tả Geogre Clooney ấy mà! Ở đất nước nghèo khổ Bồ Đào Nha ấy, chỉ có những ngôi nhà lụp xụp, tường tróc vách, những người đàn bà mang ghế ra ngõ buôn chuyện chiều, những người đàn ông tụ tập nơi quán nước. Họ đều có khuôn mặt hiền hậu, có thể nghèo nhưng vô ưu. Ai từng gặp họ đều nhớ, đều thương.
Ngày đầu tới Bồ Đào Nha, tôi nghỉ trong nhà nghỉ tên là Salitre. Đó là một tòa nhà cổ, có cái cửa sắt to huỵch, rắn chắc, cao tới ba mét. Tòa nhà tọa lạc giữa vô vàn những ngôi nhà cũ kỹ ở một con phố be bé, với gạch lát đường trơn bóng, nếu mưa xuống chắc trượt như đi trên dầu nhớt xe máy. Nhưng hôm đó, đêm tháng Chín, là đêm sau trung thu, trăng mười sáu sáng hơn trăng rằm, con đường phản chiếu lên thứ ánh sáng vàng rực rõ. Trăng ở ngay chính giữa hẻm, cảm giác nó treo ngay đầu con dốc. Cả lũ mon men, kéo vali kèn kẹt cố tìm cho ra cái nhà nghỉ trên đỉnh dốc. Lisbon thật vất vả, thành phố xây trên những ngọn đồi nên nhấp nhô, lên rồi xuống, đi đến mệt. Lúc mồ hôi tướt mướt tấm áo blazer cũng là lúc tới được chân nhà nghỉ, ngắc ngoải kéo cái vali lên thì gặp một anh chàng người Bồ thật trí thức khiến chúng tôi hết cả mệt. Anh đeo kính, đẹp trai vừa phải, dễ thương vừa đủ, vui tính hơn mức yêu cầu. Anh thấy mấy con nhóc nhễ nhại, bộ dạng đói khát thì nhanh nhẹn chỉ cho một cái quán thật “Bồ”.
Lúc cả lũ mò tới quán chắc cũng hơn mười giờ đêm. Quán gì mà ngóc ngách bí hiểm, nhỏ xíu xịu nhưng bên trong lại nhiều bàn hơn tưởng tượng. Bác bồi già đẹp lão tầm năm mươi tuổi, cao lớn, khi đi lưng thẳng, ngực vươn, tóc hoa râm, húi gọn gàng, tay cầm đống thực đơn. Thực đơn hoàn toàn bằng tiếng Bồ Đào Nha, không hình vẽ, tôi hoa mắt chóng mặt, trong lòng đánh trống tưng tưng: “Sướng quá, oách ghê, được vào nhà hàng Bồ xịn rồi”. Nhìn đống chữ không hiểu gì mà lòng vui sao!
Bác bồi bàn bắt đầu bằng thứ tiếng Anh lõm bõm rồi sau chuyển qua tiếng Pháp bập bẹ vì các cô gái đi cùng tôi dùng thứ ngôn ngữ này. Sau cùng, khi cả hai bên không có được tiếng nói chung, cuộc đàm phán kết thúc bên tủ cá. Bác dẫn cả lũ vào xem cái tủ kính chứa cá, thịt bò, thịt lợn tươi rói, rồi bắt đầu chỉ mặt đặt tên từng loại. Còn tụi tôi thì chỉ con cá này hay con mực kia. Năm đứa hí hửng gọi món trong niềm sung sướng, nhưng bác kìm cơn kích động ấy lại bằng lời nói chân thật: “Năm đứa gọi bốn món thôi”, rồi lấy tay quơ quơ tả cái đĩa đồ ăn bự lắm. Cả lũ quay sang nhau: “Trời, sao dễ thương quá vậy”.
Thức ăn mang ra đẹp hơn mong đợi, tươi rói và thơm lừng. Mực giòn, tôm đỏ, cá tuyết nướng, tất cả đều rưới sốt dầu olive kèm ít rau cải. Cá tuyết có phần mặn mòi hơn do con cá này đánh bắt xa bờ, khi về phải ướp cả tấn muối. Cả lũ vừa ăn vừa uống Sangria ừng ực cho đỡ khát. Cứ năm phút, bác muối tiêu lại tới hỏi: “Ăn ngon chứ, ổn không?” làm cả lũ xúc động vô cùng. Sau bữa ăn long trời lở đất ấy thì các bạn tới quầy thanh toán. Tại đây có một anh trai áo trắng đứng quầy và một em giai trẻ, tóc xoăn, da bánh mật, người Bắc Phi. Em cười tươi, răng trắng, tay thoăn thoắt lau cốc, miệng liến thoắng hỏi tên tôi rồi giới thiệu tên em. Sau đó em nhìn qua anh áo trắng, rồi nhìn lại tôi rồi ra dấu hiệu ghi ghi, như kiểu cầm bút ghi số điện thoại thì tôi chột dạ: “Chết cha, gây nhớ thương rồi sao?”. Tôi còn loay hoay lo lắng thì em lùi sang bên cho anh áo trắng ló ra: ”Em à, tụi em trả thiếu 50 cents”, hóa ra lúc nãy em ấy ra hiệu chỉ cái hóa đơn. Trời ơi, sao mà nhục! Được cái anh áo trắng cũng dễ thương, cười rõ tươi khi tôi đưa hẳn đồng 1euro mới cáu cạnh.
Cả ngày hôm sau ở Lisbon, năm đứa con gái chỉ quanh quẩn mua giày và dép mà đi cả ngày trời cũng không tới được khu Alfama. Thành công lớn nhất là mua quá nhiều đồ, thành công lớn thứ hai là vào được một quán ăn tên Don Jõao, nơi cũng có một chú phục vụ tận tâm, và đồ ăn thì vừa miệng vô cùng, nhất là món cá trích nướng. Một đĩa bình thường chỉ có bốn con cá, tụi mình có năm đứa mà chú phục vụ cũng xin nhà bếp làm thành năm cho các bạn thoải mái chia nhau. Con cá trích xanh dài, da bóng bạc, ăn kèm sốt olive béo gì đâu. Còn cái quả olive ngâm của nhà hàng ấy nữa chứ, xanh thẫm, ngòn ngọt, bùi bụi, lại ngầy ngậy. Con đường ăn uống thật là thăng hoa.
Như chuyện đêm hôm ấy, khi đang đói khát, quán ăn trong trung tâm đều đắt đỏ, sang chảnh thì cả lũ quyết định về gần nhà ăn cho lành. Trong ngõ nhỏ ngập ánh trăng ấy, có một nhà hàng trông rõ thường nhưng giá rẻ, cả lũ bấm cửa xông vào. Bác chủ quán đậm người, bụng hơi bự chạy ngay ra, mở cửa, rồi bác bối rối như bao người Bồ khác về chuyện hướng dẫn món ăn. Bác lại lôi vào bếp chỉ thức ăn tươi sống cho tụi tôi chọn. Khi bốn cái đĩa bốc khói bê ra thì cả lũ đã đói mềm. Bác còn giữ đĩa cho em Phương chụp ảnh. Bác hướng dẫn gọi một chai vang của nhà hàng để uống cho khí thế. Uống nhanh tới mức, sau hai lượt châm, em Khánh dốc chai chẳng còn giọt rượu nào. Nhanh như cắt, bác chủ quán lao ra, trên tay cầm một chai rượu ướp lạnh đầy 80% ra, lanh lẹ tiếp rượu năm đứa.
Bác cười và không nói gì. Hai bên cứ nhìn nhau cười trìu mến, “Obriado” (cảm ơn) lặp đi lặp lại. Khi bữa tiệc gần tàn thì bác chủ quán lại từ đâu lao tới, trên tay là đĩa cá tuyết (đặc sản xứ này), bác đặt giữa bàn mời cả lũ thưởng thức. Lúc này thì cả lũ nói không nên lời. Bụng đã quá no mà không thể phụ tấm chân tình của bác, đành cố nhắm mắt đưa tay ăn cho gọn. Vừa vui vừa buồn cười, chảy cả nước mắt. Sau đó thì tụi tôi lôi một tấm postcard ra viết cho bác những dòng thấm đượm thương yêu. Bác mặt đỏ gay, nhìn thật hiền, trông đầy hạnh phúc, cả những nhân viên ở quán cũng vậy khi bác đứng quầy dịch những dòng chân thành ấy ra cho mọi người nghe.
Những dòng chữ ấy, thay đổi một chút, thì có thể tìm thấy trên tường một quán ăn nhỏ ở Porto. Quán ấy dễ thương cực kỳ, chỉ có cặp vợ chồng già cai quản. Bác gái béo tròn, người hơi thấp, tóc ngắn suốt ngày đứng bếp. Bác trai phong độ, đẹp lão, tóc bạc, nói tiếng Anh lưu loát, bập bõm cả tiếng Tàu. Quán của bác có món cơm mề gà cũng hay, mà rẻ, chỉ 5 euros, đầy đủ cơm, rượu, súp. Mỗi đứa được cho nguyên một bình rượu, uống sắp xỉn thì bác lao ra, mời thử thứ rượu Porto đựng trong chai bé xíu, vàng sóng sánh, vị ngòn ngọt. Rượu ngon còn bác thì quá hiền và tốt bụng. Chúng tôi lại chụp ảnh cùng bác. Chúng tôi cũng chụp ảnh cùng anh Jõao chủ nhà nghỉ Gaia, bởi anh thật tuyệt. Anh tổ chức tiệc kỷ niệm một năm thành lập nhà nghỉ mà cả lũ không về kịp nên anh để dành cho bao nhiêu là bánh ga tô. Anh nghe nói tụi tôi phải ra sân bay sớm thì cũng dậy sớm, chuẩn bị đồ ăn sáng. Anh gọi taxi, chỉ quán ăn, hướng dẫn tất tần tật.
Ôi những quý ông Bồ Đào Nha, thật khiến người ta phải thương nhớ. Có người đứng trong nhà vẫy tay ra ngoài, có người ở ngoài đường chào hỏi vui vẻ khi thấy lũ chúng tôi khua vali cồm cộp trên đường. Trên những con đường ở đất nước của con gà Barcelos, có bao nhiêu quý ông từng lướt qua, lưu lại trong niềm vui sướng và biết ơn.