Tuyển Tập Truyện Cổ Tích Xanh

Lượt đọc: 222 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vì Sao Nước Biển Mặn

❊ ❊ ❊

Ngày xửa ngày xưa, từ rất lâu về trước, có hai anh em, người anh thì giàu có còn người em lại nghèo khó. Khi đêm Giáng sinh đến, nhà người em không còn lấy một miếng ăn, dẫu là một mẩu thịt hay chút bánh mì; vậy nên cậu đành sang nhà anh, nhân danh Chúa mà xin người anh rủ lòng bố thí cho chút gì để qua ngày Giáng sinh. Đương nhiên đây không phải lần đầu người anh buộc phải cho em mình thứ gì, và hắn cũng chẳng lấy làm vui vẻ gì khi bị hỏi xin như mọi khi.

– Nếu mày làm theo lời tao bảo, mày sẽ có cả một cái giò heo, – hắn nói.

Người em lập tức cảm ơn anh và hứa sẽ làm theo.

– Được rồi, giò đây, và giờ mày phải đi thẳng tới Sảnh Đường Của Người Chết, – người anh vừa nói vừa ném cái giò heo về phía em.

– Vâng, tôi sẽ làm như đã hứa, – người kia đáp, rồi nhặt cái giò lên và lên đường. Cậu cứ đi mãi, đi suốt cả ngày dài, và đến khi chập tối thì tới một nơi có ánh đèn sáng rực.

– Chắc chắn đây là nơi rồi, – người mang giò heo thầm nghĩ.

Một ông lão có bộ râu dài trắng muốt đang đứng ở nhà kho chẻ củi đón Giáng sinh.

– Cháu chào ông, – người mang giò heo lên tiếng.

– Chào cháu. Đi đâu mà muộn thế này? – ông lão hỏi.

– Cháu đang định đến Sảnh Đường Của Người Chết, không biết có đi đúng đường không nữa, – người nghèo đáp.

– Ồ! Đúng rồi đấy, nó ở ngay đây thôi, – ông lão nói. – Khi cháu bước vào trong, ai nấy cũng sẽ muốn mua cái giò heo của cháu, bởi ở đó họ chẳng mấy khi được ăn thịt; nhưng cháu đừng bán nó trừ khi đổi được chiếc cối xay tay đang để sau cánh cửa kia. Lúc cháu quay ra, ta sẽ dạy cháu cách dừng chiếc cối xay tay lại, thứ đồ vật có ích cho gần như mọi việc.

Thế là người mang giò heo cảm ơn lời khuyên tốt bụng của ông lão rồi gõ cửa.

Khi bước vào, mọi chuyện diễn ra đúng y như những gì ông lão đã nói: tất cả mọi người, lớn nhỏ đều túm tụm lại quanh cậu như kiến cỏ trên gò, ai nấy tranh nhau trả giá cao hơn để mua cho bằng được cái giò heo.

– Đáng lẽ ra vợ chồng tôi phải giữ lại cái giò này cho bữa tối Giáng sinh, nhưng vì các người đã tha thiết muốn thế, tôi đành nhượng lại vậy, – người đàn ông nói. – Tuy nhiên, nếu tôi bán nó, tôi phải đổi lấy chiếc cối xay tay đang để đằng kia sau cánh cửa.

Ban đầu họ nhất quyết không chịu, cứ kỳ kèo mặc cả với cậu, nhưng cậu vẫn giữ nguyên ý định, và cuối cùng họ buộc phải giao chiếc cối xay tay cho cậu. Khi người đàn ông bước ra ngoài sân, cậu hỏi ông lão tiều cách để dừng chiếc cối xay lại; sau khi học được cách đó, cậu cảm ơn ông lão và nhanh chân nhất có thể rảo bước trở về nhà, nhưng mãi đến sau mười hai giờ đêm đêm Giáng sinh cậu mới về tới nơi.

– Anh đi đâu mà giờ này mới về hả giời? – người vợ càu nhàu. – Tôi ngồi đợi hết giờ này qua giờ khác ở đây, đến hai thanh củi để bắc chéo dưới nồi cháo Giáng sinh cũng chẳng có.

– Ơ hay! Anh đâu có muốn về muộn; anh phải lo việc quan trọng và đường lại còn xa nữa chứ; nhưng giờ thì em cứ chờ mà xem! – người chồng nói, đoạn anh đặt chiếc cối xay tay lên bàn, ra lệnh cho nó trước tiên hãy xay ra ánh sáng, rồi đến khăn trải bàn, rồi tiếp đó là thịt, bia, và mọi thứ ngon lành khác cho một bữa tối Giáng sinh; và chiếc cối xay đã xay ra tất cả những gì anh yêu cầu.

– Chúa tôi! – người vợ thốt lên khi từng thứ một xuất hiện trước mắt; bà gặng hỏi chồng kiếm đâu ra chiếc cối xay này, nhưng anh nhất định không chịu nói.

– Mặc kệ anh kiếm nó ở đâu đi; em thấy nó dùng tốt là được, và dòng nước quay nó thì chẳng bao giờ đóng băng đâu, – người chồng đáp. Thế là anh xay thịt, đồ uống cùng đủ thứ ngon lành đủ dùng cho cả mùa Giáng sinh, rồi đến ngày thứ ba, anh mời tất cả bạn bè đến dự tiệc.

Bấy giờ, khi người anh giàu có nhìn thấy tất cả những thứ bày ra trong bữa tiệc cũng như trong ngôi nhà, hắn vừa bực bội vừa tức tối, bởi hắn tiếc nuối mọi thứ mà người em đang có.

– Vào đêm Giáng sinh nó nghèo đến mức phải sang xin ta dăm ba điều cỏ con vì Chúa, thế mà giờ đây nó lại đãi yến tiệc cứ như thể một vị bá tước hay nhà vua vậy! – hắn thầm nghĩ. – Này, vì Chúa, hãy nói cho tao biết mày kiếm đâu ra đống tài sản này đi, – hắn hỏi người em.

– Ở sau cánh cửa ấy, – người chủ cối xay đáp, bởi cậu chẳng dại gì mà làm thỏa mãn sự tò mò của anh trai; nhưng vào tối muộn hôm đó, khi đã quá chén, cậu không kìm nén được mà kể hết chuyện mình có được chiếc cối xay tay thế nào.

– Đấy, thứ đã mang lại cho tao toàn bộ gia tài đấy! – cậu vừa nói vừa lôi chiếc cối ra, bắt nó xay thứ này rồi đến thứ khác. Khi người anh nhìn thấy cảnh đó, hắn nhất quyết đòi lấy cho bằng được chiếc cối, và sau rất nhiều lời nài nỉ, cuối cùng hắn cũng đạt được ý nguyện; nhưng hắn phải trả tới ba trăm đô-la, và người em sẽ được giữ lại chiếc cối cho đến khi thu hoạch xong cỏ khô, vì cậu nghĩ: "Nếu mình giữ nó lâu chừng ấy, mình có thể bắt nó xay ra thịt và thức ăn đủ dùng trong bao nhiêu năm dài."

Trong khoảng thời gian đó, bạn có thể tưởng tượng là chiếc cối xay chẳng hề bị gỉ sét chút nào, và khi mùa gặt cỏ đến, người anh liền mang cối về nhà, còn người em thì cẩn thận giấu nhẹm chuyện không dạy anh ta cách dừng cối lại. Lúc người anh mang cối về nhà trời đã chập tối, và sáng hôm sau hắn bảo vợ ra đồng đảo cỏ sau khi máy gặt đã làm xong, còn hôm nay hắn sẽ tự tay lo việc nhà.

Thế là, khi bữa trưa sắp đến gần, hắn đặt chiếc cối lên bàn bếp và ra lệnh:

– Hãy xay cá trích và cháo sữa, làm cho nhanh và ngon vào đấy.

Lập tức chiếc cối bắt đầu xay cá trích và cháo sữa, thoạt đầu tất cả bát đĩa và thùng chậu đều được đổ đầy, rồi cháo tràn lênh láng khắp sàn bếp. Người đàn ông xoay đủ kiểu, vặn vẹo đủ điều, làm mọi cách để chiếc cối dừng lại, nhưng mặc cho hắn có quay hay vặn thế nào đi nữa, chiếc cối vẫn cứ tiếp tục xay, và chỉ trong chốc lát, cháo dâng cao đến mức người đàn ông suýt bị chết đuối. Hắn vội vã giật tung cửa phòng khách, nhưng chẳng mấy chốc chiếc cối cũng xay đầy ắp cả phòng khách, và hắn phải rất khó khăn cùng cực mới vượt qua được dòng chảy của cháo để với tới chiếc chốt cửa. Khi đã mở được cửa, hắn chẳng dám ở lại trong phòng lâu mà ba chân bốn cẳng chạy tháo thân ra ngoài, còn cá trích và cháo cứ thế lũ lượt đuổi theo sau hắn, tràn lênh láng ra cả trang trại lẫn đồng ruộng.

Lúc bấy giờ, người vợ đang bận rộn phơi cỏ ngoài đồng bắt đầu thấy bữa trưa sao mà lâu thế, liền bảo với những người phụ nữ và thợ gặt:

– Dù ông chủ không gọi chúng ta về, cứ về có lẽ tốt hơn. Biết đâu ông ấy thấy mình nấu cháo không khéo và tôi nên vào giúp một tay.

Thế là họ bắt đầu lũ lượt kéo nhau về nhà, nhưng khi đi được một đoạn lên đồi, họ đụng phải cá trích, cháo và bánh mì đang trào ra cuồn cuộn, chồng chất lên nhau, và ngay chính người đàn ông thì đang chạy thục mạng ở đầu ngọn sóng.

– Cầu trời cho mỗi người trong tụi mày có tới một trăm cái dạ dày! Cẩn thận kẻo chết đuối trong cháo đấy! – hắn hét lớn khi chạy sượt qua họ, lao như bay đến nhà người em trai với vẻ mặt cuống cuồng như thể quỷ sứ đang đuổi sát sau gót. Tại đây, hắn van xin em vì tình cảm dành cho Chúa mà hãy nhận lại chiếc cối xay ngay tức khắc, bởi theo lời hắn: "Nếu nó xay thêm một tiếng nữa thì toàn bộ vùng này sẽ bị cá trích với cháo hủy diệt mất."

Nhưng người em nhất quyết không chịu nhận lại nếu anh trai không trả cho mình ba trăm đô-la, và hắn buộc phải làm theo. Thế là người em nghèo khó vừa có lại tiền vừa có lại chiếc cối trong tay.

Chẳng bao lâu sau, cậu đã dựng được một ngôi nhà trang trại đẹp hơn hẳn nơi anh trai mình đang ở, và chiếc cối xay kiếm cho cậu nhiều tiền đến mức cậu cho dát vàng toàn bộ bề mặt ngôi nhà; tòa trang trại nằm sát bên bờ biển, tỏa sáng lung linh lấp lánh hướng ra tận ngoài khơi xa. Bất cứ ai đi thuyền ngang qua nơi đây giờ đây đều phải ghé vào thăm người giàu có trong trang trại dát vàng, và ai nấy cũng đều muốn tận mắt chiêm ngưỡng chiếc cối xay kỳ diệu, bởi tiếng tăm của nó đã bay xa muôn phương, chẳng còn ai là chưa từng nghe kể về nó.

Sau một thời gian rất, rất lâu, lại có một vị thuyền trưởng ghé qua muốn được nhìn thấy chiếc cối xay. Ông hỏi liệu nó có làm ra muối được không.

– Vâng, nó có thể làm ra muối, – người chủ cối đáp, và khi vị thuyền trưởng nghe vậy, ông khao khát đến tận xương tủy có được chiếc cối xay bằng mọi giá, bởi ông nghĩ rằng nếu có nó trong tay, ông sẽ đỡ phải chèo chống vượt qua những vùng biển hiểm nguy xa xôi để chở những chuyến muối về.

Ban đầu người đàn ông nhất quyết không chịu bán, nhưng vị thuyền trưởng cứ tha thiết nài nỉ cầu xin, và cuối cùng người đàn ông cũng bán nó cho ông, thu về rất nhiều, rất nhiều nghìn đô-la. Khi vị thuyền trưởng đã vác được chiếc cối lên lưng, ông chẳng dám nán lại lâu bởi quá sợ người đàn ông sẽ đổi ý, và ông cũng chẳng có thời gian để hỏi xem làm cách nào để dừng chiếc cối lại, liền nhanh chân nhất có thể chạy thẳng lên tàu của mình.

Khi đã chèo ra khơi được một quãng ngắn, ông đặt chiếc cối lên boong tàu.

– Hãy xay muối, xay cho thật nhanh và thật ngon vào, – vị thuyền trưởng ra lệnh.

Thế là chiếc cối bắt đầu xay muối, muối phun ra như suối, và khi vị thuyền trưởng đã chất đầy khoang tàu, ông muốn dừng chiếc cối lại, nhưng dù ông có xoay nó theo hướng nào hay cố gắng ra sao đi nữa, nó vẫn cứ tiếp tục xay, và ngọn núi muối ngày một dâng cao hơn, cho đến cuối cùng con tàu bị nhấn chìm xuống biển.

Chiếc cối xay hiện vẫn nằm ở tận đáy đại dương, ngày lại ngày vẫn miệt mài xay; và đó chính là lý do vì sao nước biển mặn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.