Thuở ấy, có một vị quốc vương sinh được ba người con trai và một người cháu gái. Hoàng tử lớn tên là Houssain, hoàng tử thứ hai tên là Ali, hoàng tử út tên là Ahmed, còn vị công chúa là cháu gái ngài, tên là Nouronnihar.
Công chúa Nouronnihar là con của người em trai quá cố của nhà vua, nàng mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Quốc vương đã tự mình đứng ra lo việc giáo dục cho cháu gái, nuôi nấng nàng trong cung điện cùng với ba vị hoàng tử, với dự tính sẽ gả nàng cho một trong số họ khi đến tuổi trưởng thành, qua đó thiết lập mối quan hệ liên minh với một vương quốc láng giềng nào đó. Nhưng khi nhận ra ba người con trai của mình đều đem lòng say đắm nàng, nhà vua bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc hơn về chuyện này. Ngài vô cùng lo lắng; khó khăn lớn nhất mà ngài thấy trước là làm sao để họ hòa thuận với nhau, và làm thế nào để hai hoàng tử em chịu nhường nàng cho người anh cả. Nhận thấy các con đều vô cùng bướng bỉnh, ngài bèn cho triệu tập tất cả lại và bảo rằng: "Các con ạ, vì sự bình yên và tốt đẹp của các con mà trẫm không tài nào khuyên nhủ các con từ bỏ ý định hướng về người em họ của mình, trẫm nghĩ tốt nhất là mỗi người hãy đi du hành đến những xứ sở khác nhau để tránh việc chạm mặt nhau. Và vì các con biết trẫm vốn rất tò mò, ưa thích mọi thứ kỳ lạ, trẫm hứa sẽ gả cháu gái trẫm cho người nào mang về cho trẫm báu vật kỳ diệu nhất; để chi phí cho việc tìm kiếm báu vật và tiền đường sá, trẫm sẽ cấp cho mỗi người một khoản tiền."
Vốn luôn vâng lời và phục tùng ý muốn của vua cha, lại thêm phần hy vọng vận may sẽ mỉm cười với mình, cả ba vị hoàng tử đều đồng ý. Quốc vương liền phát số tiền đã hứa cho họ; ngay ngày hôm đó, họ cho chuẩn bị hành trang lên đường và đến chào từ biệt nhà vua để sáng hôm sau có thể khởi hành thật sớm. Quả nhiên, tất cả đều xuất phát từ cùng một cổng thành, mỗi người ăn mặc như một thương gia, có một cận thần đáng tin cậy đi theo đóng giả làm nô bộc, ai nấy đều cưỡi ngựa trang bị kỹ càng. Ngày đường đầu tiên họ đi cùng nhau và nghỉ lại tại một quán trọ nằm ngã ba đường. Đêm đến, khi đang ngồi ăn tối cùng nhau, họ thống nhất sẽ đi du hành trong vòng một năm rồi sẽ gặp lại tại quán trọ này; ai đến trước sẽ đợi những người khác, để đúng như khi họ cùng nhau từ biệt nhà vua, họ cũng sẽ cùng nhau trở về. Sáng hôm sau, khi trời vừa hửng sáng, sau khi ôm nhau và chúc nhau gặp nhiều may mắn, họ lần lượt lên ngựa và rẽ theo ba con đường khác nhau.
Hoàng tử Houssain, người anh cả, đến Bisnagar, kinh đô của vương quốc mang cùng tên và là nơi ngự trị của nhà vua nước ấy. Chàng trọ tại một trạm xá dành cho thương nhân ngoại quốc; và sau khi biết rằng nơi đây có bốn khu buôn bán chính – nơi thương gia đủ mọi thành phần bày bán hàng hóa, mở cửa hàng, với lâu đài hay đúng hơn là cung điện của nhà vua nằm ở trung tâm – ngày hôm sau, chàng liền hướng thẳng đến một trong những khu ấy.
Hoàng tử Houssain không thể ngắm nhìn khu chợ này mà không khỏi thán phục. Nơi đây rộng lớn, chia thành nhiều con phố có mái vòm che mát nắng nhưng vẫn vô cùng sáng sủa. Các cửa hàng đều có kích thước bằng nhau, và những ai buôn bán cùng một mặt hàng đều tập trung ở một con phố; các thợ thủ công cũng vậy, họ mở cửa hàng ở những con phố nhỏ hơn.
Đám đông cửa hàng bày la liệt đủ loại hàng hóa, từ những tấm vải lanh mịn nhất từ khắp các vùng của Ấn Độ, vài tấm vẽ rực rỡ hình muông thú, cây cối và hoa lá; lụa là gấm vóc từ Ba Tư, Trung Hoa và các xứ sở khác; đồ sứ từ Nhật Bản và Trung Hoa cho đến những tấm thảm treo tường, tất cả khiến chàng ngạc nhiên đến mức ngỡ mình đang mơ; nhưng khi bước đến khu vực của những người thợ kim hoàn và buôn bán ngọc ngải, chàng gần như ngây ngất trước lượng vàng bạc được chế tác tinh xảo vô số kể, đồng thời lóa mắt bởi ánh hào quang phát ra từ ngọc trai, kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo và những thứ trang sức khác được bày bán.
Một điều nữa khiến hoàng tử Houssain đặc biệt thán phục là số lượng lớn những người bán hoa hồng tụ tập trên đường phố; bởi người Ấn Độ vốn rất yêu loài hoa này đến mức chẳng ai muốn bước ra ngoài mà không cầm một bó hoa trên tay hay đội vòng hoa trên đầu, và các thương gia còn đặt hoa trong chậu ngay tại cửa hàng khiến bầu không khí ngập tràn hương thơm.
Sau khi rảo bước qua từng con phố trong khu chợ ấy, tâm trí hoàn toàn bị cuốn hút bởi những thứ giàu sang vừa mục kích, hoàng tử Houssain cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Nhận ra điều đó, một thương gia lịch sự mời chàng vào cửa hàng ngồi nghỉ, và chàng nhận lời; nhưng ngồi chưa được bao lâu, chàng thấy một người rao hàng đi ngang qua, trên tay vắt một tấm thảm kích thước chừng sáu foot vuông, miệng rao giá ba mươi túi tiền. Hoàng tử gọi người rao hàng lại và xin được xem tấm thảm, thứ mà chàng cho là bị định giá quá đắt đỏ, không chỉ vì kích thước nhỏ mà còn vì chất liệu tầm thường của nó. Khi đã săm soi kỹ càng, chàng bảo người rao hàng rằng chàng không thể hiểu nổi tại sao một tấm thảm nhỏ bé và có vẻ ngoài bình thường như vậy lại được thét giá cao đến thế.
Người rao hàng, tưởng chàng là một thương gia, liền đáp: "Nếu ngài thấy mức giá này quá vô lý, ngài sẽ còn kinh ngạc hơn nữa khi biết tôi có lệnh phải đẩy giá nó lên bốn mươi túi tiền và quyết không bán rẻ hơn." "Chắc chắn," hoàng tử Houssain đáp, "nó phải có điều gì đó vô cùng phi thường mà ta không tài nào biết được." "Ngài đoán trúng rồi đấy, thưa ngài," người rao hàng đáp, "và ngài sẽ phải thừa nhận điều đó khi biết rằng bất cứ ai ngồi lên tấm thảm này đều có thể được dịch chuyển tức khắc đến bất cứ nơi nào họ muốn mà không hề bị cản trở bởi bất kỳ chướng ngại vật nào."
Nghe người rao hàng nói vậy, hoàng tử xứ Ấn Độ ngẫm nghĩ rằng mục đích chính của chuyến du hành là mang về cho vua cha một món báu vật độc nhất vô nhị, và chàng thấy chẳng thể tìm được thứ gì làm mình mãn nguyện hơn thế. "Nếu tấm thảm," chàng bảo người rao hàng, "thực sự có công năng như anh nói, ta sẽ không thấy bốn mươi túi tiền là quá đắt, thậm chí còn thưởng thêm cho anh một món quà." "Thưa ngài," người rao hàng đáp, "tôi xin nói thật; và việc chứng minh điều đó cho ngài thấy cũng rất dễ dàng, ngay sau khi ngài đồng ý mua với giá bốn mươi túi tiền kèm điều kiện tôi phải cho ngài xem thử nghiệm. Nhưng vì tôi đoán ngài không mang theo sẵn số tiền đó, và để nhận tiền tôi phải cùng ngài về trạm xá nơi ngài trọ, được sự đồng ý của chủ cửa hàng, chúng ta sẽ vào gian trong, tôi sẽ trải tấm thảm ra; khi cả hai cùng ngồi lên và ngài ước được đưa về phòng mình tại trạm xá, nếu chúng ta không đến đó thì giao dịch này coi như hủy, ngài hoàn toàn được tự do. Còn về phần tiền thưởng cho tôi, dẫu công sức của tôi đã được người bán trả, tôi vẫn xin nhận như một ân huệ và vô cùng biết ơn ngài."
Tin tưởng vào lời người rao hàng, hoàng tử chấp nhận các điều kiện và chốt giao dịch; được sự cho phép của chủ quán, họ bước vào gian hàng phía sau, cùng ngồi lên tấm thảm, và ngay khi hoàng tử vừa khởi lên mong muốn được chuyển về căn phòng của mình tại trạm xá, chàng cùng người rao hàng lập tức có mặt ở đó. Chẳng cần thêm bằng chứng nào xác thực hơn về công năng của tấm thảm, chàng đếm đủ bốn mươi đồng tiền vàng trao cho người rao hàng, kèm theo hai mươi đồng tiền thưởng riêng cho anh ta.
Cứ như thế, hoàng tử Houssain trở thành chủ nhân của tấm thảm, vô cùng vui sướng vì ngay khi vừa đến Bisnagar đã tìm được một báu vật hiếm có, thứ mà chàng tin chắc sẽ giúp mình giành được bàn tay của Nouronnihar. Tóm lại, chàng xem như việc các hoàng tử em trai có thể tìm được thứ gì sánh bằng là điều bất khả thi. Lẽ ra chàng có thể ngồi lên tấm thảm để có mặt tại điểm hẹn ngay trong ngày hôm đó; nhưng vì phải đợi các em theo đúng thỏa thuận, lại thêm sự tò mò muốn diện kiến nhà vua và triều đình Bisnagar, cũng như tìm hiểu về binh lực, luật pháp, phong tục và tôn giáo của vương quốc này, chàng quyết định lưu lại đây lâu hơn và dành ra vài tháng để thỏa mãn trí tò mò.
Hoàng tử Houssain lẽ ra đã có thể ở lại vương quốc và triều đình Bisnagar lâu hơn nữa, nhưng vì quá nôn nóng muốn được đến gần công nang, chàng liền trải tấm thảm ra, cùng viên cận thần mang theo ngồi lên, và ngay khi vừa niệm chú ước nguyện, họ đã được dịch chuyển thẳng đến quán trọ nơi ba anh em hẹn gặp nhau – nơi chàng tiếp tục đóng giả làm một thương gia cho đến khi các em tới nơi.
Hoàng tử Ali, người em thứ của hoàng tử Houssain, dự tính du hành sang Ba Tư, liền lên đường. Ba ngày sau khi chia tay các anh, chàng gia nhập một đoàn lữ hành, và sau bốn ngày đường thì đến Schiraz, kinh đô của vương quốc Ba Tư. Tại đây, chàng đóng vai một thợ kim hoàn.
Sáng hôm sau, hoàng tử Ali – người chỉ đi du hành vì sở thích và không mang theo gì ngoài những vật dụng thiết yếu – sau khi sửa soạn tươm tất, liền tản bộ đến khu vực trong thành mà người Schiraz gọi là bezestein.
Giữa dòng người ra vào tấp nập với đủ loại hàng hóa trên tay rao bán, chàng không khỏi ngạc nhiên khi thấy một người đang cầm trên tay một chiếc ống nhòm bằng ngà dài chừng một foot, to bằng ngón tay cái của đàn ông, và rao giá ba mươi túi tiền. Ban đầu chàng tưởng người rao hàng bị điên, liền bước vào một cửa hàng và nói với người thương gia đang đứng trước cửa: "Xin lỗi ngài, có phải kẻ kia" – chàng chỉ tay về phía người đang rao chiếc ống nhòm ngà với giá ba mươi túi tiền – "bị điên không? Nếu hắn không điên, chắc chắn tôi đã lầm to."
"Thật tình mà nói, thưa ngài," người thương gia đáp, "hôm qua hắn vẫn hoàn toàn tỉnh táo; tôi có thể đảm bảo với ngài hắn là một trong những tay rao hàng tài giỏi nhất của chúng ta, và là người được thuê mướn nhiều nhất mỗi khi có đồ quý giá cần bán. Nếu hắn rao chiếc ống nhòm bằng ngà đó với giá ba mươi túi tiền, chắc chắn nó phải đáng giá ngần ấy hoặc hơn thế vì một lý do nào đó. Chốc nữa hắn sẽ đi ngang qua đây thôi, chúng ta sẽ gọi hắn lại và ngài sẽ được rõ; trong lúc chờ đợi, xin mời ngài ngồi lên ghế sofa này để nghỉ chân."
Hoàng tử Ali vui vẻ nhận lời đề nghị lịch sự của người thương gia, và chẳng mấy chốc người rao hàng đi qua. Người thương gia gọi tên anh ta, rồi chỉ vào hoàng tử và nói: "Hãy bảo vị quý ông đây – người vừa hỏi tôi xem anh có bị điên không – lý do vì sao anh lại rao chiếc ống nhòm bằng ngà trông có vẻ chẳng đáng giá là bao ấy với giá ba mươi túi tiền đi. Bản thân tôi cũng sẽ ngạc nhiên lắm nếu không biết rõ về anh." Người rao hàng quay sang hoàng tử Ali và thưa: "Thưa ngài, ngài không phải là người duy nhất coi tôi là kẻ điên vì chiếc ống nhòm này. Ngài sẽ tự mình phán xét xem tôi có điên hay không sau khi nghe tôi trình bày về công dụng của nó, và tôi hy vọng ngài sẽ đánh giá nó cao như những kẻ từng tỏ ra hoài nghi tôi trước đây."
"Trước hết, thưa ngài," người rao hàng tiếp lời, vừa đưa chiếc ống ngà về phía hoàng tử, "xin ngài hãy quan sát chiếc ống này có lắp kính ở cả hai đầu; và hãy nhớ rằng, chỉ cần nhìn qua một trong hai đầu ấy, ngài có thể thấy bất kỳ vật gì ngài muốn." "Ta," hoàng tử đáp, "sẵn sàng chịu mọi hình phạt vì đã vu khống ngươi nếu ngươi chứng minh được điều ngươi vừa nói là sự thật." Cầm chiếc ống ngà trên tay, sau khi quan sát hai đầu kính, chàng hỏi: "Hãy chỉ cho ta biết phải nhìn từ đầu nào để được mãn nguyện." Người rao hàng liền chỉ cho chàng, và chàng nhìn qua ống, đồng thời ước được nhìn thấy vua cha. Ngay lập tức, chàng thấy ngài đang ở trong trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh, ngự trên ngai vàng giữa triều đình. Sau đó, vì chẳng có gì trên đời này đối với chàng quan trọng hơn vua cha ngoài công chúa Nouronnihar, chàng liền ước được nhìn thấy nàng; và quả nhiên chàng thấy nàng đang ngồi trước bàn trang điểm, tươi cười vui vẻ bên các cung nữ hầu cận.
Hoàng tử Ali chẳng cần thêm bằng chứng nào khác để tin rằng chiếc ống nhòm này là vật quý giá nhất trên đời, và tin chắc rằng nếu bỏ lỡ cơ hội mua nó, chàng sẽ chẳng thể tìm được một báu vật nào tương tự nữa. Thế là chàng dẫn người rao hàng về trạm xá nơi mình trọ, đếm đủ số tiền trao cho anh ta và nhận lấy chiếc ống nhòm.
Hoàng tử Ali vô cùng phấn khởi với thương vụ này, đinh ninh rằng vì các anh chàng chẳng thể tìm được thứ gì hiếm hoi và tuyệt diệu đến thế, công chúa Nouronnihar chắc chắn sẽ là phần thưởng cho những gian lao vất vả của mình. Chàng chẳng còn bận tâm điều gì khác ngoài việc đi thăm triều đình Ba Tư ẩn danh, ngắm nghía mọi thắng cảnh ở Schiraz và vùng lân cận cho đến khi đoàn lữ hành cùng chàng quay về Ấn Độ. Ngay khi đoàn lữ hành sẵn sàng khởi hành, hoàng tử gia nhập cùng họ và trở về điểm hẹn một cách suôn sẻ, bình an vô sự, ngoại trừ chặng đường dài và sự mệt mỏi dọc đường. Tại đó, chàng gặp lại hoàng tử Houssain, và cả hai cùng chờ đợi hoàng tử Ahmed.
Hoàng tử Ahmed chọn con đường dẫn đến Samarcand. Ngay ngày hôm sau khi đến nơi, cũng giống như các anh, chàng bước vào khu bezestein. Đi dạo chưa lâu, chàng nghe tiếng một người rao hàng đang cầm trên tay một quả táo nhân tạo và thét giá ba mươi lăm túi tiền. Chàng liền chặn người rao hàng lại và bảo: "Hãy đưa ta xem quả táo đó, và cho ta biết nó có những công đức và đặc tính kỳ diệu nào mà được định giá cao đến vậy." "Thưa ngài," người rao hàng vừa nói vừa trao quả táo vào tay chàng, "nếu nhìn bề ngoài, quả táo này chẳng có giá trị gì; nhưng nếu ngài suy xét đến những công năng, phẩm chất cùng lợi ích to lớn mà nó mang lại cho nhân loại, ngài sẽ thấy mức giá này chẳng thấm vào đâu và kẻ sở hữu nó đang nắm giữ một kho báu lớn. Tóm lại, nó có thể chữa khỏi mọi căn bệnh hiểm nghèo nhất cho người bệnh; và dẫu bệnh nhân có đang hấp hối đi nữa, nó cũng sẽ vực họ dậy ngay lập tức, trả lại cho họ một cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh. Cách thức sử dụng lại vô cùng đơn giản, chỉ cần người bệnh đưa lên mũi ngửi là đủ."
"Nếu ta có thể tin lời ngươi," hoàng tử Ahmed đáp, "thì công năng của quả táo này quả thật kỳ diệu và vô giá; nhưng dựa vào đâu để ta tin những gì ngươi vừa kể là sự thật?" "Thưa ngài," người rao hàng đáp, "điều này cả thành phố Samarcand đều biết và chứng thực; nhưng chẳng cần đi đâu xa, ngài cứ hỏi tất cả những thương gia đang có mặt ở đây và lắng nghe họ nói. Ngài sẽ thấy rất nhiều người trong số họ khẳng định rằng họ đã chẳng còn sống đến ngày hôm nay nếu không nhờ vào bài thuốc tuyệt diệu này. Và để ngài hiểu rõ hơn, tôi xin nói thêm rằng đây là thành quả nghiên cứu và thử nghiệm của một triết gia nổi tiếng tại thành phố này. Suốt cuộc đời ông cống hiến cho việc nghiên cứu và thấu hiểu công năng của các loài thảo mộc lẫn khoáng chất, để rồi cuối cùng đúc kết ra được phương thuốc này. Ông đã thực hiện những ca chữa bệnh kỳ diệu đến mức không ai ở thị trấn này có thể quên, nhưng ngài lại qua đời đột ngột trước khi kịp áp dụng phương thuốc cứu mệnh của chính mình, để lại người vợ cùng bầy con thơ dại trong cảnh nghèo túng. Để nuôi gia đình và các con, bà ấy đành quyết định bán nó đi."
Trong lúc người rao hàng đang giảng giải cho hoàng tử Ahmed nghe về công năng của quả táo nhân tạo, rất nhiều người đã xúm lại xung quanh và xác nhận những lời anh ta nói. Trong số đó, có người cho biết một người bạn của ông ta đang lâm bệnh nặng, thầy thuốc đã bó tay; và đó là cơ hội thuận lợi để chứng thực cho hoàng tử Ahmed thấy công năng của quả táo. Nghe vậy, hoàng tử Ahmed bảo người rao hàng rằng chàng sẽ trả bốn mươi túi tiền nếu quả táo thực sự cứu sống được người bệnh.
Người rao hàng, vốn có lệnh được phép bán với mức giá đó, liền nói với hoàng tử Ahmed: "Nào, thưa ngài, chúng ta hãy đi làm phép thử, và quả táo này sẽ thuộc về ngài; tôi xin đảm bảo nó sẽ mang lại kết quả như ý muốn." Quả nhiên, phép thử đã thành công mỹ mãn. Sau khi đếm đủ bốn mươi túi tiền trao cho người rao hàng và nhận lấy quả táo, hoàng tử kiên nhẫn chờ đợi đoàn lữ hành đầu tiên quay về Ấn Độ, và đã trở về quán trọ nơi hai hoàng tử Houssain và Ali đang chờ mình trong trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh.
Khi các hoàng tử sum họp, họ cùng nhau đem những báu vật ra khoe, và qua chiếc ống nhòm, họ bỗng thấy công chúa đang hấp hối. Họ liền ngồi lên tấm thảm, ước được ở bên nàng, và chỉ trong khoảnh khắc đã có mặt tại đó.
Hoàng tử Ahmed vừa thấy mình đứng trong phòng của Nouronnihar liền bước xuống khỏi tấm thảm, hai vị hoàng tử kia cũng làm vậy, rồi họ tiến thẳng đến bên giường bệnh và đưa quả táo lại gần mũi nàng. Chỉ vài khoảnh khắc sau, công chúa từ từ mở mắt, đảo đầu nhìn quanh những người đang đứng vây quanh, rồi ngồi dậy trên giường, cất tiếng đòi thay trang phục cứ như vừa tỉnh giấc sau một giấc ngủ say. Khi các cung nữ vui mừng thông báo cho nàng biết rằng chính ba vị hoàng tử, đặc biệt là hoàng tử Ahmed, đã cứu sống nàng khỏi lưỡi hái tử thần, nàng ngay lập tức bày tỏ niềm hạnh phúc khôn tả khi gặp lại họ, gửi lời cảm ơn đến tất cả và sau đó dành riêng lời tri ân sâu sắc cho hoàng tử Ahmed.
Trong lúc công chúa đang thay trang phục, các hoàng tử đến diện kiến vua cha để tỏ lòng tôn kính. Nhưng khi diện kiến, họ được biết nhà vua đã được tổng quản thái giám của công chúa thông báo về sự trở về của họ cũng như cách thức công chúa được cứu sống kỳ diệu ra sao. Quốc vương đón nhận và ôm lấy họ với niềm vui tột độ, mừng vì họ bình an trở về và mừng cho sự hồi phục của người cháu gái ngài thương yêu như con ruột – người mà các ngự y đã buông xuôi từ lâu. Sau những nghi thức và lời chúc tụng thông thường, các hoàng tử lần lượt dâng lên báu vật của mình: hoàng tử Houssain dâng tấm thảm – thứ mà chàng đã cẩn thận không để quên trong phòng công chúa; hoàng tử Ali dâng chiếc ống nhòm bằng ngà; còn hoàng tử Ahmed dâng quả táo nhân tạo. Sau khi mỗi người ca ngợi món quà của mình và đặt nó vào tay nhà vua, họ khẩn khoản xin ngài hãy định đoạt số phận và tuyên bố xem theo đúng lời hứa, ngài sẽ gả công chúa Nouronnihar cho ai.
Quốc vương xứ Ấn Độ lắng nghe trọn vẹn những lời trình bày của các hoàng tử về báu vật của họ mà không hề ngắt lời, đồng thời nắm rõ toàn bộ sự việc liên quan đến việc chữa bệnh cho công chúa Nouronnihar. Ngài trầm ngâm im lặng một lúc lâu như đang cân nhắc câu trả lời. Cuối cùng, phá vỡ sự im lặng, ngài cất lời: "Trẫm rất sẵn lòng tuyên bố chọn một trong số các con nếu việc đó hợp lẽ công bằng; nhưng các con hãy suy ngẫm xem trẫm có thể làm thế hay không. Quả thực, hoàng tử Ahmed, công chúa cháu trẫm đã được cứu sống nhờ quả táo nhân tạo của con; nhưng trẫm phải hỏi rằng liệu con có thể giúp ích được gì cho nàng nếu con không hề hay biết qua chiếc ống nhòm của hoàng tử Ali rằng nàng đang lâm vào cảnh hiểm nghèo, và nếu tấm thảm của hoàng tử Houssain không đưa con về kịp lúc? Chiếc ống nhòm của con, hoàng tử Ali, đã thông báo cho con và các anh biết rằng các con sắp mất đi người em họ, và con phải thừa nhận đó là một ơn huệ lớn lao."
"Các con cũng phải thừa nhận rằng sự hiểu biết ấy sẽ chẳng mang lại ích lợi gì nếu thiếu đi quả táo nhân tạo và tấm thảm. Và cuối cùng, hoàng tử Houssain, công chúa sẽ là kẻ vô ơn nếu không biết bày tỏ lòng biết ơn đối với tấm thảm của con – một phương tiện quá đỗi thiết yếu cho việc chữa bệnh của nàng. Nhưng hãy suy xét xem, nó cũng sẽ chẳng có mấy tác dụng nếu con không hề hay biết về cơn bạo bệnh của công chúa nhờ chiếc ống nhòm của hoàng tử Ali, và hoàng tử Ahmed không dùng quả táo nhân tạo để chữa trị. Do đó, vì tấm thảm, ống nhòm ngà hay quả táo nhân tạo chẳng có món nào vượt trội hơn món nào, trái lại, chúng có giá trị ngang tài ngang sức, trẫm không thể ban công chúa cho bất kỳ ai trong số các con; và thành quả duy nhất mà các con thu được sau chuyến du hành chính là vinh dự cùng nhau góp sức khôi phục sức khỏe cho nàng."
"Nếu tất cả những điều này là sự thật," nhà vua nói thêm, "các con thấy đấy, trẫm buộc phải nhờ cậy đến một phương cách khác để đưa ra quyết định cuối cùng trong việc lựa chọn người xứng đáng; và vì vẫn còn dư dã thời gian từ đây cho đến tối, trẫm sẽ thực hiện ngay hôm nay. Hãy đi chuẩn bị mỗi người một cây cung và một mũi tên, rồi tập trung ra bãi đất trống nơi người ta luyện ngựa. Trẫm sẽ sớm đến đó và tuyên bố trao công chúa Nouronnihar cho người nào bắn được mũi tên đi xa nhất."
Ba vị hoàng tử không thể nói gì hơn trước phán quyết của nhà vua. Khi lui ra ngoài, mỗi người tự trang bị cho mình một cây cung và một mũi tên, giao chúng cho một cận vệ rồi tiến ra bãi đất trống đã định, theo sau là một đám đông dân chúng tụ tập rất đông.
Nhà vua không để họ phải đợi lâu. Ngay khi ngài vừa đến, hoàng tử Houssain với tư cách là anh cả liền giương cung bắn trước; tiếp theo là hoàng tử Ali bắn xa hơn hẳn; và cuối cùng là hoàng tử Ahmed. Nhưng lạ lùng thay, chẳng ai nhìn thấy mũi tên của Ahmed rơi xuống đâu cả; và mặc cho chàng cùng mọi người hết sức tìm kiếm dọc ngang, vẫn hoàn toàn bặt vô âm tín. Mặc dù ai nấy đều tin rằng chàng đã bắn xa nhất và vì thế xứng đáng với công chúa Nouronnihar, nhưng ngặt nỗi mũi tên bắt buộc phải được tìm thấy để mọi chuyện trở nên minh bạch và chắc chắn. Bất chấp những lời phân trang của hoàng tử, nhà vua vẫn phán quyết nghiêng về phía hoàng tử Ali, đồng thời ra lệnh chuẩn bị cho lễ cưới được tổ chức long trọng chỉ ít ngày sau đó.
Hoàng tử Houssain không chịu lấy sự hiện diện của mình để tôn vinh bữa tiệc. Tóm lại, nỗi đau đớn trong lòng quá đỗi dữ dội và không thể chịu đựng nổi, chàng quyết định rời khỏi triều đình, từ bỏ mọi quyền kế vị ngai vàng để đi tu hành ẩn dật.
Hoàng tử Ahmed cũng chẳng đến dự lễ cưới của hoàng tử Ali và công chúa Nouronnihar giống như người anh Houssain, nhưng chàng không từ bỏ thế tục như anh mình. Vì không tài nào tưởng tượng nổi điều gì đã xảy ra với mũi tên của mình, chàng lẻn đi khỏi đám tùy tùng và quyết tâm truy tìm cho bằng được để không phải tự dằn vặt bản thân. Với ý định đó, chàng đi đến nơi mà mũi tên của hoàng tử Houssain và Ali từng rơi xuống, rồi cứ thế tiến thẳng về phía trước, chăm chú quan sát cả hai bên đường. Chàng đi mãi, đi mãi cho đến khi bắt đầu nghĩ rằng công sức của mình đã đổ sông đổ biển; thế nhưng đôi chân vẫn cứ bước cho đến khi tới được những vách đá hiểm trở, dựng đứng – ranh giới cuối cùng cho hành trình của chàng, nằm ở một vùng hoang mạc cách điểm xuất phát chừng bốn dặm.
II
Khi hoàng tử Ahmed đến gần những vách đá ấy, chàng bỗng nhìn thấy một mũi tên nằm dưới đất. Chàng nhặt lên, săm soi kỹ lưỡng và kinh ngạc đến cực độ khi nhận ra đó chính là mũi tên mình từng bắn đi. "Chắc chắn," chàng tự nhủ, "dù là ta hay bất kỳ phàm nhân nào trên đời cũng không thể bắn một mũi tên đi xa đến nhường này." Nhận thấy mũi tên nằm phẳng chứ không cắm xuống đất, chàng đoán rằng nó đã đập vào vách đá rồi nảy ngược trở lại. "Ắt hẳn có điều huyền bí nào ẩn giấu ở đây," chàng lại tự nhủ, "và nó có thể mang lại cơ may cho mình. Biết đâu chừng, để đền bù việc tước đoạt thứ hạnh phúc lớn lao nhất, số mệnh lại đang dành sẵn cho ta một phúc lộc vĩ đại hơn để an ủi."
Vì những vách đá này chi chít hang động, và có những hang sâu thẳm, hoàng tử bước vào một hang và đưa mắt quan sát. Ánh nhìn của chàng dừng lại ở một cánh cửa sắt trông như không có ổ khóa, và chàng lo rằng nó đã bị khóa chặt. Tuy nhiên, khi chàng dùng sức đẩy vào, cánh cửa liền bật mở, hiện ra một lối đi thoai thoải xuống dốc nhưng không có bậc thang nào. Chàng cầm mũi tên bước xuống theo lối đó. Ban đầu, chàng nghĩ mình đang bước vào một chốn tối tăm mờ mịt, nhưng ngay sau đó, một thứ ánh sáng hoàn toàn khác lạ thay thế cho thứ ánh sáng bên ngoài. Khi đi thêm chừng năm mươi, sáu mươi bước nữa, chàng nhận ra một cung điện nguy nga tráng lệ, dẫu lúc đó chàng chưa có thời gian để ngắm nghía kỹ càng. Cùng lúc ấy, một vị phu nhân với dáng vẻ và phong thái uy nghi tiến ra tận hiên cửa, theo sau là một đoàn đông đảo các nữ quan ăn vận lộng lẫy và đẹp đến mức thật khó lòng phân biệt được đâu là chủ nhân.
Ngay khi hoàng tử Ahmed trông thấy vị phu nhân, chàng vội vã tiến đến hết mức có thể để tỏ lòng tôn kính; còn vị phu nhân, khi thấy chàng bước tới, liền ngăn lời định thưa trước của chàng và cất tiếng: "Hãy lại đây, hoàng tử Ahmed, chào mừng chàng đến nơi này."
Hoàng tử không khỏi bàng hoàng khi nghe có kẻ gọi đúng tên mình ở một nơi chưa từng nghe danh, dẫu nó nằm rất gần kinh đô của vua cha, và chàng không tài nào hiểu nổi vì sao một vị phu nhân xa lạ lại biết rõ về mình như vậy. Cuối cùng, chàng đáp lễ bằng cách quỳ rạp xuống chân nàng, rồi đứng dậy và thưa:
"Thưa phu nhân, tôi xin muôn vàn cảm ơn vì sự đón tiếp nồng hậu mà ngài dành cho một kẻ vì sự tò mò thiếu suy nghĩ đã cả gan đột nhập đến chốn này. Nhưng thưa phu nhân, liệu tôi có mạo muội hỏi qua cơ duyên nào mà ngài lại biết rõ về tôi? Và tại sao một người sống ngay cạnh kinh thành của tôi như ngài lại hoàn toàn xa lạ với tôi đến thế?"
"Hoàng tử," vị phu nhân đáp, "hãy vào sảnh chính đã, ta sẽ thỏa mãn thắc mắc của chàng."
Nói đoạn, vị phu nhân dẫn hoàng tử Ahmed vào sảnh chính. Nàng ngồi xuống một chiếc ghế sofa, và khi hoàng tử làm theo lời mời của nàng, nàng cất lời: "Chàng đang ngạc nhiên vì sao ta biết tên chàng trong khi chàng lại chẳng hề hay biết về ta, đúng chứ? Nhưng chàng sẽ chẳng còn ngạc nhiên nữa khi ta cho chàng biết thân thế của mình. Chắc hẳn chàng thừa hiểu tôn giáo của chàng dạy rằng thế giới này có cả các vị thần linh lẫn con người chung sống. Ta là con gái của một trong những vị thần linh hùng mạnh và danh tiếng nhất, tên ta là Paribanou. Điều duy nhất ta muốn nói thêm là: chàng trông có vẻ xứng đáng với một số phận tốt đẹp hơn việc sở hữu công nause Nouronnihar; và để chàng có thể đạt được điều đó, ta đã có mặt khi chàng giương cung bắn mũi tên, đồng thời thấy trước nó sẽ chẳng thể bay vượt qua mũi tên của hoàng tử Houssain. Ta đã đón lấy nó giữa không trung và truyền cho nó một lực đẩy để nó đập vào vách đá gần nơi chàng tìm thấy. Giờ thì ta bảo cho chàng hay, mọi chuyện tùy thuộc vào việc chàng có biết nắm bắt cơ hội thuận lợi đang bày ra trước mắt để tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình hay không."
Khi tiên nữ Paribanou cất lên những lời cuối ấy với một giọng điệu khác lạ, đồng thời ánh mắt trìu mến nhìn hoàng tử Ahmed và đôi gò má ửng hồng vẻ thẹn thùng, hoàng tử chẳng mấy khó khăn để hiểu được niềm hạnh phúc mà nàng muốn ám chỉ. Chàng lập tức ngẫm nghĩ rằng công chúa Nouronnihar chẳng bao giờ có thể thuộc về mình, trong khi tiên nữ Paribanou lại vượt trội hơn hẳn về nhan sắc, sự duyên dáng, trí tuệ, và – qua sự nguy nga của cung điện này mà phỏng đoán – cả một sự giàu có vô biên. Chàng thầm tạ ơn khoảnh khắc mình quyết định đi tìm mũi tên lần thứ hai, và buông mình theo tiếng gọi của tình yêu, chàng đáp: "Thưa phu nhân, dẫu suốt cuộc đời này tôi có được diễm phúc làm nô bộc cho ngài, được đắm chìm trong muôn vàn nét kiều diễm đang đánh cắp tâm hồn tôi, thì tôi vẫn tự nhận mình là kẻ diễm phúc nhất trên đời. Xin hãy tha thứ cho sự cả gan dám thỉnh cầu ân huệ này, và đừng từ chối cho phép một vị hoàng tử đem lòng tôn thờ ngài được bước vào triều đình của ngài."
"Hoàng tử," tiên nữ đáp, "chàng có bằng lòng trao trọn thề non hẹn biển cho ta, cũng như ta trao cho chàng hay không?" "Vâng, thưa phu nhân," hoàng tử đáp trong niềm hạnh phúc tột độ; "còn điều gì tuyệt vời và đáng vui mừng hơn thế chứ? Vâng, thưa nữ vương của lòng tôi, vị hoàng hậu của tôi, tôi xin dâng trọn trái tim mình cho ngài không chút giữ lại." "Vậy thì," tiên nữ đáp, "chàng là phu quân của ta, và ta là hiền thê của chàng. Nhưng ta đoán là hôm nay chàng chưa ăn gì, một bữa tiệc nhẹ sẽ được dọn lên cho chàng, trong khi người ta chuẩn bị cho tiệc cưới của chúng ta vào ban đêm; rồi ta sẽ dẫn chàng đi tham quan các gian phòng trong cung điện, để chàng tự phán xem sảnh đường này có phải là nơi khiêm tốn nhất ở đây hay không."
Một số nữ quan của tiên nữ bước vào sảnh chính nãy giờ, đoán được ý chủ nhân, liền lui ra ngoài và nhanh chóng trở lại với những món ăn và thức uống tuyệt hảo.
Khi hoàng tử Ahmed đã ăn uống thỏa thích, tiên nữ Paribanou dẫn chàng đi ráo qua các gian phòng. Tại đây, chàng được chiêm ngưỡng kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo cùng đủ loại trân châu quý hiếm đan xen với ngọc trai, mã não, bích ngọc, thạch anh đỏ và những loại đá cẩm thạch trân quý nhất. Chưa cần nhắc đến sự xa hoa vô giá của đồ đạc trong nhà, sự hào phóng bày biện khắp nơi khiến hoàng tử – người chưa từng thấy thứ gì tương tự – phải thừa nhận rằng chàng chẳng thể tưởng tượng nổi trên đời lại có nơi nào sánh kịp. "Hoàng tử," tiên nữ nói, "nếu chàng đã trầm trồ trước cung điện của ta vốn dĩ rất đẹp này, thì chàng sẽ nói gì khi nhìn thấy cung điện của những đại vương thần linh – nơi còn rộng lớn, bề thế và tráng lệ hơn nhiều? Ta cũng có thể khiến chàng mê mẩn với những khu vườn của mình, nhưng hãy để dịp khác đi. Đêm đã buông xuống, đã đến lúc chúng ta dùng bữa tối rồi."
Sảnh đường tiếp theo mà tiên nữ dẫn hoàng tử đến – nơi bàn tiệc đã được bày biện sẵn sàng – là căn phòng cuối cùng chàng chưa được mục kích, và nó chẳng hề kém cạnh gì những gian phòng khác. Vừa bước chân vào, chàng không khỏi thán phục vô số những chiếc chân nến sáp ong ướp hương long não; chúng nhiều vô kể nhưng không hề rối mắt mà được sắp đặt với một bố cục cân đối hoàn hảo, tạo nên một khung cảnh dễ chịu và đẹp mắt. Một chiếc bàn phụ lớn bày la liệt các loại đồ vật bằng vàng, được chạm trổ tinh xảo đến mức giá trị chế tác còn vượt trội hơn cả trọng lượng của vàng. Từng tốp những nữ nhân xinh đẹp ăn vận lộng lẫy, cất lên những giọng ca làm say đắm lòng người, bắt đầu tấu lên một bản hòa tấu được đệm bằng đủ loại nhạc cụ du dương nhất. Khi họ đã an tọa bên bàn tiệc, tiên nữ Paribanou ân cần gắp cho hoàng tử Ahmed những món ăn tinh tế nhất, nàng vừa gọi tên vừa mời chàng thưởng thức. Hoàng tử nhận thấy chúng ngon đến độ tinh tế tột cùng, liền hết lời ca ngợi không ngớt và thưa rằng bữa tiệc này vượt xa mọi yến tiệc của trần gian. Chàng cũng cảm nhận được sự xuất sắc tương tự ở nhữngvò rượu quý – thứ mà cả chàng lẫn tiên nữ chỉ nhấm nháp khi món tráng miệng được dọn lên, bao gồm những loại mứt và hoa quả tuyển chọn hảo hạng nhất.
Tiệc cưới kéo dài sang ngày hôm sau, hay đúng hơn là những ngày tiếp theo đánh dấu chuỗi yến tiệc bất tận.
Sau sáu tháng trôi qua, hoàng tử Ahmed – người luôn mang lòng yêu thương và kính trọng vua cha – bỗng nung nấu một nỗi nhớ nhung khôn nguôi muốn biết ngài hiện ra sao, và nỗi lòng ấy chỉ có thể thỏa mãn khi chàng thân hành về thăm. Chàng liền thưa với tiên nữ và xin phép nàng cho mình đi.
"Hoàng tử," nàng đáp, "chàng cứ đi khi nào chàng muốn. Nhưng trước tiên, xin đừng trách ta đưa ra vài lời khuyên về cách cư xử khi chàng về đến nơi. Thứ nhất, ta nghĩ không thích hợp để chàng kể với vua cha về cuộc hôn nhân của chúng ta, cũng như thân thế của ta hay chốn chơ vơ này. Hãy xin ngài hãy bằng lòng với việc biết rằng chàng đang sống hạnh phúc và đừng đòi hỏi gì thêm; hãy cho ngài biết rằng mục đích duy nhất của chuyến thăm này là để ngài an lòng và tường thuật về số phận của chàng."
Nàng cắt cử hai mươi tráng sĩ cưỡi ngựa trang bị kỹ càng đi theo hộ tống chàng. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, hoàng tử Ahmed từ biệt tiên nữ, ôm nàng và tái khẳng định lời hứa sẽ sớm trở về. Sau đó, con chiến mã của chàng với bộ yên cương lộng lẫy nhất, đẹp đẽ chẳng kém bất kỳ con nào trong chuồng ngựa của vua xứ Ấn Độ, được dắt đến. Chàng uyển chuyển tung người lên yên với vẻ đẹp phi phàm; và sau khi gửi lời chào vĩnh biệt cuối cùng đến nàng, chàng giục ngựa khởi hành.
Vì kinh đô của vua cha không quá xa, hoàng tử Ahmed chẳng mấy chốc đã đến nơi. Dân chúng vui mừng khôn xiết khi thấy lại chàng, tung hô vang dội và kéo theo thành đoàn lũ lượt theo chân chàng đến tận cung điện của nhà vua. Quốc vương đón nhận, ôm chầm lấy con trai với niềm hân hoan tột độ, đồng thời cất lời trách móc bằng nỗi niềm người cha về chuỗi ngày đau khổ mà sự vắng bóng kéo dài của chàng đã gây ra cho ngài – điều mà ngài bảo càng xót xa hơn khi số phận đã định đoạt cho hoàng tử Ali, khiến ngài sợ rằng con trai út có thể làm ra điều gì liều lĩnh.
Hoàng tử thuật lại chuyến phiêu lưu của mình nhưng giấu nhẹm chuyện về tiên nữ – người mà chàng nói rằng tuyệt đối không thể nhắc tới – và kết lời: "Ân huệ duy nhất con xin kính cẩn thỉnh cầu bệ hạ là cho phép con thường xuyên được trở về diện kiến, tỏ lòng tôn kính và thăm hỏi sức khỏe của người."
"Con trai," quốc vương xứ Ấn Độ đáp, "trẫm không thể từ chối thỉnh cầu của con; nhưng trẫm vẫn mong con hãy quyết định ở lại hẳn bên trẫm; chí ít hãy cho trẫm biết nơi trẫm có thể sai người tìm con nếu con lỡ hẹn, hoặc khi trẫm thấy sự hiện diện của con là cần thiết." "Thưa bệ hạ," hoàng tử Ahmed đáp, "những gì bệ hạ vừa hỏi chính là một phần của điều bí ẩn mà con từng tâu với người. Xin bệ hạ hãy buông tha cho con về điểm này, bởi con sẽ lui tới thường xuyên đến mức con e rằng người sẽ sớm thấy phiền phức hơn là trách con lơ đễnh đạo hiếu."
Quốc vương xứ Ấn Độ không gặng hỏi thêm hoàng tử Ahmed nữa, mà bảo rằng: "Con trai, trẫm không dò xét những bí mật của con nữa và để con được tự do; nhưng trẫm có thể nói rằng chẳng có niềm vui nào lớn hơn việc con lui tới và dùng sự hiện diện của mình để trả lại cho trẫm niềm hạnh phúc đã đánh mất bấy lâu nay. Cửa điện của trẫm luôn rộng mở chào đón con bất cứ lúc nào, mà chẳng hề làm ảnh hưởng đến công việc hay sở thích riêng của con."
Hoàng tử Ahmed chỉ ở lại triều đình của vua cha ba ngày, và sang ngày thứ tư liền quay về với tiên nữ Paribanou – người vốn không ngờ chàng lại về sớm đến thế.
Một tháng sau khi hoàng tử Ahmed trở về từ chuyến thăm cha, tiên nữ Paribanou nhận thấy kể từ lần kể lại chuyện chuyến đi, những lời trò chuyện với vua cha và việc xin phép được thường xuyên về thăm ngài, hoàng tử chưa từng đả động gì đến nhà vua nữa, cứ như trên đời chẳng hề tồn tại con người ấy, trong khi trước kia chàng mở miệng ra là nhắc đến vua cha. Nàng đoán rằng chàng đang kìm nén vì nghĩ cho mình, thế nên nhân một cơ hội nọ, nàng cất lời: "Hoàng tử, hãy nói cho ta nghe, chàng đã quên mất vua cha rồi sao? Chàng không nhớ lời hứa sẽ thường xuyên về thăm ngài nữa à? Phần ta, ta chẳng hề quên những gì chàng đã thổ lộ khi trở về, và ta nhắc nhở để chàng sớm hoàn thành lời hứa của mình."
Thế là sáng hôm sau, hoàng tử Ahmed lên đường với đoàn tùy tùng cũ nhưng trang hoàng lộng lẫy hơn, bản thân chàng cũng ăn vận và cưỡi chiến mã nguy nga tráng lệ hơn nhiều, và được nhà vua đón tiếp với niềm vui sướng hân hoan y như thế. Suốt nhiều tháng ròng, chàng đều đặn về thăm, mỗi lần đi là một lần xe ngựa đoàn tụ lộng lẫy hơn trước.
Cuối cùng, một vài vị tể tướng – những kẻ cận thần sủng ái của nhà vua – nhìn vào thanh thế và quyền lực của hoàng tử Ahmed qua bề ngoài xa hoa ấy liền sinh lòng đố kỵ, tâu với vua cha rằng có điều đáng sợ là hoàng tử đang tranh thủ lòng tin của dân chúng để soán ngôi đoạt vị.
Quốc vương xứ Ấn Độ vốn đinh ninh bản tính hoàng tử Ahmed vô cùng lương thiện, nghe mấy lời sàm tấu ấy liền gạt đi: "Các khanh lầm rồi; con ta yêu quý trẫm, và trẫm hoàn toàn tin tưởng vào lòng hiếu thảo cũng như sự trung thực của nó, bởi trẫm chưa từng làm điều gì khiến nó phật lòng."
Nhưng những kẻ sủng thần vẫn tiếp tục rỉ tai vu khống hoàng tử Ahmed cho đến khi nhà vua phải thốt lên: "Thôi được rồi, dù thế nào đi nữa trẫm cũng không tin con ta lại độc ác như các khanh cố moi móc; tuy nhiên, trẫm ghi nhận những lời can gián đầy thiện chí của các khanh."
Quốc vương xứ Ấn Độ nói vậy để đám cận thần không nhận ra những lời lẽ ấy đã gieo rắc vào tâm trí ngài nỗi hoang mang tột độ. Hoảng sợ trước viễn cảnh đó, ngài quyết định âm thầm cho người theo dõi hoàng tử Ahmed mà không để đại tể tướng hay ai hay biết. Ngài cho triệu một nữ phù thủy, đưa ả vào hậu cung qua một cánh cửa ngách. "Hãy đi ngay," ngài lệnh, "bám theo con trai ta, theo dõi cho bằng được nơi nó lui tới ẩn náu và về bẩm báo lại cho trẫm."
Nữ phù thủy liền từ tạ nhà vua, và vì biết rõ nơi hoàng tử Ahmed từng tìm thấy mũi tên, ả ta lập tức đến đó, ẩn nấp kỹ càng gần các vách đá sao cho không một ai phát hiện ra.
Sáng hôm sau, hoàng tử Ahmed khởi hành từ lúc rạng đông mà không từ biệt nhà vua hay bất kỳ ai trong triều theo lệ thường. Nữ phù thủy nhìn thấy chàng đến, liền dán mắt bám theo cho đến khi bất chợt mất hút bóng dáng chàng cùng đoàn tùy tùng.
Vì những vách đá quá hiểm trở và dựng đứng, chúng đóng vai trò như một bức tường ngăn cách không thể vượt qua, khiến nữ phù thủy phán đoán chỉ có hai khả năng: một là hoàng tử lui tới ẩn náu trong một hang động nào đó, hai là chốn ở của các thần linh hay tiên nữ. Nghĩ vậy, ả bèn bước ra khỏi chỗ ẩn nấp, tiến thẳng đến con đường mòn, lần theo dấu vết cho đến tận cùng, mắt đảo quanh săm soi mọi ngóc ngách. Thế nhưng, mặc cho nỗ lực hết sức, ả chẳng thể tìm thấy bất kỳ lối vào nào, dù chỉ là một khe hở nhỏ hay cánh cửa sắt mà hoàng tử Ahmed từng phát hiện – thứ chỉ hiện hình và mở ra cho con người, hơn thế nữa là những ai được tiên nữ Paribanou mến mộ.
Nữ phù thủy nhận ra việc tiếp tục tìm kiếm chỉ uổng công vô ích, đành thỏa mãn với những gì đã khám phá được và quay về bẩm báo lại cho nhà vua.
Quốc vương vô cùng hài lòng với kết quả mà nữ phù thủy mang lại, bảo rằng: "Tùy ngươi định đoạt bước tiếp theo; trẫm sẽ kiên nhẫn chờ đợi kết quả từ những lời hứa của ngươi." Để khích lệ ả, ngài ban thưởng cho ả một viên kim cương vô giá.
Vì hoàng tử Ahmed đã được tiên nữ Paribanou cho phép về thăm triều đình vua cha mỗi tháng một lần, chàng chưa từng bỏ lỡ. Nữ phù thủy nắm rõ lịch trình ấy, bèn đến chân vách đá trước một hoặc hai ngày để chờ sẵn ở nơi ả từng đánh mất dấu vết của hoàng tử.
Sáng hôm sau, hoàng tử Ahmed xuất hiện đúng lệ thường qua cánh cửa sắt, cùng đoàn tùy tùng quen thuộc, đi lướt qua nữ phù thủy – kẻ mà chàng không hề biết mặt mũi thật sự. Thấy ả nằm bò rạp người áp đầu vào vách đá, rên rỉ như đang chịu đựng những cơn đau quằn quại, lòng trắc ẩn trỗi dậy, chàng liền quay ngựa lại, đến bên ả và hỏi han xem chuyện gì đã xảy ra, liệu chàng có thể giúp gì để xoa dịu nỗi đau ấy cho ả.
Mụ phù thủy xảo quyệt ngước nhìn hoàng tử bằng ánh mắt đáng thương, đầu vẫn cúi gằm, cất giọng đứt quãng đan xen tiếng thở dài như thể chẳng còn hơi sức, than thở rằng ả đang trên đường đến kinh đô nhưng dọc đường bỗng mắc phải một cơn sốt dữ dội đến mức kiệt sức, đành ngã quỵ tại chốn hoang vu không bóng người qua lại này và chẳng còn chút hy vọng được cứu giúp.
"Bà lão tội nghiệp," hoàng tử Ahmed đáp, "bà không phải ở xa chốn cứu trợ đến thế đâu. Ta sẵn sàng giúp đỡ, đưa bà đến nơi có thể chữa khỏi bệnh ngay lập tức; hãy đứng dậy và leo lên ngựa ngồi sau một người của ta."
Nghe vậy, mụ phù thủy – kẻ chỉ giả vờ ngã bệnh để dò la nơi ở và tung tích của hoàng tử – liền chớp lấy lòng tốt ấy. Để làm trò mèo cho trót lọt, ả cố làm ra vẻ nhọc nhằn tìm cách đứng dậy nhưng bất thành. Ngay lập tức, hai cận vệ của hoàng tử xuống ngựa, xốc ả lên rồi đặt ngồi sau một tráng sĩ khác, sau đó họ leo lên yên tiếp tục hộ tống hoàng tử. Chàng quay đầu trở lại cánh cửa sắt vốn được mở sẵn bởi một tên tùy tùng đi đầu. Khi bước vào sân trong của cung điện tiên nữ mà không cần xuống ngựa, chàng sai người nhắn lại rằng mình có việc muốn bẩm báo với nàng.
Tiên nữ Paribanou hớt hải chạy ra với vẻ lo lắng vì chẳng hiểu vì sao hoàng tử Ahmed lại quay về sớm đến thế. Chưa kịp để nàng cất lời hỏi nguyên nhân, chàng đã vội thưa: "Thưa công chúa, tôi khẩn khoản xin nàng hãy rủ lòng trắc ẩn với bà lão tội nghiệp này" – chàng chỉ tay về phía mụ phù thủy đang được hai cận vệ xốc nách đỡ lấy – "Tôi tình cờ gặp bà ấy trong hoàn cảnh ngặt nghèo này, đã hứa giúp đỡ và tin chắc rằng với nhân hậu sẵn có cùng chút nài nỉ của tôi, nàng sẽ không đành lòng bỏ mặc bà ấy."
Tiên nữ Paribanou, từ nãy đến giờ dán chặt đôi mắt vào mụ phù thủy giả ốm, liền ra lệnh cho hai nữ quan theo hầu đỡ ả từ tay hai tráng sĩ kia, đưa thẳng vào một căn phòng trong cung điện và chăm sóc chu đáo như thể chính tay nàng làm vậy.
Trong lúc hai nữ quan đang thực thi mệnh lệnh, tiên nữ bước đến bên hoàng tử Ahmed, hạ giọng thì thầm vào tai chàng: "Hoàng tử, mụ đàn bà này chẳng hề đau ốm gì sất; và ta nhầm sao được nếu ả không phải là một kẻ mạo danh đang nhăm nhe mang lại cho chàng những rắc rối to tát. Nhưng đừng bận lòng, mặc cho kẻ nào đó đang mưu tính trò gì sau lưng chàng; hãy tin rằng ta sẽ cứu chàng thoát khỏi mọi cạm bẫy giăng sẵn. Cứ đi đi, hãy tiếp tục hành trình của chàng."
Những lời cảnh báo ấy chẳng hề khiến hoàng tử Ahmed mảy may sợ hãi. "Thưa công chúa của lòng tôi," chàng đáp, "tôi không nhớ mình từng làm hay mưu tính điều gì tổn hại đến ai, nên tôi chẳng thể tin có kẻ lại nhẫn tâm muốn hãm hại mình; dẫu có đi chăng nữa, điều đó cũng chẳng ngăn được tôi làm việc thiện bất cứ khi nào có cơ hội." Nói đoạn, chàng quay người trở về cung điện của vua cha.
Trong khi đó, hai nữ quan đưa mụ phù thủy vào một căn phòng trang hoàng vô cùng lộng lẫy. Trước tiên, họ đỡ ả ngồi lên một chiếc ghế sofa, lưng tựa vào chiếc gối thêu kim tuyến, rồi chuẩn bị một chiếc giường ngay trên chiếc sofa ấy trước mặt ả. Chiếc chăn bông thêu họa tiết lụa tinh xảo, ga trải giường dệt từ lụa lanh mịn nhất, còn chăn đắp dệt bằng vải dệt kim tuyến. Khi đã đặt ả nằm lên giường (bởi mụ già xảo quyệt cứ khăng khăng kêu ca cơn sốt nặng đến mức tay chân chẳng thể nhúc nhích), một nữ quan bước ra và nhanh chóng quay lại trên tay cầm một chiếc đĩa sứ đựng đầy một loại chất lỏng, đưa cho mụ phù thủy trong lúc người kia giúp ả ngồi dậy. "Hãy uống thứ nước này," nàng nói; "đây là Nước từ Suối Sư Tử, phương thuốc chữa bách bệnh cho mọi loại sốt sắng. Chàng sẽ thấy công hiệu chỉ chưa đầy một tiếng đồng hồ nữa thôi."
Để màn kịch thêm phần chân thật, mụ phù thủy vờ từ chối quanh co rồi mới cầm lấy chiếc đĩa sứ, ngửa cổ nuốt trọn thứ nước ấy. Khi ả nằm xuống lại, hai nữ quan đắp chăn cẩn thận. "Hãy nằm nghỉ ngơi và tranh thủ chợp mắt một lát," nữ quan dặn dò. "Chúng tôi sẽ quay lại, và hy vọng lúc đó bà đã hoàn toàn bình phục."
Đúng hẹn, hai nữ quan quay lại và ngạc nhiên thấy mụ phù thủy đã ngồi dậy, trang phục tề chỉnh trên sofa. "Ôi, thần dược tuyệt diệu!" ả ta tấm tắc: "Nó chữa lành cho tôi nhanh hơn những gì các cô nói, giờ tôi đã đủ sức để tiếp tục hành trình."
Hai nữ quan vốn cũng là các nàng tiên, sau khi bày tỏ niềm vui mừng vì bệnh tình của mụ ta được chữa khỏi nhanh chóng, liền đi trước dẫn đường cho ả rảo bước qua nhiều căn phòng – mỗi phòng còn sang trọng và nguy nga hơn căn phòng ả vừa nằm – để tiến vào một sảnh đường lớn, nơi xa hoa và lộng lẫy nhất toàn cung điện.
Tiên nữ Paribanou đang ngự trên chiếc ngai vàng đúc bằng vàng ròng, nạm kim cương, hồng ngọc và những viên trân châu to lớn bất thường, xung quanh chầu chực đông đảo các nàng tiên xinh đẹp ăn vận lộng lẫy. Trước khung cảnh uy nghi lẫm liệt ấy, mụ phù thủy không chỉ bị lóa mắt mà còn choáng váng đến mức sau khi quỳ rạp rập đầu trước ngai vàng, ả chẳng tài nào thốt nổi một lời để cảm tạ tiên nữ như dự định ban đầu. Dẫu vậy, Paribanou rộng lượng bỏ qua cho ả, thưa rằng: "Bà lão nhân hậu, ta rất vui vì có cơ hội giúp đỡ và thấy bà đã bình phục để tiếp tục lên đường. Ta không giữ bà lại nữa, nhưng có lẽ ngắm nghía cung điện của ta sẽ khiến bà nguôi ngoai phần nào; hãy theo các nữ quan của ta, họ sẽ dẫn bà đi xem."
Thế là mụ phù thủy quay về, thuật lại cho quốc vương xứ Ấn Độ nghe mọi chuyện đã xảy ra, rằng hoàng tử Ahmed hiện giàu có nhường nào sau cuộc hôn nhân với tiên nữ – giàu hơn tất cả các vị vua trên thế giới cộng lại – và hiểm họa chàng sẽ quay về đoạt lấy ngai vàng của vua cha lớn đến mức nào.
Dẫu quốc vương xứ Ấn Độ thừa hiểu bản chất hoàng tử Ahmed vốn lương thiện, ngài vẫn không khỏi bàng hoàng trước những lời rỉ tai của mụ phù thủy già. Khi ả cáo lui, ngài phán rằng: "Trẫm ghi nhận những công sức ngươi đã bỏ ra cùng những lời khuyên hữu ích. Trẫm ý thức rõ tầm quan trọng của việc này nên sẽ mang ra bàn bạc kỹ lưỡng trong triều đình."
Lúc này, đám sủng thần khuyên nên thủ tiêu hoàng tử, nhưng mụ phù thủy lại hiến kế khác: "Hãy sai nó dâng hiến những vật phẩm kỳ diệu từ sự trợ giúp của tiên nữ, cho đến khi mụ ta phát chán và tống cổ nó đi. Lấy ví dụ như mỗi lần bệ hạ xuất chinh, ngài phải tốn kém vô số kể không chỉ cho lều bạt, lầu xanh của quân đội mà còn cả la mã cõng hành lý. Tại sao bệ hạ không bắt nó nhờ vả tiên nữ ban cho một chiếc lều có thể thu gọn trong lòng bàn tay một người, nhưng khi dựng lên lại đủ rộng để che chở cho toàn bộ quân đội tránh khỏi mưa bão?"
Vừa dứt lời, nhà vua liền hỏi các sủng thần xem họ có kế sách nào hay hơn không; và khi thấy tất cả đều câm lặng, ngài quyết định nghe theo lời mụ phù thủy – phương án hợp lý và phù hợp với sự khoan dung của ngài nhất.
Ngày hôm sau, nhà vua làm đúng như lời dặn của ả, cất lời đòi chiếc lều.
Hoàng tử Ahmed chưa bao giờ ngờ vua cha lại cất lời đòi hỏi một thứ quái đản, thoạt nhìn có vẻ khó nhằn đến mức bất khả thi. Dẫu chẳng rõ quyền năng của thần linh và tiên nữ lớn đến đâu, chàng vẫn hoài nghi liệu chúng có vươn tới tầm vươn xa để tạo ra chiếc lều theo ý vua cha hay không. Cuối cùng, chàng đáp: "Dẫu vô cùng miễn cưỡng, con vẫn sẽ xin vợ mình món quà bệ hạ ao ước, nhưng con không dám hứa chắc sẽ thành công; và nếu con không có vinh dự quay lại diện kiến, đó sẽ là dấu hiệu cho thấy con đã thất bại. Trước tiên, xin bệ hạ hãy lượng thứ và nhớ rằng chính ngài đã đẩy con vào bước đường cùng này."
"Con trai," quốc vương đáp, "trẫm sẽ rất đau lòng nếu điều trẫm đòi hỏi khiến ta mãi mãi không gặp lại con. Con chẳng hiểu quyền lực của một người chồng đối với vợ mình lớn thế nào; và với quyền năng của một tiên nữ, vợ con sẽ chứng minh tình yêu dành cho con hời hợt ra sao nếu từ chối một yêu cầu nhỏ nhặt thế này mà con vì trẫm nên mới cất lời." Hoàng tử quay về trong nỗi buồn tê tái, sợ chọc giận tiên nữ. Nàng liên tục gặng hỏi nguyên nhân, và cuối cùng chàng đành thổ lộ: "Thưa phu nhân, chắc nàng nhận ra bấy lâu nay tôi chỉ thỏa mãn với tình yêu của nàng mà chưa từng đòi hỏi điều gì khác. Nhưng xin hãy suy xét, không phải tôi mà chính vua cha – theo cách thiếu suy nghĩ hoặc ít nhất tôi nghĩ vậy – đang khẩn khoản xin nàng một chiếc lều đủ rộng để che chở cho ngài, triều đình và quân đội khỏi mưa bão giông gió, nhưng lại có thể cầm gọn trong tay. Xin hãy nhớ rằng chính vua cha cất lời thỉnh cầu này."
"Hoàng tử," tiên nữ mỉm cười đáp, "ta lấy làm tiếc vì một chuyện nhỏ nhặt nhường này lại khiến chàng bận lòng và lo lắng đến thế."
Nói đoạn, nàng gọi viên quản gia tới. Khi người đó bước ra, nàng truyền lệnh: "Nourgihan" – đó là tên của cô ta – "hãy mang cho ta chiếc lều lớn nhất trong kho báu ra đây." Nourgihan lập tức quay lại, trên tay cầm chiếc lều không những vừa vặn nắm trong tay mà còn lọt thỏm trong lòng bàn tay khi cô ta khép ngón tay lại, rồi trao nó cho chủ nhân. Tiên nữ đưa nó cho hoàng tử Ahmed xem xét.
Khi hoàng tử nhìn thấy chiếc lều mà tiên nữ gọi là lớn nhất trong kho, chàng thầm nghĩ nàng đang đùa cợt mình, và vẻ ngạc nhiên lập tức hiện rõ trên khuôn mặt. Nhận ra điều đó, Paribanou phì cười. "Sao thế! Hoàng tử," nàng kêu lên, "chàng nghĩ ta đang đùa cợt ư? Chàng sẽ thấy ngay thôi, ta hoàn toàn nghiêm túc. Nourgihan," nàng gọi quản gia, giật lấy chiếc lều từ tay hoàng tử Ahmed, "hãy đem nó ra ngoài dựng lên, để hoàng tử tự phán xem nó có đủ rộng cho quân đội của vua cha hay không."
Viên quản gia lập tức mang nó ra khỏi cung điện, đi ra một khoảng đất trống rất xa; và khi cô ta dựng nó lên, một đầu lều vươn tới sát tận cung điện. Nhìn thấy vậy, hoàng tử từ chỗ tưởng nó nhỏ bèn kinh ngạc nhận ra nó đủ sức che chở cho hai đại quân lớn gấp đôi quân số của vua cha, liền thưa với Paribanou: "Tôi muôn vàn xin lỗi công chúa vì đã hoài nghi; sau những gì chứng kiến, tôi tin rằng chẳng có gì là bất khả thi đối với nàng." "Chàng thấy đấy," tiên nữ đáp, "chiếc lều này còn lớn hơn cả nhu cầu thực tế của vua cha; bởi nó có một đặc tính kỳ diệu là tự phóng to hoặc thu nhỏ tùy theo số lượng quân đội nó cần che chở."
Viên quản gia thu chiếc lều lại và mang về cho hoàng tử. Chàng cầm lấy nó, chỉ chờ đến hôm sau liền lên ngựa, cùng đoàn tùy tùng cũ quay về tâu vua cha.
Nhà vua – người vẫn đinh ninh thứ lều bạt như vậy hoàn toàn không tồn tại – vô cùng kinh ngạc trước tốc độ của con trai. Ngài nhận lấy chiếc lều, và sau khi trầm trồ trước kích thước tí hon của nó, sự kinh ngạc lớn đến mức ngài mất một lúc mới hoàn hồn. Khi chiếc lều được dựng lên tại bãi đất trống lớn mà chúng ta đã nhắc đến trước đó, ngài phát hiện nó đủ chỗ che chở cho một đội quân lớn gấp đôi số quân ngài có thể huy động.
Thế nhưng nhà vua vẫn chưa thỏa mãn. "Con trai," ngài nói, "trẫm đã bày tỏ lòng biết ơn vì món quà là chiếc lều con mang về, xem đó là báu vật vô giá trong kho. Nhưng con phải làm thêm một việc nữa cho trẫm, và nó cũng sẽ tuyệt vời không kém. Trẫm nghe nói người vợ tiên nữ của con đang sử dụng một loại nước gọi là Nước Suối Sư Tử – thứ thần dược chữa lành mọi loại sốt sắng, dù là hiểm nghèo nhất; và vì sức khỏe của trẫm vốn vô cùng trân quý đối với con, trẫm tin chắc con sẽ không ngại xin nàng một bình nước đó mang về làm thuốc quý để phòng thân khi cần thiết. Hãy hoàn thành nốt công việc quan trọng này để trọn vẹn đạo làm con hiếu thảo với người cha già."
Hoàng tử quay về thuật lại lời vua cha cho tiên nữ nghe. "Yêu sách này chứa đựng sự độc ác khôn cùng," nàng đáp, "chàng sẽ hiểu rõ qua những gì ta sắp kể. Suối Sư Tử nằm ở trung tâm một khoảng sân của một tòa lâu đài lớn, lối vào được canh gác bởi bốn con sư tử hung dữ – cứ hai con ngủ luân phiên trong khi hai con còn lại thức canh. Nhưng đừng sợ: ta sẽ chỉ cho chàng cách lướt qua chúng an toàn."
Lúc ấy tiên nữ Paribanou đang bận rộn thêu thùa, bên cạnh có sẵn những cuộn chỉ. Nàng cầm một cuộn đưa cho hoàng tử Ahmed và dặn: "Trước hết, cầm lấy cuộn chỉ này, lát nữa ta sẽ chỉ công dụng của nó. Thứ hai, chàng phải chuẩn bị hai con ngựa: một con để cưỡi, con còn lại để dắt theo, chở một con cừu đã mổ thịt chia làm bốn phần được chuẩn bị ngay hôm nay. Thứ ba, phải mang theo một chiếc bình ta đưa để đựng nước. Hãy xuất phát thật sớm vào sáng mai; khi vượt qua cổng sắt, hãy ném cuộn chỉ ra trước mặt, nó sẽ tự lăn cho đến khi tới cổng lâu đài. Cứ lần theo nó, và khi nó dừng lại, vì các cổng đều mở, chàng sẽ thấy bốn con sư tử: hai con thức canh sẽ gầm lên đánh thức hai con kia, nhưng đừng sợ, hãy ném cho mỗi con một phần thịt cừu, rồi quất ngựa phi thẳng đến bờ suối. Múc đầy bình mà không cần xuống ngựa, sau đó phóng nhanh trở về y như lúc đi. Lũ sư tử mải ăn sẽ để mặc chàng qua lại."
Hoàng tử Ahmed lên đường vào sáng hôm sau đúng như giờ giấc tiên nữ dặn dò, thực hiện chính xác mọi chỉ dẫn. Khi đến cổng lâu đài, chàng phân phát bốn phần thịt cừu cho bốn con sư tử, dũng cảm lướt qua giữa bầy mãnh thú để đến bên dòng suối, múc đầy bình nước rồi bình an vô sự quay về. Khi rời khỏi cổng lâu đài một quãng ngắn, chàng ngoái đầu lại và thấy hai con sư tử đang lúp xúp bám theo sau, liền rút kiếm sẵn sàng chiến đấu. Nhưng khi tiến lên, chàng thấy một con tách khỏi đường đi sang một bên, cúi đầu quẫy đuôi ra hiệu rằng nó không đến làm hại mà chỉ muốn dẫn đường, trong khi con còn lại lững thững theo sau. Chàng bèn đút kiếm vào vỏ. Được hộ tống như thế, chàng tiến về kinh đô Ấn Độ; bầy sư tử chỉ chịu quay đầu khi đã đưa chàng đến tận cổng cung điện của nhà vua, sau đó chúng quay về theo lối cũ, dẫu điều đó khiến bất cứ ai trông thấy cũng khiếp vía dẫu chúng di chuyển vô cùng hiền lành và không hề gầm thét dữ dội.
Rất nhiều quan lại ra đón hoàng tử xuống ngựa, sau đó dẫn chàng vào nội điện của nhà vua – nơi ngài đang được bủa vây bởi bầy sủng thần. Chàng tiến lại gần ngai vàng, đặt bình nước xuống chân nhà vua, hôn lên tấm thảm nhung phủ chỗ ngơi chân và thưa:
"Con xin dâng bệ hạ dòng nước thần dược mà bệ hạ hằng ao ước cất giữ trong kho báu, nhưng đồng thời con cũng cầu mong bệ hạ luôn dồi dào sức khỏe để chẳng bao giờ phải dùng đến nó."
Dứt lời, nhà vua kéo hoàng tử ngồi bên tay phải rồi bảo: "Con trai, trẫm vô cùng biết ơn món quà trân quý này, cũng như sự dũng cảm đối mặt hiểm nguy vì trẫm mà con đã trải qua (điều trẫm đã được một mụ phù thủy thông thạo Suối Sư Tử kể lại); nhưng hãy làm ơn cho trẫm biết bằng sự khôn ngoan nào, hay nói đúng hơn là quyền năng thần kỳ nào mà con có thể bình an vô sự trở về?"
"Thưa bệ hạ," hoàng tử Ahmed đáp, "con chẳng có chút công lao nào trong lời khen ngợi của người; toàn bộ vinh dự thuộc về người vợ tiên nữ của con, người mà con đã tuân theo lời khuyên dạy." Chàng liền tường thuật lại toàn bộ những chỉ dẫn ấy, qua đó phơi bày hành trình dũng cảm của mình. Nghe xong, nhà vua dẫu ngoài mặt bày tỏ muôn vàn hoan hỉ nhưng trong thâm tâm lại càng sinh lòng đố kỵ tột độ. Ngài lui về hậu cung và cho triệu nữ phù thủy tới.
Vừa đến nơi, nữ phù thủy liền thưa chuyện trước khi nhà vua kịp thông báo về chiến công của hoàng tử Ahmed – tin tức ả đã hóng hớt được từ trước – và nhanh chóng dâng lên một kế sách hoàn hảo khác theo lời ả khoác lác. Kế sách này được ả thì thầm vào tai nhà vua, và ngay hôm sau, trước mặt bá quan văn võ, ngài tuyên bố với hoàng tử: "Con trai, trẫm còn một yêu cầu cuối cùng này nữa thôi, sau đó trẫm sẽ chẳng bao giờ đòi hỏi thêm bất cứ điều gì từ sự vâng lời hay sự giúp đỡ từ vợ con nữa. Yêu cầu đó là: hãy mang về cho trẫm một người đàn ông cao chưa đầy một thước rưỡi, râu dài tới ba chục thước, vai vác một thanh sắt nặng năm tạ dùng làm côn chiến đấu."
Hoàng tử Ahmed đinh ninh rằng trên đời này chẳng có kiểu người như vua cha mô tả, tậm tịt muốn từ chối; nhưng nhà vua vẫn khăng khăng đòi hỏi, bảo rằng tiên nữ còn làm được nhiều điều phi lý hơn thế.
Hôm sau, hoàng tử quay lại với người vợ yêu dấu Paribanou, thuật lại yêu cầu mới quái đản của vua cha – thứ mà chàng cho là còn bất khả thi hơn hai lần trước. "Bởi vì," chàng nói thêm, "tôi không tài nào tưởng tượng nổi trên đời lại tồn tại một gã như vậy; chắc chắn ngài đang thử thách xem tôi có ngốc nghếch lao đầu vào tìm kiếm hay đang ngấm ngầm mưu hại tôi. Tóm lại, làm sao ngài có thể nghĩ tôi bắt nổi một gã trang bị vũ khí tận răng dẫu hắn chỉ lùn tịt? Tôi có thể dùng thứ vũ khí nào để thuần phục hắn đây? Nếu có cách nào, xin nàng chỉ giáo để tôi giữ được thể diện lần này."
"Đừng sợ, hoàng tử," tiên nữ đáp; "chàng từng mạo hiểm đi lấy Nước Suối Sư Tử vì vua cha, nhưng tìm kiếm gã này thì chẳng có chút nguy hiểm nào cả. Hắn chính là Schaibar, anh trai ta. Dẫu chẳng hề giống ta dẫu chung một cha, tính khí hắn hung bạo đến mức sẵn sàng trút những màn trả thù tàn nhẫn cho một sự xúc phạm nhỏ nhặt nhất; nhưng mặt khác, hắn lại rất tốt bụng và sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai bất cứ điều gì họ muốn. Hắn y hệt như những gì vua cha miêu tả, chẳng mang theo thứ vũ khí nào ngoài thanh sắt nặng năm trăm cân – vật bất ly thân giúp hắn uy hiếp thiên hạ. Ta sẽ triệu hắn tới, chàng sẽ thấy những điều ta nói là sự thật; nhưng hãy chuẩn bị tâm lý để không hoảng sợ trước ngoại hình kỳ dị của hắn khi chạm trán." "Sao cơ! Nữ vương của tôi," hoàng tử Ahmed đáp, "nàng nói Schaibar là anh trai nàng ư? Dẫu hắn có xấu xí hay dị dạng đến đâu đi nữa, tôi chẳng những không sợ hãi mà còn kính trọng và yêu mến hắn như anh em của chúng ta."
Tiên nữ ra lệnh đặt một chiếc lò xông bằng vàng đốt củi hồng ngay dưới hiên cung điện, kèm theo một chiếc hộp kim loại cùng chất – món quà được tặng cho nàng. Nàng bốc một nhúm hương liệu ném vào đống lửa, ngay lập tức một đám mây khói dày đặc bốc lên.
Vài khoảnh khắc sau, tiên nữ bảo hoàng tử Ahmed: "Kìa, anh trai ta đến." Hoàng tử liền thấy Schaibar đang lững thững bước tới với thanh sắt nặng trĩu trên vai, bộ râu dài thườn thượt được hắn túm gọn trước ngực, cùng bộ ria mép rậm rì vén ngược sau tai che gần kín cả khuôn mặt; đôi mắt nhỏ xíu thụt sâu trong cái đầu to bất thường, đội một chiếc mũ lính lựu đạn; chưa kể lưng hắn còn gù hẳn xuống.
Nếu hoàng tử Ahmed không biết trước Schaibar là anh trai Paribanou, có lẽ chàng đã chết khiếp chẳng dám nhìn thẳng; nhưng nắm rõ thân thế của hắn, chàng đứng bên tiên nữ mà chẳng mảy may sợ hãi.
Vừa bước đến gần, Schaibar trừng mắt nhìn hoàng tử đăm đăm đến mức lạnh sống lưng, rồi cất lời hỏi Paribanou xem gã đàn ông đứng cạnh là ai. Nàng đáp: "Hắn là phu quân của em, thưa anh. Tên hắn là Ahmed; con trai quốc vương xứ Ấn Độ. Lý do em không mời anh dự đám cưới là vì sợ làm gián đoạn chuyến viễn chinh của anh – chuyến đi mà em nghe nói anh đã khải hoàn trở lại, thế nên hôm nay em mới mạo muội triệu anh tới."
Nghe vậy, Schaibar dịu nét mặt nhìn hoàng tử Ahmed và bảo: "Thưa tiểu muội, còn điều gì ta có thể giúp hắn nữa không? Chỉ cần hắn là phu quân của em, ta sẵn sàng làm bất cứ điều gì hắn muốn." "Vua cha của hắn," Paribanou đáp, "có nhã ý muốn diện kiến anh, và em muốn anh làm hướng dẫn viên đưa hắn đến triều đình." "Hắn cứ dẫn đường, ta sẽ theo sau." "Thưa anh," Paribanou tiếp lời, "hôm nay đã muộn, hãy đợi đến sáng mai; trong thời gian đó em sẽ kể cho anh nghe mọi chuyện diễn ra giữa vua xứ Ấn Độ và hoàng tử Ahmed từ ngày chúng em kết hôn đến nay."
Sáng hôm sau, sau khi Schaibar đã nắm rõ mọi chuyện, hắn cùng hoàng tử Ahmed lên đường tiến về kinh đô. Khi vừa đến cổng thành, dân chúng vừa thoáng thấy bóng dáng Schaibar liền hoảng hốt tháo chạy tứ tán; kẻ đóng cửa hàng cố thủ trong nhà, người hốt hoảng la hét truyền tai nhau tháo chạy thục mạng chẳng dám ngoái đầu nhìn lại. Cảnh tượng ấy khiến suốt dọc đường tiến vào cung điện của hoàng tử và Schaibar vắng tanh vắng ngắt chẳng một bóng người, cho tới khi họ bước vào sảnh đường thiết triều – nơi đáng lẽ có các thị vệ canh gác nay cũng bỏ trốn sạch trơn. Thế là hoàng tử và Schaibar tiến thẳng vào sảnh hội đồng mà chẳng gặp bất kỳ vật cản nào, nơi nhà vua đang ngự trên ngai vàng ban yết kiến. Tại đây, đám cận thần cũng bỏ vị trí tháo chạy tán loạn khi Schaibar sầm sì bước tới.
Schaibar hung hăng hiên ngang tiến thẳng đến ngai vàng mà chẳng cần hoàng tử Ahmed giới thiệu, cất giọng gầm gừ với quốc vương xứ Ấn Độ: "Ngươi cho gọi ta ư? Ta đây, ngươi muốn gì ở ta?"
Nhà vua thay vì đáp lời liền giơ tay che kín mắt để né tránh khung cảnh gớm ghiếc ấy. Sự tiếp đón thô lỗ và thiếu lễ độ đó khiến Schaibar nổi giận lôi đình sau khi cất công lặn lội đường xa đến đây; hắn lập tức vung thanh sắt giáng một gậy tước mạng nhà vua trước khi hoàng tử Ahmed kịp can thiệp. Tất cả những gì chàng có thể làm là ngăn không cho hắn đập chết đại tể tướng đang ngồi gần đó bằng cách thanh minh rằng vị này luôn hiến kế tốt cho vua cha. "Thì ra lũ này là tụi xúi bậy!" Schaibar gầm lên, và dứt lời, hắn đập chết tươi toàn bộ đám tể tướng cùng lũ sủng thần nịnh hót vốn là kẻ thù của hoàng tử Ahmed. Cứ mỗi cú vung gậy là một mạng người ngã xuống, chẳng ai trốn thoát trừ những kẻ không chết cóng vì sợ hãi mà kịp chân tháo chạy.
Sau màn trừng phạt đẫm máu ấy, Schaibar xách thanh sắt trên vai bước ra sảnh đường tiến thẳng ra giữa sân chính. Nhìn chằm chằm vào đại tể tướng – kẻ may mắn giữ được mạng nhờ hoàng tử Ahmed – hắn ra lệnh: "Ta biết ở đây có một mụ phù thủy là kẻ thù lớn nhất của em rể ta hơn hẳn đống rác rưởi ta vừa dọn sạch. Lôi ả ra đây ngay lập tức!" Đại tể tướng vội vã sai người bắt ả tới, và ngay khi mụ phù thủy bị ném quỳ trước mặt, Schaibar vung gậy phang thẳng: "Nhận lấy phần thưởng cho những mưu kế đê hèn của ngươi, và học cách giả vờ ốm đi nhé!"
Sau đó, hắn tuyên bố: "Chừng này vẫn chưa đủ; ta sẽ san bằng cả cái thị trấn này nếu chúng không lập tức tôn vinh hoàng tử Ahmed – em rể ta – lên làm quốc vương mới của xứ Ấn Độ." Ngay lập tức, đám đông có mặt ở đó hô vang dậy trời lời tung hô: "Muôn năm quốc vương Ahmed!" Chàng được proclam lên ngôi chỉ ít phút sau đó. Schaibar bắt họ mặc hoàng bào cho chàng, đưa chàng lên ngai vàng, và sau khi ép toàn bộ triều thần thề thốt trung thành, hắn thân hành đón tiên nữ Paribanou đến trong sự choáng ngợp của hàng vạn người, sắc phong nàng làm vương hậu xứ Ấn Độ.
Về phần hoàng tử Ali và công chúa Nouronnihar, vì không nhúng tay vào âm mưu chống lại hoàng tử Ahmed và hoàn toàn vô can, hoàng tử Ahmed đã ban cho họ cai quản một vùng tỉnh lộ rộng lớn cùng kinh đô riêng để an hưởng tuổi già suốt phần đời còn lại. Sau đó, chàng phái một sứ giả đến gặp hoàng tử Houssain để thông báo về sự thay đổi triều đại và ngỏ ý ban cho một vùng đất tùy ý lựa chọn. Thế nhưng vị hoàng tử tu hành ấy cảm thấy hạnh phúc viên mãn chốn ẩn dật, bèn nhờ sứ giả chuyển lời cảm tạ lòng tốt của vua anh, khẳng định sự phục tùng tuyệt đối, và khẩn khoản xin ân huệ duy nhất là được tiếp tục sống ẩn dật tại chốn thâm sơn cùng cốc mà chàng đã chọn lựa làm nơi dừng chân.(1)
(1) Truyện Nghìn Lẻ Một Đêm.