Ngày xửa ngày xưa, tại một vương quốc nọ, có vị vua sinh sống trong cung điện được bao quanh bởi một khu vườn rộng lớn. Thế nhưng, dẫu những người làm vườn đông như hội và đất đai màu mỡ, khu vườn ấy lại chẳng mọc nổi lấy một nhành hoa hay quả ngọt, thậm chí đến cỏ dại hay bóng cây râm mát cũng không có.
Nhà vua vô cùng tuyệt vọng vì chuyện đó, cho đến khi một cụ già thông thái thưa với ngài rằng:
“Các làm vườn của bệ hạ chẳng hiểu gì về nghề của họ cả; nhưng ngài còn mong đợi gì ở những kẻ có cha làm thợ giày với thợ mộc cơ chứ? Làm sao họ biết cách vun trồng khu vườn của ngài cho được?”
“Ông nói rất phải,” nhà vua thốt lên.
“Thế nên,” cụ già nói tiếp, “bệ hạ hãy cho người đi tìm một người làm vườn mà cha và ông nội của y đời đời kiếp kiếp làm nghề làm vườn, và chẳng mấy chốc khu vườn của ngài sẽ ngập tràn cỏ xanh thắm cùng muôn hoa rực rỡ, và ngài sẽ được thưởng thức những trái cây ngon tuyệt.”
Thế là nhà vua sai sứ giả đến mọi thị trấn, làng mạc và thôn xóm trong vương quốc để tìm kiếm một người làm vườn có tổ tiên nhiều đời cũng làm nghề này, và sau bốn mươi ngày, họ đã tìm được một người.
“Hãy đi với chúng tôi và làm ngự uyển viên cho nhà vua,” họ bảo anh ta.
“Sao tôi có thể yết kiến nhà vua được,” người làm vườn đáp, “một kẻ nghèo hèn như tôi cơ chứ?”
“Điều đó không có gì quan trọng,” họ đáp. “Đây là quần áo mới cho anh và gia đình.”
“Nhưng tôi đang mắc nợ mấy người liền.”
“Chúng tôi sẽ trả nợ thay anh,” họ nói.
Thế là người làm vườn đành chịu nghe theo và lên đường cùng các sứ giả, dẫn theo cả vợ và con trai; và nhà vua, vô cùng mừng rỡ vì tìm được một người làm vườn đích thực, đã giao phó cho anh ta trọng trách chăm sóc khu vườn của mình. Người đàn ông chẳng mấy khó khăn để khiến khu vườn hoàng gia đơm hoa kết trái, và chỉ sau một năm, khuôn viên nơi đây đã đổi khác hoàn toàn, khiến nhà vua ban thưởng hậu hĩnh cho bề tôi mới của mình.
Như ngài đã nghe kể, người làm vườn có một cậu con trai vô cùng khôi ngô tuấn tú, lại có phong thái cực kỳ lịch thiệp, và mỗi ngày cậu đều mang những trái cây ngon nhất trong vườn dâng lên nhà vua, cùng những đoá hoa đẹp nhất cho công chúa. Lúc bấy giờ, vị công chúa vô cùng xinh đẹp ấy vừa tròn mười sáu tuổi, và nhà vua bắt đầu nghĩ rằng đã đến lúc gả chồng cho nàng.
“Con gái yêu của ta,” ngài bảo, “con đã đến tuổi lấy chồng, thế nên ta đang định gả con cho con trai của tể tướng.”
“Thưa phụ vương,” công chúa đáp, “con sẽ không bao giờ lấy con trai của tể tướng đâu.”
“Sao lại thế hả con?” nhà vua hỏi.
“Vì con yêu con trai của người làm vườn ạ,” công chúa trả lời.
Nghe vậy, nhà vua thoạt đầu vô cùng tức giận, rồi ngài khóc lóc và thở dài, quả quyết rằng một kẻ như thế không xứng đáng làm chồng con gái mình; nhưng vị công chúa trẻ tuổi không tài nào lay chuyển được quyết tâm kết hôn với con trai người làm vườn.
Bấy giờ nhà vua bèn bàn bạc với các đại thần. “Bệ hạ phải làm thế này,” họ hiến kế. “Để tống khứ tên làm vườn đi, ngài hãy sai cả hai kẻ cầu hôn đến một xứ sở thật xa xôi, và kẻ nào trở về trước sẽ được cưới công chúa.”
Nhà vua làm theo lời khuyên ấy, và con trai tể tướng được ban cho một con tuấn mã lộng lẫy cùng một túi đầy tiền vàng, trong khi con trai người làm vườn chỉ có một con ngựa già què quặt cùng một túi đầy tiền đồng, và ai nấy đều nghĩ rằng cậu sẽ chẳng bao giờ quay về sau chuyến đi ấy.
Hôm trước ngày lên đường, công chúa gặp người yêu và dặn rằng:
“Hãy can đảm lên, và luôn nhớ rằng em yêu anh. Hãy cầm lấy túi ngọc này và tận dụng nó thật tốt vì tình yêu dành cho em, rồi mau chóng trở về để hỏi cưới em nhé.”
Hai kẻ cầu hôn cùng rời khỏi thị trấn, nhưng con trai tể tướng quất ngựa phóng đi như bay trên con chiến mã tuyệt vời của mình, và chẳng mấy chốc đã khuất dạng sau những ngọn đồi xa xôi nhất. Chàng đi liền mấy ngày, và chẳng mấy chốc đã đến một dòng suối, nơi có một bà lão rách rưới đang ngồi trên hòn đá.
“Chào cậu lữ khách trẻ tuổi,” bà ta cất tiếng.
Nhưng con trai tể tướng chẳng buồn đáp lại.
“Xin hãy rủ lòng thương tôi, hỡi lữ khách,” bà lại nói. “Tôi đang chết đói như cậu thấy đấy, đã ba ngày nay tôi ở đây mà chẳng có ai cho lấy một chút gì.”
“Tránh ra cho tao nhờ, mụ phù thủy già,” chàng thanh niên quát lên; “tao chẳng giúp gì được cho mày đâu,” nói rồi chàng tiếp tục lên đường.
Cũng vào chiều tối hôm ấy, con trai người làm vườn cỡi con ngựa xám què cỡi đến bên dòng suối.
“Chào cậu lữ khách trẻ tuổi,” mụ ăn mày chào.
“Chào cụ,” chàng đáp.
“Lữ khách trẻ tuổi, xin hãy rủ lòng thương tôi.”
“Hãy cầm lấy túi tiền của tôi, thưa cụ,” chàng bảo, “rồi leo lên ngồi sau tôi, vì đôi chân của cụ chắc chẳng còn chút sức lực nào nữa đâu.”
Bà lão chẳng cần mời đến lần thứ hai, liền trèo lên ngồi sau lưng chàng, và cứ thế họ tiến vào kinh đô của một vương quốc hùng mạnh. Con trai tể tướng trọ ở một quán trọ sang trọng, còn con trai người làm vườn và bà lão thì dừng chân tại quán trọ dành cho kẻ ăn xin.
Hôm sau, con trai người làm vườn nghe thấy tiếng động lớn ngoài phố, những sứ giả của nhà vua đi qua, thổi đủ loại kèn trống và lớn tiếng hô:
“Nhà vua, chủ nhân của chúng ta, nay đã tuổi cao sức yếu. Ngài sẽ trọng thưởng hậu hĩnh cho bất cứ ai chữa khỏi bệnh và trả lại cho ngài sức mạnh tuổi trẻ.”
Lúc đó, bà lão ăn mày liền bảo ân nhân của mình rằng:
“Để đạt được phần thưởng mà nhà vua hứa hẹn, con phải làm thế này. Hãy đi ra khỏi thị trấn bằng cổng phía nam, ở đó con sẽ thấy ba con chó nhỏ với ba màu sắc khác nhau; con thứ nhất màu trắng, con thứ hai màu đen, con thứ ba màu đỏ. Con phải giết chúng rồi đem đốt riêng từng con, sau đó thu nhặt tro tàn. Đặt tro của mỗi con chó vào một chiếc túi đúng với màu của nó, rồi đến trước cửa cung điện và hô lên rằng: ‘Một vị danh y đã đến từ Janina thuộc Albania. Chỉ có ngài mới chữa khỏi bệnh cho nhà vua và trả lại cho ngài sức mạnh tuổi trẻ.’ Các ngự y của nhà vua sẽ bảo rằng: ‘Đây là kẻ bịp bợm chứ chẳng phải bậc học thức gì,’ và họ sẽ gây đủ mọi khó khăn, nhưng cuối cùng con sẽ vượt qua tất cả để diện kiến vị quốc vương đang lâm bệnh. Khi ấy, con phải đòi cho được lượng củi đủ cho ba con lừa chở, cùng một cái vạc lớn, rồi tự giốt mình vào phòng với nhà vua. Khi nước trong vạc sôi lên, con phải quăng ngài vào đó, và để mặc ngài ở đấy cho đến khi thịt róc sạch khỏi xương. Sau đó, hãy sắp xếp các xương lại đúng vị trí của chúng, rồi rắc số tro trong ba chiếc túi lên trên. Nhà vua sẽ sống lại, và sẽ trẻ trung tráng kiện như hồi đôi mươi. Để làm phần thưởng, con hãy đòi chiếc nhẫn bằng đồng có quyền năng ban cho con bất cứ điều gì con ước muốn. Đi đi con, và đừng quên bất kỳ lời dặn dò nào của ta.”
Chàng thanh niên làm theo mọi chỉ dẫn của bà lão ăn mày. Khi ra khỏi thị trấn, chàng tìm thấy ba con chó trắng, đỏ, đen, liền giết và thiêu chúng rồi thu tro tàn vào ba chiếc túi. Sau đó, chàng chạy đến cung điện và hô lớn:
“Một vị danh y vừa đến từ Janina thuộc Albania. Chỉ có ngài mới chữa khỏi bệnh cho nhà vua và trả lại cho ngài sức mạnh tuổi trẻ.”
Ban đầu, các ngự y của nhà vua cười nhạo kẻ lữ hành vô danh ấy, nhưng nhà vua ra lệnh cho phép người lạ mặt được yết kiến. Họ mang đến cái vạc và những củi là củi, và chẳng mấy chốc nhà vua đã chìm trong vạc nước sôi sùng sục. Đến giữa trưa, con trai người làm vườn sắp xếp lại các khúc xương vào đúng chỗ, và chàng vừa mới rắc tro lên trên thì vị vua già đã hồi sinh, ngỡ ngàng nhận ra mình đã trở nên trẻ trung và cường tráng như xưa.
“Ta phải lấy gì để đền đáp con đây, hỡi ân nhân của ta?” ngài kêu lên. “Con có muốn lấy một nửa kho báu của ta không?”
“Không thưa bệ hạ,” con trai người làm vườn đáp.
“Bàn tay của công chúa con ta thì sao?”
“Không.”
“Hãy lấy một nửa vương quốc của ta.”
“Không. Xin chỉ ban cho con chiếc nhẫn bằng đồng có thể ngay lập tức ban cho con bất cứ điều gì con ao ước.”
“Than ôi!” nhà vua nói, “Ta vô cùng quý trọng chiếc nhẫn kỳ diệu ấy; tuy nhiên, con sẽ được sở hữu nó.” Và ngài trao chiếc nhẫn cho chàng.
Con trai người làm vườn quay lại từ biệt bà lão ăn mày; rồi chàng cất tiếng bảo chiếc nhẫn bằng đồng:
“Hãy chuẩn bị cho ta một con tàu lộng lẫy để tiếp tục hành trình. Thân tàu bằng vàng ròng, cột buồm bằng bạc, buồm dệt bằng lụa thêu kim tuyến; thủy thủ đoàn gồm mười hai chàng trai khôi ngô tuấn tú, ăn mặc như những vị vua. Thánh Nicholas sẽ đứng ở bánh lái. Còn hàng hóa, hãy để chúng là kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo và ngọc thạch anh.”
Ngay lập tức, một con tàu xuất hiện trên biển, y hệt như những gì con trai người làm vườn đã mô tả, và bước lên boong, chàng tiếp tục cuộc hành trình. Chẳng mấy chốc, chàng đến một thành phố lớn và dựng lên cho mình một cung điện nguy nga. Vài ngày sau, chàng chạm trán với đối thủ của mình, kẻ là con trai tể tướng — người đã tiêu sạch tiền bạc và bị giáng xuống công việc hèn mọn là đi hốt rác và bụi bặm. Con trai người làm vườn liền cất tiếng hỏi:
“Tên anh là gì, gia thế ra sao, và đến từ xứ sở nào?”
“Ta là con trai tể tướng của một quốc gia hùng mạnh, vậy mà hãy nhìn xem công việc nhục nhã này đã giáng xuống đầu ta.”
“Hãy nghe ta; dù ta chẳng biết gì thêm về anh, nhưng ta sẵn lòng giúp đỡ anh. Ta sẽ cho anh một con tàu để đưa anh trở về quê hương với một điều kiện.”
“Dù điều kiện có là gì đi nữa, ta cũng vui vẻ chấp nhận.”
“Hãy đi theo ta về cung điện.”
Con trai tể tướng đi theo người giàu có mà hắn chẳng hề nhận ra. Khi họ đến cung điện, con trai người làm vườn ra hiệu cho đám nô lệ, và họ lột sạch quần áo của kẻ mới đến.
“Hãy nung đỏ chiếc nhẫn này,” người chủ ra lệnh, “và đóng dấu nó lên lưng kẻ kia.”
Đám nô lệ tuân lệnh.p
“Bây giờ, chàng trai trẻ,” người giàu có nói, “ta sẽ ban cho anh một con thuyền để đưa anh về quê hương.”
Và khi bước ra ngoài, chàng cầm chiếc nhẫn bằng đồng lên và nói:
“Nhẫn đồng hãy vâng lời chủ nhân. Hãy chuẩn bị cho ta một con tàu với những tấm ván mục nát một nửa được sơn màu đen, buồm rách rưới, còn thủy thủ thì đau yếu bệnh tật. Kẻ thì què chân, kẻ cụt tay, kẻ gù lưng, kẻ thọt chân hoặc vẹo bàn chân, kẻ mù lòa, và hầu hết bọn họ đều xấu xí chằng chịt vết sẹo. Đi đi, và làm cho đúng mệnh lệnh của ta.”
Con trai tể tướng xuống con thuyền cũ kỹ ấy, và nhờ ngọn gió thuận chiều, cuối cùng hắn cũng về đến quê hương. Bất chấp vẻ thảm hại khi trở về, hắn vẫn được đón tiếp vô cùng nồng nhiệt.
“Ta là kẻ về đầu tiên,” hắn nói với nhà vua; “giờ thì hãy giữ lời hứa và gả công chúa cho ta.”
Thế là họ lập tức bắt tay vào việc chuẩn bị lễ cưới. Còn về phần vị công chúa tội nghiệp, nàng vô cùng đau khổ và tức giận trước chuyện này.
Sáng hôm sau, khi bình minh vừa ló rạng, một con tàu kỳ diệu giương cao mọi cánh buồm đã thả neo ngoài khơi thị trấn. Ngẫu nhiên lúc đó nhà vua đang đứng bên cửa sổ cung điện.
“Con tàu kỳ lạ nào thế kia,” ngài kêu lên, “có thân tàu bằng vàng, cột buồm bằng bạc, buồm bằng lụa, và những thanh niên trông như vương tôn công tử đang điều khiển nó là ai? Kia chẳng phải ta thấy thánh Nicholas ở bánh lái sao? Hãy mau ra khơi mời thuyền trưởng của con tàu vào cung điện.”
Bọn gia nhân tuân lệnh, và chẳng mấy chốc một vị hoàng tử trẻ tuổi đẹp đến mê hồn bước vào, mặc trang phục lụa quý giá đính ngọc trai và kim cương.
“Hỡi chàng trai trẻ,” nhà vua nói, “chào mừng ngài, bất kể ngài là ai. Xin hãy làm ơn ở lại làm khách của ta chừng nào ngài còn lưu lại kinh đô này.”
“Vô cùng đa tạ bệ hạ,” vị thuyền trưởng đáp, “tôi xin nhận nhã ý của ngài.”
“Con gái ta sắp sửa kết hôn,” nhà vua nói; “ngài có bằng lòng làm chủ hôn cho nó không?”
“Tôi rất hân hạnh, thưa bệ hạ.”
Chẳng mấy chốc công chúa và vị hôn của nàng bước vào.
“Ơ hay, thế này là thế nào?” vị thuyền trưởng trẻ tuổi kêu lên; “ngài định gả vị công chúa đáng yêu này cho một kẻ thế này sao?”
“Nhưng hắn là con trai tể tướng của ta cơ mà!”
“Thì sao chứ? Tôi không thể trao tay con gái ngài được. Kẻ mà nàng đính hôn thực chất là một trong những gia nhân của tôi.”
“Gia nhân của ngài ư?”
“Chắc chắn rồi. Tôi đã gặp hắn ở một thị trấn xa xôi, lúc ấy hắn đang phải đi hốt rác và quét dọn bụi bặm từ các ngôi nhà. Tôi đã rủ lòng thương và nhận hắn làm một trong những người hầu của mình.”
“Thật là hoang đường!” nhà vua thét lên.
“Ngài có muốn tôi chứng minh những điều mình nói không? Kẻ này đã trở về trên một con thuyền do chính tay tôi trang bị, một con tàu không còn khả năng hải hành với thân tàu đen xì dập nát, còn thủy thủ thì đau ốm tàn tật.”
“Chuyện đó hoàn toàn có thật,” nhà vua nói.
“Đó là điều bị đặt,” con trai tể tướng gào lên. “Tôi chẳng quen biết gì người này cả!”
“Thưa bệ hạ,” vị thuyền trưởng trẻ tuổi nói, “xin hãy ra lệnh lột trần vị hôn phu của công chúa ra, và xem trên lưng hắn có đóng dấu chiếc nhẫn của tôi hay không.”
Nhà vua định ra lệnh đó, thì con trai tể tướng, để tránh khỏi sự nhục nhã ê chề ấy, đành thú nhận câu chuyện là sự thật.
“Và giờ đây, thưa bệ hạ, ngài không nhận ra ta nữa sao?”
“Thiếp nhận ra chàng,” công chúa thốt lên; “chàng chính là con trai người làm vườn mà từ trước tới nay thiếp vẫn luôn yêu thương, và chính chàng là người thiếp muốn lấy làm chồng.”
“Chàng trai trẻ, con sẽ là con rể của ta,” nhà vua lớn tiếng. “Lễ cưới đã được chuẩn bị sẵn sàng rồi, vậy con hãy cưới con gái ta ngay trong ngày hôm nay.”
Và thế là ngay ngày hôm đó, con trai người làm vườn đã kết hôn với vị công chúa xinh đẹp.
Vài tháng trôi qua. Đôi trẻ hạnh phúc tựa như ngày dài bất tận, và nhà vua ngày càng đắc ý vì đã kiếm được một người con rể như ý muốn.
Nhưng rồi, chẳng bao lâu sau, vị thuyền trưởng của con tàu vàng thấy cần phải thực hiện một chuyến hải hành dài ngày, và sau khi ôm hôn vợ thắm thiết, chàng xuống tàu.
Thuở ấy, ở vùng ngoại ô kinh đô có một lão già đã dành cả đời để nghiên cứu ma thuật hắc ám — thuật giả kim, chiêm tinh học, ma thuật và bùa chú. Lão ta phát hiện ra rằng con trai người làm vườn chỉ có thể thành công cưới được công chúa nhờ sự giúp đỡ của các vị thần phục tùng chiếc nhẫn bằng đồng.
“Ta phải có được chiếc nhẫn đó,” lão tự nhủ. Thế là lão ra bờ biển bắt vài con cá nhỏ màu đỏ. Trông chúng thực sự vô cùng xinh đẹp. Rồi lão quay về, đi ngang qua cửa sổ phòng công chúa, và bắt đầu ra sức rao:
“Ai mua cá đỏ xinh xắn đây nào?”
Công chúa nghe thấy tiếng rao, bèn sai một người hầu gái ra ngoài bảo với lão bán rong rằng:
“Ông muốn đổi cá lấy gì?”
“Một chiếc nhẫn bằng đồng.”
“Nhẫn đồng ư, lão ngốc này! Mà ta tìm đâu ra thứ đó chứ?”
“Dưới chiếc gối trong phòng của công chúa ấy.”
Người hầu gái quay về thưa với chủ nhân.
“Lão điên này không chịu nhận vàng cũng chẳng chịu nhận bạc,” nàng nói.
“Thế lão muốn gì?”
“Một chiếc nhẫn bằng đồng được giấu dưới chiếc gối ạ.”
“Hãy tìm chiếc nhẫn đó và đưa cho lão,” công chúa bảo.
Và cuối cùng người hầu gái cũng tìm thấy chiếc nhẫn bằng đồng mà vị thuyền trưởng con tàu vàng đã vô tình bỏ quên, rồi mang đến cho lão đàn ông, kẻ đã chuồn đi ngay lập tức với món đồ trong tay.
Lão vừa về đến nhà liền cầm chiếc nhẫn lên và nói: “Nhẫn đồng hãy vâng lời chủ nhân. Ta muốn con tàu vàng biến thành gỗ đen, thủy thủ đoàn biến thành những tên da đen gớm ghiếc; thánh Nicholas phải rời khỏi bánh lái và toàn bộ hàng hóa duy nhất trên tàu chỉ là những con mèo đen.”
Và các vị thần của chiếc nhẫn bằng đồng đã tuân lệnh lão.
Nhận ra mình đang lênh đênh giữa biển khơi trong hoàn cảnh khốn cùng này, vị thuyền trưởng trẻ hiểu rằng hẳn ai đó đã đánh cắp chiếc nhẫn bằng đồng của mình, và chàng lớn tiếng kêu than cho vận hạn; nhưng điều đó chẳng giúp ích gì được cho chàng.
“Than ôi!” chàng tự nhủ, “kẻ nào lấy mất nhẫn của ta chắc cũng đã cướp luôn người vợ thân yêu của ta rồi. Ta trở về quê hương thì còn có ích gì nữa?” Và chàng cứ trôi dạt từ hòn đảo này sang hòn đảo khác, từ bờ biển này sang bờ biển nọ, đinh ninh rằng đi đến đâu mọi người cũng đang cười nhạo mình, và chẳng mấy chốc sự khốn cùng lớn đến mức chàng cùng thủy thủ đoàn và những con mèo đen tội nghiệp chẳng có gì để ăn ngoài cỏ và rễ cây. Sau một thời gian dài lang thang, chàng đến một hòn đảo do loài chuột sinh sống. Vị thuyền trưởng lên bờ và bắt đầu thám hiểm vùng đất. Khắp nơi toàn là chuột và chẳng có gì ngoài chuột. Vài con mèo đen đã đi theo chàng, và vì đã mấy ngày không được cho ăn, chúng vô cùng đói khát và gây ra những tổn thất khủng khiếp cho loài chuột.
Khi ấy, nữ vương loài chuột bèn triệu tập hội đồng.
“Lũ mèo này sẽ ăn thịt sạch chúng ta mất,” bà ta nói, “nếu vị thuyền trưởng con tàu không nhốt những con vật hung dữ đó lại. Hãy cử một phái đoàn gồm những kẻ dũng cảm nhất trong số chúng ta đến gặp hắn.”
Vài con chuột xung phong nhận nhiệm vụ này và lên đường tìm vị thuyền trưởng trẻ tuổi.
“Thưa thuyền trưởng,” chúng nói, “xin hãy mau chóng rời khỏi hòn đảo của chúng tôi, nếu không tất cả loài chuột chúng tôi sẽ bỏ mạng mất.”
“Ta sẵn lòng thôi,” vị thuyền trưởng trẻ đáp, “với một điều kiện. Đó là các ngươi phải mang trả lại cho ta chiếc nhẫn bằng đồng mà một tên phù thủy xảo quyệt nào đó đã đánh cắp mất. Nếu các ngươi không làm được điều này, ta sẽ thả hết lũ mèo của mình lên đảo, và các ngươi sẽ bị tiêu diệt sạch.”
Lũ chuột rút lui trong nỗi kinh hoàng tột độ. “Phải làm sao bây giờ?” Nữ vương thốt lên. “Làm sao chúng ta tìm được chiếc nhẫn bằng đồng này đây?” Bà lại triệu tập một hội đồng mới, gọi chuột từ khắp nơi trên thế giới đến, nhưng chẳng ai biết chiếc nhẫn bằng đồng ở đâu. Bỗng nhiên, ba con chuột từ một xứ sở rất xa xôi đến nơi. Một con bị mù, con thứ hai bị thè thọt, còn con thứ ba thì bị cụt tai.
“Úi chà chà!” mấy kẻ mới đến lên tiếng. “Chúng tôi đến từ một vùng đất vô cùng xa xôi.”
“Các ngươi có biết chiếc nhẫn bằng đồng mà các vị thần phải vâng lệnh đang ở đâu không?”
“Úi chà chà! Chúng tôi biết chứ; một tên phù thủy già đã chiếm đoạt nó, và giờ hắn giữ nó trong túi vào ban ngày và ngậm trong miệng vào ban đêm.”
“Hãy đi lấy nó từ tay hắn và quay về đây nhanh nhất có thể.”
Thế là ba con chuột tự đóng một chiếc thuyền nhỏ và giương buồm đến xứ sở của tên phù thủy. Khi đến kinh đô, chúng lên bờ và chạy thẳng đến cung điện, chỉ để lại con chuột mù ở bờ sông canh giữ thuyền. Rồi chúng đợi đến khi trời tối. Lão già độc ác nằm lên giường, ngậm chiếc nhẫn bằng đồng trong miệng, và chẳng mấy chốc đã chìm vào giấc ngủ.
“Giờ chúng ta phải làm gì đây?” hai con nhỏ thì thầm với nhau.
Con chuột cụt tai tìm thấy một ngọn đèn đầy dầu và một lọ tiêu. Thế là nó nhúng cái đuôi của mình trước tiên vào dầu rồi sau đó vào lọ tiêu, rồi đưa đến sát mũi tên phù thủy.
“Hắt xì! Hắt xì!” lão già hắt hơi, nhưng lão không thức giấc, và cú sốc ấy đã làm chiếc nhẫn bằng đồng văng khỏi miệng lão. Nhanh như chớp, con chuột thọt vồ lấy báu vật và mang thẳng ra thuyền.
Hãy tưởng tượng sự tuyệt vọng của tên phù thủy khi thức dậy mà chẳng thấy chiếc nhẫn bằng đồng đâu nữa!
Nhưng lúc đó ba con chuột của chúng ta đã giương buồm cùng chiến lợi phẩm. Ngọn gió thuận lợi đang đưa chúng về hòn đảo nơi nữ vương loài chuột đang ngóng chờ. Dĩ nhiên là chúng bắt đầu tranh cãi về chiếc nhẫn bằng đồng.
“Đứa nào xứng đáng được công lao lớn nhất nào?” chúng nhao nhao lên tiếng.
“Là tôi chứ,” con chuột mù nói, “vì nếu không có sự cảnh giác của tôi thì thuyền của chúng ta đã bị trôi dạt ra đại dương rồi.”
“Không đời nào,” con chuột cụt tai hét lên; “công lao phải thuộc về tôi chứ. Chẳng phải chính tôi đã khiến chiếc nhẫn văng ra khỏi miệng hắn sao?”
“Không, là của tôi,” con chuột thọt cãi, “vì chính tôi đã vớ lấy chiếc nhẫn và mang đi.”
Từ những lời qua tiếng lại, chúng nhanh chóng lao vào ẩu đả, và than ôi! khi cuộc cãi vã trở nên gay gắt nhất, chiếc nhẫn bằng đồng đã rơiỏ tõm xuống biển.
“Làm sao chúng ta dám đối mặt với nữ vương đây,” ba con chuột than thở, “khi vì sự ngu ngốc của mình mà chúng ta đã đánh mất báu vật và đẩy đồng loại đến bờ vực diệt vong? Chúng ta không thể trở về quê hương được nữa; hãy lên hòn đảo hoang này và kết thúc chuỗi ngày khốn khổ ở đây thôi.” Nói là làm. Con thuyền cập đảo và lũ chuột bước lên bờ.
Con chuột mù nhanh chóng bị hai người chị em bỏ lại để đi bắt ruồi, nhưng khi nó buồn bã lê bước dọc bờ biển, nó tìm thấy một con cá chết và đang ăn thì cảm thấy vướng phải một vật gì đó rất cứng. Nghe tiếng kêu của nó, hai con chuột kia liền chạy tới.
“Đó là chiếc nhẫn bằng đồng! Chính là báu vật!” chúng mừng rỡ kêu lên, và leo lên thuyền, chẳng mấy chốc đã về đến đảo chuột.
Thật là vừa đúng lúc, vì vị thuyền trưởng đang chuẩn bị thả đám mèo lên bờ thì một phái đoàn chuột mang đến cho chàng chiếc nhẫn bằng đồng quý giá.
“Nhẫn đồng,” chàng thanh niên ra lệnh, “hãy vâng lời chủ nhân. Hãy làm cho con tàu của ta trở lại như xưa.”
Ngay lập tức, các vị thần của chiếc nhẫn hành động, và con tàu đen cũ kỹ lại biến thành con tàu vàng tuyệt đẹp với những cánh buồm dệt gấm; các thủy thủ khôi ngô chạy đến bên những cột buồm bằng bạc và những sợi dây thừng bằng lụa, rồi chẳng mấy chốc họ giương buồm hướng về kinh đô.
A! Lũ thủy thủ hát vang vui mừng làm sao khi lướt đi trên mặt biển phẳng lặng như gương!