Lúc tôi bước chân ra ngoài là đúng 2 giờ chiều.
Tôi nghĩ về cách Hope đã khiến Julia Steinberger phải rơi nước mắt tại buổi tiệc trà qua việc gợi lại những kỷ niệm cũ.
Một người nghe giỏi - chính Cindy Vespucci cũng đã nói như vậy.
Nhưng bà ấy lại không thể vận dụng kỹ xảo đó tốt với Kenneth Storm - hoặc với hai sinh viên nam khác.
Vậy bà ấy chỉ có thể kiểm soát nổi phụ nữ mà không thể với nam giới?
Khả năng lớn nhất ở đây là: Một người đàn ông đã “xử tử” bà - đó là cách tôi nghĩ về vụ giết người. Đó là một vụ “xử tử”.
Người đàn ông nào đã làm việc đó?
Người chồng chịu nhiều đau khổ bị đẩy đến bờ vực thẳm ư? Hay một kẻ lạ mặt loạn trí?
Hoặc giả ai đó thân cận với Hope giữa hai thái cực đó?
Đi ngang qua khoa Khoa học, tôi ngồi xuống chiếc bàn đá và kiểm tra thời khóa biểu mà Milo đưa cho.
Nếu bọn họ không trốn học thì lúc này Patrick Huang đang trong giờ Nhiệt động lực học, Deborah Brittain đang trong giờ Toán và Reed Muscadine, một nghiên cứu sinh nghệ thuật sân khấu, đang tham gia tiết thảo luận về Công tác biểu diễn của lớp 201B cách chỗ tôi ngồi 800 mét thuộc sảnh đường Mac-Manus phía bắc của Trường. Nhưng giờ Tâm lý nhận thức của Tessa Bowbly sẽ kết thúc trong vòng 15 phút nữa ở tòa nhà khoa Tâm lý.
Tôi xem ảnh của cô gái trẻ, người đã tố cáo Reed Muscadine hiếp dâm cô ta trong lần hẹn hò. Một bộ tóc ngắn, đen, khuôn mặt nhỏ, gầy, hàm hơi yếu. Nếu trừ đi chất lượng kém của bản phô tô thì cô ta vẫn mang vẻ chán nản.
Đôi mắt sụp của một người tuổi cao hơn nhiều.
Nhưng đó không phải là do vụ việc với Muscadine gây ra. Bức ảnh được chụp vào đầu năm học, trước vụ việc mấy tháng. Tôi uống cà phê ở máy bán tự động và trở lại tòa nhà khoa Tâm lý để xem tình hình cô gái này đã tồi tệ đến mức nào.
*
Lớp học của cô ta tan trước 5 phút nên những sinh viên kéo nhau ra hành lang như nước lũ. Cũng không khó tìm cô ta lắm, vì Bowlby đi một mình, tay xách chiếc túi vải bông chéo chứa đầy sách.
- Cô Bowlby đấy phải không?
Cô gái dừng lại ngay khi nghe tiếng tôi gọi. Cánh tay cô thõng xuống khiến toàn bộ sức nặng của cái túi đè lên vai cô. Mặc dù có cái cằm không được ngay ngắn và vài mụn trứng cá trên mặt nhưng cô gái vẫn toát lên vẻ hấp dẫn với nước da trắng và đôi mắt to xanh. Tóc Bowlby đã nhuộm đen tuyền, cắt bằng - hoặc bất cẩn hoặc đã được cắt một cách cẩn thận. Chóp mũi và lỗ mũi có màu tím - biểu hiện của bệnh cảm cúm hay dị ứng. Cô mặc chiếc áo rét Rác-lăng màu đen rộng thùng thình, một bên tay áo đã bị xơ, chiếc quần jeans đen ống đứng đã cũ, bị rách ở đầu gối, và đôi giày da buộc dây cao, mũi đã sờn.
Cô gái đứng nép vào tường để cho những sinh viên cùng lớp đi qua. Tôi chìa cho cô xem cái thẻ cảnh sát và tự giới thiệu.
- Không - Một tay vẫy, giọng vẻ phản đối dữ dội - Tôi xin ông - Giọng cô trở nên thô ráp. Đôi mắt nhìn nhanh ra phía cửa ra vào.
- Cô Bowlby...!
- Không! - Cô gái hét to - Hãy để tôi yên! Tôi không có gì để nói cả.
Cô phóng nhanh ra phía cửa. Tôi dừng lại vài giây rồi cũng phóng ra theo. Cô ta đi nhanh ra phía cửa chính của tòa nhà, vừa đi vừa chạy, thỉnh thoảng vấp ngã, rồi đi xuống bậc thềm trước tòa nhà hướng tới cái đài phun nước trước cửa. Cái đài phun nước đã khô còn dòng sinh viên tụ tập gần cái lỗ màu đen bẩn thỉu trước khi túa ra khắp sân trường như một đàn kiến.
Cô ta chạy một cách vụng về, cố gắng giữ cái cặp sách. Một thân hình yếu đuối, gầy gò, gầy tới mức mông cô ta không làm cho cái quần jeans vốn đã hẹp căng lên được, cái túi lủng lẳng theo mỗi bước cô ta đi.
Thuốc? Căng thẳng? Chứng biếng ăn? Hay bệnh tật?
Trong lúc tôi đang mải suy nghĩ thì cô ta đã chui tọt vào dòng người và mất dạng.
Sự lo lắng sợ hãi của cô gái khiến tôi càng muốn nói chuyện với người mà cô đã tố cáo.
Tôi nhớ lại những chi tiết trong lời tố cáo: đi xem phim ăn tối, rồi vuốt ve nhau. Tessa nói rằng đã bị ép quan hệ. Muscadine nói rằng quan hệ đó là do hai bên cùng đồng ý.
Chuyện này hoàn toàn không có khả năng chứng minh dù là lời nói của phía nào.
Anh ta đã đi kiểm tra AIDS. Cô gái cũng đã được thử máu. Tất cả đều âm tính.
Nhưng giờ đây cô ta trở nên tái mét, gầy gò và mệt mỏi như một con ma đói.
Căn bệnh chết người ấy lâu mới bộc phát. Có thể sự may mắn của cô ta đã thay đổi.
Điều đó có thể giải thích cho sự hoảng sợ... nhưng cô ta vẫn còn tiếp tục đi học cơ mà.
Có lẽ Hope Devane đã từng là nguồn động viên lớn cho cô gái. Giờ đây, Hope chết rồi nên vấn đề sức khỏe của cô mới đáng lo, liệu có phải cô ta bị ám ảnh không?
Việc thử nghiệm đã được thực hiện tại Trung tâm Y tế Sinh viên. Việc lấy kết quả của cô ta mà không có lý do hợp pháp thì không thể được.
Ngó tới Muscadine dường như quan trọng hơn bao giờ hết, những buổi thảo luận về công tác biểu diễn chỉ được tổ chức mỗi tuần một lần và kéo dài 4 tiếng đồng hồ, giờ này mới được một nửa.
Trong lúc đó, tôi sẽ đi tìm hiểu những người khác. Patrick Huang sẽ tan học trong vòng 30 phút nữa, Deborah Brittain cũng kết thúc ngay sau đó. Lớp học của Huang ở cạnh đây, tại tòa nhà khoa Cơ khí. Tôi trở lại tòa nhà khối Khoa học. Đúng lúc tôi bắt đầu quay đi thì một giọng nói vang lên phía sau lưng tôi:
- Do thám trong khuôn viên trường đại học phải không, thám tử?
Casey Locking đứng cách tôi vài bước, vẻ mặt khôi hài. Bộ tóc dài của anh ta mới được cắt ngắn, anh ta vẫn mặc cái áo choàng, quần jeans và giày đi xe đạp lần trước. Bên trong áo khoác là cái áo phông đen. Chiếc nhẫn đầu lâu vẫn được đeo trên tay mặc dù lần trước anh ta nói là sẽ bỏ nó đi.
Dưới ánh nắng mặt trời, cái đầu người chết cười to hơn, gần như là đang sống thật.
Trong tay đeo nhẫn còn cầm điếu thuốc lá, tay còn lại xách chiếc cặp tùy viên có quai da chạm vàng. Hai ngón tay kẹp điếu thuốc lá bóp lạnh, khói từ điều thuốc bốc lên.
- Tôi không phải là thanh tra - Tôi đáp.
Câu nói đó làm mắt anh ta nheo lại, nhưng những thứ khác trên khuôn mặt vẫn nằm yên.
Tôi leo tới bậc thềm nơi anh ta đứng và chìa ra cái thẻ chuyên viên. Miệng Locking mím lại, mắt soi xét kỹ càng.
Vậy là Seacrest đã không nói điều này cho anh ta.
Nghĩa là họ không thân quen nhau.
- Ông là tiến sỹ về lĩnh vực gì?
- Về tâm lý.
- Thật thế sao? - Anh ta gẩy tàn thuốc cho rơi xuống - Lại làm việc cho cảnh sát nữa à?
- Thỉnh thoảng tôi vẫn làm chuyên viên tư vấn cho cảnh sát.
- Chính xác thì ông làm gì?
- Còn tùy vào từng trường hợp cụ thể.
- Phân tích tình huống phạm tội phải không?
- Tôi làm tất cả mọi thứ.
Sự lập lờ của tôi dường như không làm anh ta bận tâm.
- Rất thú vị. Có phải họ giao ông đến điều tra vụ án giết giáo sư Devane vì bà ấy cũng là chuyên gia tâm lý hay là bởi vì vụ án được xem là phức tạp về khía cạnh tâm lý?
- Cả hai.
- Chuyên gia tâm lý của cảnh sát à - Anh ta rít một hơi dài, giữ khói thuốc trong miệng lúc lâu - Đây là những cơ hội nghề nghiệp mà họ không hề nhắc tới tại trường đại học. Ông đã làm việc này được bao lâu rồi?
- Được vài năm.
Những làn khói trắng tuồn ra từ lỗ mũi anh ta.
- Xung quanh đây người ta chỉ nói tới các vấn đề học thuật. Họ xác định sự thành công bằng số chức vụ mà họ nắm giữ. Những chức vụ này đang biến mất nhưng họ cứ chuẩn bị chúng tôi cho những công việc ấy. Thật là một sự thử nghiệm thực tế buồn cười, nhưng tôi nghĩ thế giới học đường chẳng khi nào bắt kịp với thực tế bên ngoài. Ông có bao giờ nghĩ rằng vụ án của giáo sư Hope sẽ được giải quyết không?
- Tôi không biết nữa. Còn anh?
- Có vẻ không khả quan lắm - Anh ta đáp - Điều này nghe không hay... thế cái ông thanh tra to lớn ấy có nhanh nhẹn không?
- Có.
Anh ta rít thêm vài hơi nữa rồi đưa tay gãi môi.
- Chuyên gia tư vấn tâm lý của cảnh sát à. Thực sự, tôi thấy rất hấp dẫn đấy. Mà lại giúp giải quyết các vấn đề rất to lớn: tội phạm, sự lầm đường lạc lối, bản chất của cái ác. Kể từ khi vụ án xảy ra, tôi thường hay nghĩ về cái ác.
- Thế anh có nhận xét gì không?
Anh ta lắc đầu.
- Những sinh viên không được phép đưa ra nhận xét.
- Thế anh đã tìm thấy giáo viên hướng dẫn mới chưa?
- Vẫn chưa. Tôi cần một ai đó không bắt tôi làm lại từ đầu hay đổ thừa công việc vặt vãnh cho tôi. Giáo sư Hope là người phù hợp với hướng đó. Nếu ông là nghiên cứu sinh như tôi thì bà ấy cũng sẽ đối xử với ông như một người trưởng thành.
- Để mặc anh muốn làm gì thì làm chứ gì?
- Khi nào thấy thích hợp - Anh ta dụi tắt điếu thuốc lá - Bà ấy biết sự khác biệt giữa cái tốt và cái xấu. Bà là người tốt. Tôi cầu cho kẻ nào làm hại bà ấy sẽ phải trải qua cái chết đau đớn, đẫm máu và từ từ.
Môi anh ta cong lên nhưng không thể gọi đó là một nụ cười. Anh ta đặt cái cặp tùy viên xuống và đưa tay vào trong áo khoác lôi ra một bao Marlboro.
- Những điều đó khó có thể xảy ra, phải vậy không? Bởi vì ngay cả khi bằng cách nào đó họ bắt được hắn thì vẫn có những lỗ hổng pháp lý, sự mềm dẻo về thủ tục xét xử. Có thể vị chuyên gia nào đó từ ngành của chúng ta tuyên bố rằng kẻ đó bị thần kinh hay bị chứng rối loạn khả năng kiểm soát hành vi mà trước đó chưa từng nghe thấy bao giờ. Đó là lý do tôi rất thích thú khi biết việc ông đang làm. Đúng về lẽ phải. Lĩnh vực nghiên cứu của tôi là về khả năng tự kiềm chế bản thân. Những thứ vặt vãnh ấy mà - cho chuột ăn tự do để đối chiếu với việc cho ăn theo thời biểu. Nhưng có thể, một ngày nào đó, tôi sẽ đưa công trình áp dụng ra ngoài đời.
- Khả năng kiềm chế bản thân và việc tìm ra tội phạm ư?
- Tại sao lại không chứ? Khả năng tự kiềm chế bản thân là một phần không thể tách rời của nền văn minh. Đó là một thành tố không thể chối bỏ được. Những đứa trẻ khi sinh ra đã xinh xắn, được nuông chiều và không có ý thức về luân lý. Và chắc chắn biến chúng thành những kẻ xấu xa không phải là chuyện khó, phải vậy không ông?
Anh ta nắm tay lại thành một khẩu súng lục:
- Mọi người cứ làm lớn chuyện về những đứa bé 10 tuổi có tài nhưng thực chất chúng là những Fagin[1] và là những con chuột ngoài đường phố có thêm chút công nghệ, có đúng vậy không?
- Thiếu khả năng tự chủ bản thân à - Tôi nói.
- Về mức độ xã hội là thế. Bỏ đi những bộ máy kiểm soát từ bên ngoài thì những quá trình chủ quan hóa - sự phát triển lương tâm ấy sẽ bị dừng lại ngay lập tức, kết quả là có hàng triệu kẻ dã man chạy ngoài đường thoải mái làm theo cơn bốc đồng của chúng. Giống như cái kẻ đã giết giáo sư Hope ấy. Thật điên rồ.
Locking lôi ra chiếc bật lửa và chăm điếu thuốc. Đôi tay hơi rung một chút. Xong xuôi, anh ta nhét cái bật lửa và bao thuốc vào túi áo.
- Tôi nói cho ông biết nhé, nếu có thể tôi sẽ đi nghiên cứu ở cuộc sống thực, nhưng tôi sẽ phải ở trường suốt đời mất và đó là điều hoàn toàn điên dại. Giấy sư Hope đã lái tôi đi đúng hướng, nói rằng tôi không nên cố kiếm giải Nobel làm gì, hãy làm một điều có ích theo khả năng, kiếm lấy cái thẻ công đoàn, và cứ thế mà tiến thân.
Anh ta lại rít điếu thuốc.
- Tìm được một giáo viên hướng dẫn khác không phải dễ. Tôi bị xem là tên phát xít của khoa Tâm lý bởi vì tôi không thể chịu đựng được những điều vô vị và tôi tin vào sức mạnh của kỷ luật.
- Và giáo sư Hope cũng đồng ý với anh chứ?
- Giáo sư Hope vừa là thầy giáo, vừa là một bà mẹ hoàn hảo: cứng cỏi, thật thà, thoải mái cho ông thích đi theo hướng nào tùy ông miễn là ông chứng minh được rằng ông không phải là một kẻ đểu giả. Bà ấy nhìn mọi thứ bằng con mắt mới nguyên, không chấp nhận làm những gì mà người khác mong đợi ở bà. Vì vậy họ đã giết bà ấy.
- Họ ư?
- Họ, hắn, một vài hay một kẻ dã man điên khùng nào đó ấy.
- Anh có giả thuyết nào về động cơ cụ thể không?
Anh ta liếc nhìn cánh cửa kính của tòa nhà.
- Tôi đã tốn rất nhiều thời gian để nghĩ về điều này và tất cả những gì tôi nghĩ ra chỉ là sự đau đầu. Cuối cùng tôi nhận ra rằng sẽ là chuyện phí sức phí công vì tôi không hề có dữ liệu, chỉ toàn những tình cảm cá nhân. Và tình cảm thì đang làm tôi thêm buồn. Đó chính là lý do tại sao tôi mãi mới trở lại với nghiên cứu của mình. Đó cũng là lý do tại sao tôi không thể đến lấy dữ liệu của tôi cho tới tận tối hôm qua. Nhưng bây giờ đã đến lúc phải trở lại rồi. Giáo sư Hope cũng sẽ muốn tôi như thế. Bà ấy không chịu nghe lời xin lỗi bao giờ.
- Đánh đổi dữ liệu lấy việc đi sửa xe là ý kiến của ai vậy? - Tôi hỏi.
Anh ta nhìn tôi chằm chằm.
- Tôi gọi điện cho ông Phillip, ông ấy nói rằng ông ấy đang gặp khó khăn trong việc khởi động cái xe, vì vậy tôi mới đề nghị giúp.
- Vậy anh biết ông ta từ trước à?
- Chỉ từ khi làm việc với giáo sư Hope. Về căn bản, ông Phillip là người phi xã hội... Hèm, rất vui được nói chuyện với ông.
Anh ta nhặt cái cặp tùy viên lên và bắt đầu đi lên cầu thang.
Tôi nói:
- Anh nghĩ gì về Ủy ban Hành vi giữa Cá nhân với Cá nhân?
Anh ta ngừng lại rồi cười:
- Lại chuyện đó à? Tôi nghĩ ư? Tôi nghĩ đó là một ý tưởng hay nhưng không đủ quyền lực để thực thi nó.
- Một số người lại cho rằng Ủy bạn ấy là một sai lầm đấy.
- Thế thì cũng có một số người cho rằng chất lượng cuộc sống có nghĩa là tình trạng hỗn loạn.
- Vậy anh nghĩ rằng lẽ ra cái đó cần được tiếp tục đúng không?
- Chắc chắn rồi, nhưng làm gì còn cơ hội nữa cơ chứ? Ông bố của cái thằng khốn giàu có ấy đã đóng cửa nó bởi vì nơi này hoạt động trên những nguyên tắc giống như bất kỳ hệ thống chính trị nào khác: tiền và quyền lực. Nếu cô gái mà nó hãm hại ấy có một ông bố đầy quyền lực hay giàu có thì ông có thể tin rằng Ủy ban ấy vẫn còn tồn tại và phát triển nữa là khác.
Anh ta hút điếu thuốc cháy tới tận đầu lọc, nhìn rồi quăng đi.
- Vấn đề là ở chỗ phụ nữ luôn là phái yếu hơn nam giới về thể chất và sự an toàn của họ không thể phụ thuộc vào đức hạnh của bất kỳ ai có “dương vật”. Cách duy nhất để tái tạo sự công bằng là thông qua quy định và hậu quả.
- Nghĩa là kỷ luật...
- Nên tin như vậy - Anh ta vuốt cái ve áo - Ông hỏi tôi về Ủy ban là bởi ông cho rằng nó có liên quan tới cái chết của giáo sư Hope? Ông cho rằng một trong những con gà con ấy đã trả đũa bà ấy chứ gì? Nhưng như tôi đã nói rồi đấy, bọn đó chỉ là những tên hèn nhát.
- Những kẻ hèn nhát vẫn thực hiện hành vi giết người đấy thôi.
- Nhưng tôi cũng là thành viên của Ủy ban và đến nay có hề hấn gì đâu.
Cách lý luận hệt như Cruvic đã đưa ra khi đề cập đến chuyện phá thai.
- Vậy tôi xin hỏi anh một vài điều khác. - Tôi nói - Thế giáo sư Hope có bao giờ nhắc đến việc bản thân bà ấy bị ngược đãi không?
Cái ve áo bị bó lại khi anh ta nắm chặt tay:
- Không, nhưng mà sao?
- Đôi khi công việc của người ta thường bị chỉ đạo bởi chính kinh nghiệm của bản thân.
Đôi lông mày đen nhíu lại, đôi mắt anh ta trở nên lạnh lùng.
- Ông muốn đưa những thành tích của bà ấy thành bệnh học tâm thần hả?
- Tôi muốn biết càng nhiều càng tốt về bà ấy. Bà ấy có bao giờ nói chuyện về quá khứ của bà ấy không?
Duỗi thẳng các ngón tay, để cho hai cánh tay rơi xuống rất chậm, rồi đột nhiên giơ rất nhanh lên, gần như là một thế võ, khoanh tay trước ngực như là để đỡ những cú tấn công, anh ta nói:
- Bà ấy nói về công việc. Chỉ thế thôi. Tất cả những gì mang tính cá nhân mà tôi có thể suy diễn là từ đó cả.
- Vậy anh suy diễn điều gì?
- Rằng bà ấy là người thông minh phi thường và biết tập trung trí lực cao độ, quan tâm sâu sắc tới những gì bà ấy đang làm. Đó là lý do tại sao bà ấy đã nhận tôi. Tập trung tư tưởng chính là điều tôi quen làm. Một khi tôi đã làm gì thì tôi sẽ không từ bỏ.
Anh ta cười để hở những cái răng trắng bong.
- Bà ấy đánh giá rất cao việc tôi sẵn sàng đứng ra và nói về tình cảm thực của tôi, về việc tôi tin mọi người không thể cứ làm theo sự thôi thúc cá nhân của họ. Ở trường đại học này, đó vẫn là một dị giáo.
- Thế còn về người sinh viên khác của bà ấy, Mary Ann Gonsalvez, thì sao?
- Có chuyện gì với cô ta vậy?
- Cô ta có khả năng tập trung tư tưởng không?
- Tôi không biết, chúng tôi không thường xuyên gặp nhau. Rất vui được nói chuyện với ông, tôi phải đi làm thí nghiệm đây. Nếu ông tìm ra kẻ chết tiệt ấy, hãy xử tội nó thật nặng vào, cho nó tử hình, mời tôi đến San Quentin để cho nó một mũi tiêm thuốc độc vào tĩnh mạch nhé.
Đưa ra lời chào tạm biệt cộc lốc, anh ta nhảy qua mấy bậc thềm, đẩy cánh cửa kính nặng nề để vào tòa nhà. Khi cánh cửa mở, tôi bỗng nhìn thấy một hình ảnh thoáng qua. Cái miệng anh ta cong lên khó hiểu...
❀ ❀ ❀
[1] Nhân vật xấu trong Oliver Twist.