- Ac-ti-sô à? - Người lau rửa xe đang cầm cái vòi phụt nước hỏi - Có phải là thị trấn Castroville, đi qua Monterey không?
Anh ta có đôi chân vòng kiềng, bụng phệ, hói có một bím tóc màu nâu và bộ răng đồng màu. Anh ta cười khùng khục, nhắc lại từ ac-ti-sô rồi lau kính chắn gió và nhận 20 xu của tôi.
Tôi đã táp vào đường 5 để đổ xăng sau khi đã đi qua Grapevine. Tại đây, xe cộ đột nhiên đông đúc cứ như cái vòi tắc. Nơi đây thường xảy ra những vụ đâm xe có tới 50 chiếc đụng vào nhau khi sương mù dày đặc. Sáng nay, trời nóng và có sương mù, nhưng tầm nhìn vẫn đảm bảo.
Tôi trở lại đường cao tốc và tiếp tục đi về hướng Bắc. Căn cứ vào bản đồ, thị trấn Higginsville nằm ở phía Tây của Bakersfield và về phía Nam của hồ Buena Vista. Nó cách Los Angeles 160 ki-lô-mét và nóng hơn tới 20 độ. Đất tương đối bằng phẳng như vùng trung miền Tây, những cánh đồng cỏ xanh phía sau những cây nhựa khổng lồ. Dâu, cải, linh lăng, rau diếp, tất cả đang quằn quại trong không khí sặc mùi xăng.
Tôi rẽ vào một con đường hai làn và đi vào khu cao nguyên đầy những trang trại nhỏ và những quán nhỏ bên đường đã đóng cửa. Rồi sau đó tôi lái xe xuống một khu lưu vực khô và gặp cái biển có ghi: HIGGINSVILLE, DÂN SỐ 1234 bên trên cái biểu tượng của hãng Rotary đã bị han gỉ. Các con chữ gần như đã bị xóa mờ và biểu tượng trái cam bằng kim loại tấm trên đỉnh đã bị bào mòn.
Tôi lái xe qua một cây sồi và vượt qua một lòng lạch đã bị phù sa lấp đầy. Sau đó là một khu vực giải trí đã bị đóng cửa và cái kho đã bị sập một nửa, trên đó có chiếc biển đã bị vỡ với dòng chữ: QUẦN ÁO MIỀN TÂY. Sau khi đi qua thêm một khu đất bỏ trống nữa, tôi tới đoạn đường lớn dài hai dãy nhà có tên là đại lộ Lemon đầy những tòa nhà hai tầng: các quán bán đồ tạp phẩm, quán cà phê, cửa hàng đồ cũ, một quán bar, một nhà thờ kết hợp bán hàng.
Milo đã gọi điện cho tôi sáng nay và nói rằng vị trưởng đồn cảnh sát ở đó tên là Botula. Đồn cảnh sát nơi ông ta làm việc ở cuối con đường này, là khu nhà màu tím, phía trước có con xe Ford màu xanh cũ.
Bên trong văn phòng đó là một cô gái tóc vàng như nước rửa bát, to béo và xinh xắn trong quá trẻ để được đi bỏ phiếu. Cô ta ngồi sau chiếc bàn cao tới ngang sườn, đối diện cái tổng đài không có động tĩnh gì và đang đọc sách một cách chăm chú. Phía sau cô ta là một người đàn ông Tây Ban Nha có nước da rất đen trong bộ cảnh phục ka-ki đang ngồi gập mình phía sau cái bàn mặt kim loại. Trước mặt anh ta là một cuốn sách đã mở. Anh ta nhìn không già hơn cô gái là mấy.
Cái chuông cửa kêu, cả hai người bọn họ cùng ngước lên nhìn. Anh ta đứng dậy, áng chừng cao 1,80 mét. Da anh ta căng không một nếp nhăn, đen như hạt đậu, miệng rộng như của người Axtếc. Bộ tóc đen của anh ta thẳng, mỏng và được cắt cao ở hai bên, đường ngôi rẽ ngay ngắn, đôi mắt như quả hạnh đã được đốt cháy đen, luôn háo hức được quan sát.
- Bác sỹ Delaware à? Tôi là quận trưởng cảnh sát Botula.
Anh ta đi tới cái bàn làm việc, tháo chốt cánh cửa xoay, và chìa một bàn tay ấm áp và cứng chắc ra:
- Đây là Judy, cấp phó của tôi, điều hành và điều vận viên.
Cô gái ném cho anh ta cái nguýt còn anh ta thì cười toe toét:
- Và cũng là vợ của tôi.
- Tôi là Julia Botula - Cô ta gấp cuốn sách lại và đi về phía chúng tôi.
Tôi đọc tựa đề trên bìa sách. Đó là cuốn Những nguyên tắc thu thập bằng chứng căn bản.
Botula nói:
- Xin mời vào, chúng tôi đã tiến hành một vài điều tra sơ bộ trước khi anh tới. Thực tế, Judy đã làm việc đó.
- Không tìm được gì có tính đột phá đâu - Judy Botula nói.
Botula giải thích:
- Chúng tôi mới đến nơi này, vẫn còn chưa thích nghi với thủy thổ.
Tôi đi tới phía sau cái bàn làm việc và ngồi xuống cái ghế cạnh bàn.
- Thế anh chị tới đây được bao lâu rồi?
- 2 tháng - Botula đáp - Chúng tôi mỗi người làm một nửa, cùng chung công việc.
Một cây lau nhà dựa vào tường phía sau cái tủ hồ sơ. Những bức tường của văn phòng sạch sẽ và trống trơn, không có những bức ảnh về những kẻ bị truy nã thường thấy ở các văn phòng cảnh sát. Sàn nhà sạch bóng, mặc dù có một vài vết xước.
Judy đem ghế lại ngồi. Cô ta gần cao bằng chồng, vai rộng và bộ ngực kếch xù, chắc là cũng khá nặng nề cho cô ta. Cô ta mặc chiếc áo cánh trắng, quần jeans và giày chạy thể thao, cái phù hiệu cảnh sát được cài trên thắt lưng. Đôi mắt có màu xanh biếc, gây ấn tượng mạnh và có chút dáng vẻ chê bai người khác.
- Cả hai chúng tôi cùng tốt nghiệp từ chương trình Luật hình sự tại bang Fresno - Cô giải thích - Chúng tôi muốn vào học viện FBI nhưng hiện nay vào đó phải cạnh tranh rất gắt, vì vậy chúng tôi nghĩ cần phải có một vài năm kinh nghiệm sẽ tốt hơn. Không phải chúng tôi tới đây vì ở đây có nhiều thú vị đâu.
- Nơi đây đẹp và yên tĩnh đấy chứ - Chồng cô ta nói.
- Thì ít nhất cũng là như vậy.
Botula cười:
- Hãy cho chúng tôi thêm thời gian để chúng tôi nghiên cứu. Vậy là... vụ án giết người mà ông đảm nhận. Chúng tôi được biết thông tin qua đài báo ngay sau khi vụ đó xảy ra và rồi có một chuyện vào ngày hôm nay, đó là đã tóm được hung thủ.
- Có thể đó là tin sai đấy - Tôi nói.
- Vâng, đó là điều thanh tra Sturgis đã nói... Ông là chuyên gia tâm lý đảm nhiệm các vụ giết người... phải chăng đó là chuyện thường làm ở Los Angeles?
- Không phải vậy đâu. Tôi chỉ thỉnh thoảng cộng tác với thanh tra Sturgis thôi.
- Tôi cũng có đôi chút hứng thú về ngành tâm lý học, dự định sẽ học khoa học hành vi khi nào tới Quantico. Ông đã bao giờ lập hồ sơ một tên giết người liên hoàn nào chưa?
- Chưa - Tôi trả lời.
Anh ta gật đầu như thể tôi đã nói “Rồi” vậy.
- Món đó hay lắm. Thế trong vụ này ông làm gì?
- Tôi đang cố gắng tìm hiểu càng nhiều càng tốt về bác sỹ Devane.
- Bởi vì bà ấy cũng là bác sỹ tâm lý à?
- Không hẳn, căn bản là chúng tôi hiện không biết gì nhiều về bà ấy.
- Điều đó có lý... Được rồi, đây là những thứ chúng tôi đã tìm được tính đến thời điểm này. Sau khi nói chuyện với thanh tra Sturgis, chúng tôi liền nghĩ xem có cách nào tốt nhất để tìm kiếm thông tin không và đã thu về một số thứ gồm: A) Hồ sơ của thị trấn, B) Hồ sơ trường học, và C) Phỏng vấn những người sống lâu ở đây. Nhưng kết quả là, tất cả những hồ sơ cũ đã bị đóng hộp và chuyển tới Sacramento khoảng 10 năm trước và chúng tôi vẫn không thể tìm ra chúng ở đâu. Đồng thời, những trường mà bà ấy đã học cũng đóng cửa đúng vào thời điểm đó.
- Vậy có chuyện gì đã xảy ra 10 năm trước sao?
- Vâng, cả nơi này đã chết hết - Judy đáp - Tôi nghĩ ông có thể nhận ra điều đó. Nơi đây trước kia là những khu rừng chanh, một vài khu định cư của người địa phương, nhưng phần lớn là những trại của dân di trú tạm thời và những công ty cam chanh sở hữu tất cả những cửa hàng. 10 năm trước, một trận sương giá đã quét sạch tất cả những cây chanh, số cây còn lại bị ve bét và trộm cắp phá hết. Những người di trú tạm thời bỏ đi, các trang trại bị đóng cửa và thay vì trồng lại cây, các công ty đã mua đất ở nơi khác. Dân địa phương phải sống nhờ vào những người công nhân di trú ấy nên khi dân di trú đi hết thì cũng có nhiều người địa phương chuyển đi. Từ những gì tôi thu thập được thì họ đã cố làm những nghề thuộc về du lịch như: mở quán bán hoa quả, vân vân, nhưng cũng không tồn tại được lâu. Nơi này quá xa phần trung tâm các tiểu bang.
- Tôi thấy cái biển báo nói rằng ở đây có tới hơn 1200 người sống cơ mà - Tôi nói.
- Biển báo đó nói đúng đấy - Cô ta đáp - Cái biển ấy là đồ cũ rồi. Chúng tôi tính thì chỉ có khoảng 300 người thôi, và phần lớn trong số này lại là những người đến đây tạm thời, họ tới vào mùa hè để câu cá ở hồ. Những người trụ lại đây phần lớn đều có công việc ở đâu đó ngoại trừ một vài phụ nữ bán hàng ở đại lộ Lemon, và chồng của họ cũng có công việc ở nơi khác. Phần lớn bọn họ đều đã già rồi, vì thế ở đây chúng tôi không có quá nhiều trẻ con, và nếu có thì chúng cũng tới thành phố Ford để học cấp 1, cấp 2 và trung học, sau đó tới học tại Trường trung học Bakersfield. Vì vậy, ở đây không có trường học.
Hope đã tới Bakersfield để học trung học, vì vậy vào thời ấy có lẽ nơi này cũng chỉ là một thị trấn buồn tẻ.
- Còn những người già từ thời nạn nhân còn là một đứa trẻ thì hầu như đã chết hết, nhưng chúng tôi cũng tìm được một bà già, người này có thể đã từng dạy bà ấy khi nơi này có một ngôi trường. Ít nhất thì bà này cũng đủ già để cho ta nói chuyện.
- Có thể đã dạy ư? - Tôi hỏi.
Botula đáp:
- Đúng ra bà ấy không phải là cứ liệu phỏng vấn tốt nhất - Anh ta sờ tay lên thái dương - Có thể việc ông là một bác sỹ tâm lý hóa ra lại tốt.
Judy nói thêm:
- Chúng tôi có thể đi với ông nhưng điều đó sẽ chỉ làm tình hình tồi tệ hơn chứ không giúp được gì mấy.
- Vậy hai người có rắc rối gì với bà lão ấy sao?
- Hôm qua chúng tôi đã đến gặp bà ấy rồi - Botula giải thích - Kết quả thật chẳng đến đâu.
- Đó là anh ấy đã nói nhẹ đi đấy - Judy chau mày và quay trở lại bàn tổng đài. Kể từ khi tôi tới, nó chưa nháy bao giờ.
*
Botula cùng tôi ra ngoài:
- Judy nghĩ rằng nguyên nhân bà lão ấy đối xử không thân thiện với chúng tôi là chuyện chủng tộc - đó là cuộc hôn nhân của chúng tôi.
- Còn anh không nghĩ thế sao?
Anh ta nhìn lên mặt trời và lấy tay che mắt:
- Tôi không biết điều gì đã khiến người ta làm những thứ người ta thường làm. Dù sao, tên của bà là Elsa Campos và nơi ở của bà ấy ngay đường Blossom - rẽ trái ở góc tiếp theo.
Vẻ mặt ngạc nhiên của tôi làm cho anh ta cười:
- Khi tôi nói đến từ chủng tộc, ông nghĩ bà ấy là một người gốc Anh à?
- Đúng thế.
- Đúng - Anh ta nói - Điều đó là có lý. Nhưng con người là con người. Địa chỉ là số 8 đường Blossom, nhưng ông sẽ không cần đâu, chỉ cần tới đó là ông sẽ biết ngay.
*
Đường Blossom không có vỉa hè, chỉ có hai dải có màu nâu ở hai bên con đường đã bị tàn phá. Một vài cây chanh khẳng khiu mọc cạnh lề đường, trông nhỏ bé dưới những cây khuynh diệp khổng lồ màu bạc. Ở đây cây cối cũng không hề được cắt tỉa.
Mé Bắc của con đường là những ngôi nhà, mé Nam là cánh đồng khô cằn. Những số nhà từ 1 tới 7 là những chiếc lều nhỏ rách nát không được sửa chữa. Nhà của Elsa Campos là ngôi nhà gỗ rộng hơn có hai tầng làm bằng gỗ đỏ, hai bên là hai cây tuyết tùng khổng lồ. Vùng đất bao quanh là cát cứng đơ, không hề có gì làm đẹp cho phong cảnh. Lớp xích sắt cao 2,1 mét bao xung quanh cơ ngơi nhà Elsa Campos. Trên cổng là cái biển ghi: CẨN THẬN CÓ CHÓ DỮ và khoảng 20 con chó đang sủa, rên, nhảy ầm ỹ sau hàng rào.
Những chó Xpan-nhơn, chó Doberman màu đỏ, chó lai đủ hình dáng kích cỡ, có một con chó to như con gấu màu đen đang húc mũi xuống đất.
Tiếng sủa nghe nhức óc nhưng không hề có nghĩa là chó dữ - ngược lại những cái đuôi chó vẫy vẫy, lưỡi thè ra và những con chó nhỏ hơn thì nhảy hoan hỉ và cào cào vào cái hàng rào.
Tôi ra khỏi chiếc Seville. Cái hàng rào căng lên, một số con chó chạy ngược lại, quay vòng và lao thẳng vào hàng rào.
Ít nhất có tới hơn 20 con, tất cả đều được chải chuốt chỉnh tề và còn khỏe mạnh. Nhưng với số chó đông như thế thì việc vệ sinh chắc hẳn hạn chế vì tôi có thể ngửi thấy mùi bốc lên từ cái sân trước khi tôi tới cửa.
Không có chuông, không có khóa, chỉ có một then cài. Những con chó tiếp tục sủa và nhảy, nhiều con húc mũi cắn dây xích. Tôi có thể nhìn thấy những đống phân chó ngổn ngang trong sân nhưng trong bán kính 3 mét cách ngôi nhà thì hoàn toàn sạch sẽ, vết bồ cào vẫn còn in rõ.
Tôi chìa một tay ra, úp lòng bàn tay xuống, tới chỗ mõm con chó Xpan-nhơn. Nó liền liếm tay tôi. Rồi một loạt những con chó khác thi nhau thò lưỡi ra để liếm tay tôi. Con chó Doberman thong thả đi tới, nhìn chằm chằm một lát rồi bỏ đi. Những con khác đua nhau thò lưỡi ra và cánh cổng kêu răng rắc. Nhưng con chó đen to vẫn không chạy tới.
Lúc tôi đang ngần ngại không biết có nên vào không thì cánh cửa trước ngôi nhà bật mở. Một bà già mặc chiếc áo sơ-mi tránh rét màu tím và quần bò rộng xuất hiện, tay cầm cây chổi.
Mấy con chó vẫy đuôi rối rít và chạy bổ tới chỗ bà lão.
Bà lão quát:
- Đồ chó má, cút ngay đi.
Nhưng tay bà đã đưa vào túi và ném ra một nắm thứ gì đó xuống mặt đất.
- Tìm đi.
Bọn chó chạy lăng xăng và bắt đầu đánh hơi một cách điên cuồng khắp sân. Cảnh tượng giống như một bộ phim hoạt hình trước kia của hãng Warner Brothers. Bà lão quay về hướng cổng và đi tới, vừa đi vừa kéo lê cái chổi dưới đất.
- Xin chào bà - Tôi nói.
- Chào anh - Giọng bà như nhai lại lời tôi. Liếc mắt ra ngoài, bà lão tiếp tục dò xét tôi. Bà cao dộ 1,56 mét và gầy, mái tóc màu đen được túm ra phía sau thành cái bím tóc dài tới tận eo, đôi má hóp lại và màu tai tái trông khô như là đất cát nơi đây, đôi bàn tay khẳng khiu đã chuyển thành màu xám, những móng tay dày và có màu vàng ố. Cái áo sơ-mi tránh rét có hàng chữ IRENO! Đôi chân bà như hai chiếc gậy nhỏ, bàn chân màu trắng nhợt.
Lúc này, con chó to đã đi lại phía chúng tôi, dáng đi của nó chậm chạp. Nó nhiều lông tới mức đôi mắt gần như bị che kín. Cái đầu của nó cao tới eo của bà lão và chiếc lưỡi to bằng chai nước nóng.
- Thôi ngay đi, Leopold - Bà lão quát bằng giọng khô khan - Hãy đi kiếm ăn giống như những đứa khác đi.
Con chó nghển cái cổ lên giống như con Spike thường làm và ngước nhìn bà lão, mắt nó đã ươn ướt.
- Không, không thể được. Hãy đi tìm đi.
Cái đầu khổng lồ của nó cọ vào cái dây thắt lưng của bà lão. Điều đó làm tôi nhớ đến điều gì đó - đó là con chó tai cụp lai giống chó bun của bà Green. Tuần này tôi toàn gặp các bà già và chó lớn. Một tiếng rên phát ra từ cái miệng đầy lông của nó. Tôi có thể nhìn thấy những thớ cơ phía bên dưới đám lông đen.
Bà lão nhìn những con chó khác xung quanh. Chúng vẫn đang tìm kiếm. Bà thò tay vào túi quần và rút ra một nắm khác - đó là những mẩu bánh bích quy cho chó màu đậu nhục khấu.
- Hãy tìm đi - Bà nói rồi ném tung nắm bích quy đó ra. Những con chó trong sân quay lại rất nhanh nhưng con chó to vẫn cứ ở yên chỗ. Sau cái nhìn lén nữa, bà lão liền lôi ra một cái bánh bích quy và nhét nhanh vào miệng con vật.
- Được rồi, Leopold, bây giờ thì ăn đi.
Con chó đen nhai một cách thỏa mãn, rồi lững thững bước đi.
- Gì vậy, phải chăng đó là con chó chăn cừu? - Tôi hỏi.
- Nó là giống chó Bouvier des Flandres - Bỉ đấy. Anh có thể tin được rằng có người lại bỏ nó không?
- Chắc là họ điên.
Bà lão nhìn tôi ngờ vực:
- Họ nghèo quá. Cũng là thanh tra.
- Tôi cũng có một con chó bun giống Pháp - Tôi nói - Nó nhỏ hơn nhưng cũng có cách sống như con chó ấy của bà.
- Nghĩa là sao?
- Nghĩa là: “Tôi là một ngôi sao đấy, hãy cho tôi ăn đi”.
Khuôn mặt bà lão vẫn bình thản.
- Chó bun giống Pháp à - đó có phải là những con chó nhỏ có cái tai lớn không? Tôi chưa bao giờ có con nào như thế. Có phải đó là con chó duy nhất mà anh có không?
Tôi gật đầu.
- Còn tôi thì có tới 21 con đấy. Tính cả 3 con đang bị ốm ở bên trong.
- Bà cứu chúng à?
- Anh đoán đúng đấy. Một số con tôi mua rẻ, một số con tôi nhặt được khi lái xe đi xung quanh đây - Bà khịt mũi - Hôi quá, đã đến lúc phải vãi chất khử mùi rồi. Tôi mới kiếm được chất này đấy. Vậy anh là ai và anh cần gì?
- Tôi được người ta cho biết bà trước kia đã dạy học ở đây, thưa bà Campos.
- Ai bảo với anh điều đó?
- Cảnh sát trưởng Botula và...
Bà ta khịt mũi:
- Lại là hai người đó. Họ còn nói gì khác với anh nữa? Rằng tôi là bà già điên trong thị trấn này phải không?
- Không, họ chỉ nói bà có thể giúp tôi tìm ra một số thông tin về một người phụ nữ đã lớn lên ở đây. Thật không may, người phụ nữ ấy đã bị giết và cảnh sát Los Angeles yêu cầu tôi...
- Bị giết à? Chúng ta đang nói về ai vậy?
- Về Hope Devane.
Cái tên đó làm mặt bà lão biến sắc. Bà lão liền quay mặt lại nhìn những con chó và khi bà quay lại nhìn tôi, nét mặt bà là sự hòa trộn của sự trong trắng bị phá nát và sự bi quan trầm trọng.
- Chuyện gì đã xảy ra với cô ta? Khi nào vậy?
- Có kẻ nào đó đã đâm bà ấy ở ngay trước cửa nhà 3 tháng trước đây.
- Ở đâu?
- Los Angeles.
- Đúng là số phận. Thử hỏi, cô ta có trở thành bác sỹ gì đó không?
- Bà ấy là bác sỹ tâm lý.
- Vậy là đúng rồi.
- Bà ấy có kế hoạch trở thành bác sỹ à? - Tôi hỏi.
Bà lão nhìn xa xăm, sang phía đường bên kia, tới cánh đồng trống và khô cằn. Hai bàn tay bà sờ lên má, day day da mặt, và con trong giây phút đó, tôi hình dung ra một phụ nữ trẻ hơn.
- Bị giết rồi. Thật không thể tin được. Có biết ai đã giết không?
- Không, cho tới nay vụ đó vẫn không có manh mối gì. Đó là lý do tại sao cảnh sát đang cố tìm kiếm càng nhiều thông tin về xuất thân của bà ấy càng tốt.
- Vậy họ đề nghị anh tới đây phải không?
- Đúng vậy, thưa bà.
- Anh đang nói tới cảnh sát bằng ngôi thứ ba. Có nghĩa là anh không phải một trong số họ? Hay anh chỉ là một kẻ nói khoác?
- Tôi cũng là một bác sỹ tâm lý, thưa bà Campos. Thỉnh thoảng tôi làm tư vấn cho cảnh sát.
- Anh có bằng chứng gì không?
Tôi chìa cho bà lão xem cái phù hiệu.
Bà lão cầm lấy xem đi xem lại rất tỉ mỉ.
- Tôi chỉ muốn đảm bảo chắc rằng anh không phải là một phóng viên thôi. Tôi khinh bỉ bọn họ vì có lần họ đã viết về những con chó của tôi và vẽ lên hình ảnh tôi như kẻ điên khùng.
Bà lão sờ tay lên cằm.
- Con bé Hope à. Tôi không nói tôi nhớ hết tất cả những học sinh của tôi, nhưng tôi nhớ con bé. Được rồi, xin mời vào.
Bà lão lững thững đi vào trong nhà, để tôi tự mở cổng. Con chó Bouvier đã long nhong chạy ra phía sau ngôi nhà nhưng khi tôi tháo cái then cửa, nó liền quay vòng trở lại và chạy bộ về phía tôi.
- Này Lee, anh ta là người tốt đấy - Bà Elsa Campos nói - Đừng ăn thịt anh ta. Nhé.
*
Tôi theo bà lên hiên và vào một căn phòng lờ mờ có đầy những thứ đồ đạc rẻ tiền cùng những bát thức ăn cho chó. Những cái giá đựng toàn những đồ sành sứ và thủy tinh, mùi lông ướt và kháng sinh nồng nặc trong phòng. Một chiếc đồng hồ đánh chuông đặt trên mặt lò sưởi giống của Arrowhead hơn là Thụy Sỹ.
Căn phòng nhỏ, cái bếp cách đó ba bước. Bà lão mời tôi ngồi xuống và đi vào trong căn phòng đó. Trên bàn có một máy sấy tóc, vài chai dầu tắm cho chó, lò nướng vi ba và cái cũi chó bằng nhựa. Bên trong cũi là một thứ gì đó trắng, nho nhỏ và bất động. Bên trên cái cũi là mấy ống thuốc tiêm thủy tinh, cái bơm tiêm được đậy nắp nhựa, vài cuộn băng.
- Này - Elsa Campos vừa gọi vừa chọc một ngón tay qua cái cửa được giăng lưới mắt cáo. Con chó nhỏ thè lưỡi ra và sủa.
Bà lão thủ thỉ điều gì đó với con chó một lát.
Đây là con Shih Tzu, một năm tuổi. Có kẻ nào đó đã lấy gậy đập vào đầu nó khiến nửa sau của nó bị liệt rồi vứt nó ở đống rác. Chân của nó đã bị nhiễm trùng. Khi tôi nhặt được nó, con chó này chỉ có da bọc xương. Chút nữa là nó thành hơi thối. Nó sẽ không bao giờ trở thành một con chó bình thường nhưng chúng tôi sẽ cố gắng làm cho nó thích nghi với những con chó khác. Leopold sẽ đảm nhận việc đó. Nó là con Alpha - là lớp trưởng của bầy chó ấy đấy. Nó rất tốt với những con yếu.
- Hay thật - Tôi khen, đột nhiên lại nghĩ tới khuôn mặt nặng nề của Milo, đôi lông mày đen, cặp mắt sáng và cử chỉ chậm chạp.
- Anh uống thứ gì nhé?
- Không, cảm ơn bà.
Tôi ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế màu xám trơn trượt. Đệm lông mềm và ấm áp. Hai bên chiếc đồng hồ đánh chuông là những bức ảnh thiên nhiên đã bị ố mờ. Rèm cửa sổ là những cái dây viền màu nâu, những chiếc đèn điện đầy bụi được treo cố định trên đầu rất lộn xộn.
Bà lão lôi một chai bia ra khỏi cái tủ lạnh Kelvinator.
- Tôi lo anh định bắt bớ gì đó bởi vì tôi nuôi một đàn chó như cái sở thú - Bà lão mở nắp chai đánh bốp một tiếng rồi ngửa cổ tu - Nhưng đây là một sở thú sạch sẽ. Tôi không thể chịu nổi mùi này nhưng đó là vì tôi đưa về nhà những con vật bị thương, điều đó sao có thể đồng nghĩa với việc tôi muốn sống bẩn được, phải không?
- Đúng vậy, chẳng có lý do nào để kết luận thế.
- Hãy nói lại với hai người ấy như vậy nhé.
- Vợ chồng nhà Botula ấy à?
- Vợ chồng nhà Botula à?
- Bà ta nói bằng giọng như mỉa mai - Đó là vợ chồng ông bà Sherlock thì có - Bà lão cười - Tuần đầu tiên tới đây, họ liền lái xe vòng quanh thị trấn trên cái xe cũ mà quận cho, cứ như là họ có điều gì đó để làm vậy. Giống như bộ phim Dragnet ấy - có lẽ anh còn quá trẻ để nhớ được bộ phim ấy.
- Thưa bà, tôi chỉ đến để tìm những thông tin thôi - Tôi nói.
Nụ cười của bà lão ngắn hơn cái chớp mắt.
- Anh định tìm thông tin gì ở đây? Rằng cỏ đã mọc cao thêm 5 phân rồi hả? Anh định gửi mẫu tới FBI à? - Bà uống thêm bia - Thật đúng là một đôi. Cứ lái xe xuôi ngược, ngược xuôi suốt cả ngày. Tuần đầu tiên họ đi xe qua đây, nhìn thấy đàn chó nhà tôi chơi ở ngoài, họ dừng xe lại, ra khỏi xe và tới xô cửa ầm ầm. Không cần phải nói anh cũng biết là đàn chó rất hăng. Hồi đó tôi còn có một con Golden 3 chân thích sủa lắm, thật là một dàn nhạc - Bà lão lại cười - Tôi ra ngoài xem có chuyện gì ầm ỹ và thấy họ đang đếm đầu chó và ghi chép. Cô ta nhìn lên rồi lại ngó xuống rồi đọc quy định về sức khỏe - tóm lại là tôi cần phải có một giấy phép nuôi chó. Tôi cười và đi vào bên trong, kể từ đó không có gì liên quan đến họ cả. Bọn họ sẽ sớm phải rời khỏi đây thôi, giống như những người khác vậy.
- Có bao nhiêu người đã từng tới đây?
- Không đếm xuể. Quận cử họ tới từ Fresno để làm 1 năm trong sự quên lãng. Không có việc làm, không có quán ăn McDonald, không có ti vi khiến họ phát điên và điều đầu tiên họ muốn là ra khỏi nơi này - Bà lão cười phá lên rồi nét mặt lại trở nên nghiêm túc - Thế hệ 50 kênh. Cầu Chúa giúp cho những con vật và bất cứ con nào khác khi tôi mang về làm bạn với chúng.
Bà nhòm vào trong cái cũi.
- Nhóc con, đừng lo gì cả, rồi mày sẽ sớm lại chạy được ầm ầm thôi mà.
Bà lão lắc đầu, bím tóc vàng sang hai bên.
- Anh có thể tưởng tượng được kẻ nào đó muốn giết một con vật vô hại như vậy chứ?
- Không - Tôi nói - Nó cũng không thể nào tưởng tượng ra được, giống như vụ án vậy.
Ngồi thẳng dậy, bà lão đặt tay lên bàn, đặt chai bia xuống, và cầm một lọ thuốc tiêm lên. Sau khi đọc cái nhãn thuốc, bà liền đặt xuống và đi vào phòng khách. Lấy cái ghế rách ra, bà ngồi xuống, đặt gót chân lên sàn nhà sơn lót.
- Hope, bị giết rồi. Anh có biết những người Hi Lạp đã làm gì đối với những người đưa tin xấu không? - Bà đưa một ngón tay ngang cổ.
- Hi vọng bà không phải là một người Hi Lạp - Tôi nói.
Bà lão cười to:
- Rất may cho anh là tôi không phải. Tôi thường dạy tất cả các lớp học của tôi về Hi Lạp nhưng không phải theo cách thông thường - không phải rằng họ là những người có văn hóa, quý phái, có những câu chuyện thần thoại và bắt đầu khởi xướng Olympic đâu. Mà bởi vì họ đối xử khá tàn nhẫn với những ai tiếp xúc với họ, cũng tệ hệt như bọn người La Mã vậy. Trong trường học, họ không còn dạy đạo đức nữa, ngoại trừ việc làm thế nào để quan hệ tình dục an toàn. Mà tôi cho rằng điều này là đúng vì nếu đã nằm dưới đất 2 mét thì còn làm được gì có ích cho đời nữa. Nhưng họ cũng cần phải nhìn vào những thứ khác chứ. Thế anh cần biết gì từ tôi nào?
- Điều gì đó về tiểu sử của bà Hope có thể giúp giải thích được cái chết của bà ấy.
- Tại sao tiểu sử của cô ấy lại có thể giúp giải thích được điều gì đó chứ?
Đôi mắt đen của bà lão nhìn thẳng vào đôi mắt tôi, sắc bén như một lưỡi gươm.
- Có vài biểu hiện cho thấy có thể bà ấy đã bị ngược đãi bởi một người trưởng thành. Đôi khi điều đó có liên quan tới sự ngược đãi thời còn là một đứa bé.
- Ngược đãi thế nào?
- Ngược đãi về mặt thể xác. Bị xô đẩy, bị bầm dập.
- Cô ta lập gia đình chưa?
- Rồi.
- Với ai?
- Với một giáo sư lịch sử, nhiều hơn bà ta vài tuổi.
- Có phải chính anh ta đã ngược đãi cô ấy không?
- Chúng tôi không biết.
- Thế anh ta có phải là một nghi can trong vụ giết người này không?
- Không - Tôi đáp.
- Không à? Hay là chưa?
Rất khó nói. Không hề có bằng chứng chống lại ông ta.
- Một giáo sư và một bác sỹ tâm lý - Bà lão nói rồi nhắm mắt lại như thể đang cố gắng hình dung ra cuộc sống của hai vợ chồng họ.
- Bà Hope cũng là một giáo sư - Tôi nói - Bà ấy đã trở thành một nhà nghiên cứu nổi tiếng.
- Cô ta nghiên cứu về lĩnh vực gì?
- Những khía cạnh tâm lý phụ nữ. Vai trò của giới. Sự tự kiềm chế.
Câu nói cuối cùng làm bà lúng túng. Tôi thắc mắc không biết vì sao.
- Tôi hiểu rồi... Hãy nói thử tôi nghe xem cô ta bị giết như thế nào?
Tôi kể tóm tắt lại cách thức bà ta bị đâm ra sao và nói cho bà ấy biết về cuốn sách của Hope, về các cuộc công du quảng cáo.
- Nghe như thể cô ta còn hơn là nổi tiếng đấy.
- Trong 3 năm cuối cùng của đời bà ấy, bà ấy rất có tiếng tăm.
Đầu bà lão giật lại phía sau mấy phân, đôi mắt đen nhíu lại. Tôi cảm thấy mình như cây ngô đang bị một con bò ngửi dò.
- Thế thì tuổi thơ của nó có liên quan gì tới chuyện này? - Bà lão hỏi.
- Chúng tôi là những người sắp chết đuối vớ được cọng rơm thôi. Bà là một trong những cái cọng rơm ấy.
Bà lão lại nhìn xa xăm.
- Nổi tiếng. Tôi không biết điều này là do không được đọc báo hay xem cái hộp ngu ngốc ấy. Tôi đã không làm hai việc này bao năm nay rồi... Thú vị thật.
- Việc gì thú vị vậy, thưa bà?
- Là chuyện cô ấy trở nên nổi tiếng ấy. Khi tôi nhận con bé làm học sinh, con bé ấy nhút nhát lắm. Nó thậm chí còn không dám đọc to trong lớp nữa. Anh có bức ảnh nào của cô ta thời trưởng thành không?
- Không.
- Tệ thật, nếu được trông thấy thì tốt quá. Cô ta có hấp dẫn không?
- Rất hấp dẫn - Tôi miêu tả Hope cho bà lão nghe, mắt bà lão dịu xuống.
- Hồi còn nhỏ, cô ta xinh gái lắm - tôi không thể không nghĩ tới cô ta hồi còn bé được. Một cô gái tóc vàng. Tóc của nó vàng gần thành màu bạch kim... dài tới tận eo, đuôi tóc quăn. Đôi mắt cô ta to, đen. Tôi dạy cô ta cách tết tóc, cho cô cuốn sách có những hình vẽ như một món quà lúc tốt nghiệp.
- Tốt nghiệp lớp 6 phải không ạ?
Bà lão gật đầu lơ đãng. Tiếng cúc cu phát ra từ chiếc đồng hồ đánh chuông và kêu một tiếng bíp.
- Đến giờ tiêm thuốc rồi - Bà lão nói và đứng dậy - Còn có hai con nữa ở trong phòng ngủ của tôi tình trạng thậm chí còn tồi hơn là con Shih Tzu. Con Collie bị một chiếc xe tải cán phải trên đường số 5 và một con chó săn bị bóp cổ nghẹt thở bất tỉnh rồi vứt trên cánh đồng cho chết.
Bà lão đi vào bếp, hút đầy hai xi lanh thuốc, biến mất qua cánh cửa sau.
Tôi ngồi trong căn phòng lờ mờ tối cho tới khi bà lão quay trở lại, mặt nghiêm trọng.
- Bà có vấn đề gì sao? - Tôi hỏi.
- Tôi vẫn nghĩ về Hope. Bao nhiêu năm qua tôi không nghĩ nhiều về cô ta, cho rằng cô ta sẽ có cuộc sống tốt đẹp, nhưng bây giờ khuôn mặt của Hope cứ hiện về trong óc tôi - Bà gõ tay vào mũi - Cảm ơn anh đã làm sống lại những kỷ niệm trong bà già này.
- Bà cho rằng bà ấy sẽ có một cuộc sống tốt đẹp - Tôi nói - Điều đó có nghĩa là bà e rằng có thể điều đó sẽ không xảy ra?
Bà lão ngồi xuống và cười lớn:
- Anh đúng là một nhà tâm lý.
Mắt bà lão nhìn về phía cái đồng hồ rồi dừng lại ở đó một lúc.
Tôi nói:
- Bà không nhớ tất cả những học sinh của mình nhưng lại nhớ được bà ấy. Điều gì đã khiến bà ấy nổi trội như vậy?
- Là trí thông minh của cô ta. Tôi dạy học đã 48 năm và cô ta chính là một trong những đứa học trò thông minh nhất của tôi. Có thể cô ta là đứa thông minh nhất. Cô ta nắm bắt bài nhanh lắm. Và cũng là đứa chịu khó nữa. Anh biết đấy, một số người có tài thường không chịu khó. Bọn họ thường ỷ vào trí thông minh của mình và nghĩ rằng thế giới này phải cần đến bọn họ. Nhưng Hope đúng là một cô bé làm việc chăm chỉ. Và không phải là do hoàn cảnh gia đình của cô ta đâu.
Vùng da quanh đôi mắt đen của bà co lại.
- Không ư? - Tôi hỏi.
- Không - Bà đáp, nhưng lần này giọng nói không phải là kiểu nói nhại - Không phải vì hoàn cảnh gia đình cô ta. Phải nói là vượt qua hoàn cảnh gia đình mới đúng.