Ed Gabelle là nhà tâm sinh lý học hay nổi đóa thất thường, mái tóc hóa râm cứng như rễ tre, cái miệng nhỏ xíu và giọng nói the thé thỉnh thoảng lại pha chút âm sắc của người Anh chính gốc. Chuyên ngành của ông là tạo ra những thương tổn trong hệ thống nơ-ron thần kinh của gián và quan sát kết quả. Gần đây, nghe nói ông ta đang tìm cách để có được một khoản tiền tài trợ nhằm nghiên cứu về sự lạm dụng ma túy.
Ngay sau bữa ăn trưa, tôi gặp được Gabelle khi ông ta đang rời khỏi câu lạc bộ khoa. Ông vận chiếc quần jeans màu xanh da trời, áo sơ-mi vải bông chéo, chiếc ca-ra-vát có họa tiết đơn điệu.
Lời chào gượng ép của ông ta biến mất nhanh chóng khi tôi nêu ra điều tôi cần biết.
- Cảnh sát hả, anh Alex? - Ông nói, vẻ khinh khỉnh - Lý do?
- Trước kia tôi đã từng làm việc với họ.
- Thế hả... ồ, tôi e là không thể giúp gì được anh về vấn đề này. Đây không phải là một vấn đề liên quan đến khoa tôi quản lý.
- Vậy thuộc thẩm quyền của ai?
- Thuộc thẩm quyền của... à, mà Hope là người theo chủ nghĩa cá nhân. Anh hiểu ý tôi nói chứ - là tôi nói tới cuốn sách của bà ấy đó.
- Nó không được khoa đón nhận nồng nhiệt phải không?
- Không, không, đó không phải là cái tôi muốn nói. Bà ấy là người thông minh, tôi cá rằng cuốn sách đã đem lại cho bà ấy nhiều tiền, nhưng bà ấy không dành nhiều thời gian... cho đoàn thể.
- Nghĩa là không có nhiều thời gian với các đồng nghiệp?
- Chính xác.
- Thế còn với các sinh viên?
- Sinh viên ư? - Ông làm như vẻ đó là một từ xa lạ - Tôi cho rằng bà ấy có dành một chút cho sinh viên đấy. Thế thôi, rất vui được gặp anh, anh Alex.
- Cái Ủy ban - Tôi nói - Ông nói rằng đó chỉ là dự án của riêng bà ấy thôi à?
Ông ta liếm môi.
- Nghĩa là sao, hả ông Ed?
- Tôi không thể nói rõ với anh được. Đó là một vấn đề còn chưa rõ ràng, anh ạ.
- Dự án ấy đã chấm dứt rồi. Cái chết của bà ấy làm thay đổi tất cả phải không?
- Anh nghĩ thế ư? - Ông ta bắt đầu bước đi.
- Ít nhất là thế, xin ông cho tôi biết…
- Tất cả những gì tôi có thể cho anh biết - Ông ta vừa nói vừa kéo dài giọng - là tôi không thể cho anh biết điều gì cả. Hãy lên cấp cao hơn mà hỏi.
- Chẳng hạn như?
- Hiệu trưởng.
Khi tôi trình bày điều tôi cần với thư ký của ông hiệu trưởng, giọng cô ta phụt câm như mạch máu bị mỡ làm tắc nghẹn. Một lát cô ta mới nói được và bảo tôi chờ một chút. Tôi đặt máy, gọi cho Milo. Anh nói:
- Đồ con lừa. Tôi thích việc này ghê. Được rồi, tôi sẽ tự đến gặp ông hiệu trưởng xem sao. Cảm ơn vì anh đã đọc bản lý lịch tóm tắt một cách cẩn thận.
- Đó là việc tôi làm để trả công anh thôi.
Milo cười, rồi đột nhiên trở nên nghiêm trọng:
- Thế thì đúng là Hope đã “làm xù lông” ai đó bằng cái Ủy ban của bà ta rồi. Lại nói đến việc làm xù lông, tôi có kiếm được số điện thoại của trợ lý sản xuất chương trình Mayhew rồi. Anh có muốn đảm nhiệm giúp tôi việc này để tôi tập trung vào quấy rối mấy nhà giáo không?
- Tất nhiên là tôi đồng ý. - Tôi trả lời.
- Tên cô ta tên là Suzette Band - Anh nói - nếu không quấy rầy cô ta một mẻ thì cô ta sẽ không chịu gọi điện lại cho anh đâu, vậy thì cứ việc thoải mái mà chọc giận cô ta nhé.
Phải mất 5 lần gọi mới gặp được Suzette Band, nhưng khi cô ta nói chuyện thì giọng cũng khá dễ chịu và vui vẻ.
- Cảnh sát à?
Cứ mạo danh một sỹ quan cảnh sát sẽ dễ dàng hơn là giải thích chính xác về cương vị của tôi nên tôi nói luôn:
- Cô có nhớ một vị khách, giáo sư Hope Devane, mà cô đã mời năm ngoái không?
- Ồ... có. Thật khủng khiếp. Kẻ giết bà ấy đã bị bắt chưa?
- Chưa.
- Vậy làm ơn báo cho chúng tôi ngay khi hắn bị bắt nhé. Chúng tôi muốn làm một phóng sự về chuyện này. Tôi nói nghiêm túc đấy.
Chắc chắn tôi sẽ làm như cô nói.
- Tôi sẽ cố hết sức, thưa cô Band. Nhưng ngay lúc này, xin cô giúp cho một việc. Hôm đó có một vị khách mời nữa cùng trong chương trình với giáo sư Hope Devane, một người đàn ông tên là Karl Neese...
- Có chuyện gì về anh ta thế?
- Chúng tôi muốn nói chuyện với anh ta.
- Vì sao... à mà không, xin anh đừng làm ra vẻ nghiêm trọng vậy. - Rồi cô ta cười - Đó là một chuyện thật tức cười. Không, tôi có thể hiểu tại sao rồi... nhưng xin anh đừng phí thời gian tìm hiểm về Karl nữa.
- Tại sao thế?
Ngừng một lúc.
- Có phải anh đang ghi âm không đấy?
- Không.
Im lặng.
- Cô Band?
- Chắc chắn là anh không ghi âm đấy chứ?
- Tôi khẳng định. Có chuyện gì vậy?
- Thực ra, người mà anh thực sự cần phải nói chuyện với là Eileen Pietsch - nhà sản xuất. Nhưng mà bà ấy đang đi công cán. Tôi sẽ yêu cầu văn phòng của bà ấy gọi cho anh khi nào...
- Tại sao lại phải chờ đợi tốn thời gian như thế nếu như Karl là người không đáng để chúng tôi phải lưu ý?
- Thực sự không đáng đâu, anh ạ. Đó chỉ là... chương trình của chúng tôi... Karl là một...
- Một khách mời chuyên nghiệp?
- Ý tôi không phải thế.
- Vậy tại sao anh ta lại không đáng để chúng tôi phải lưu ý?
- Nghe này... lẽ ra tôi không nên nói với anh, tôi không muốn anh làm to chuyện này ra mang tiếng cho những người làm chương trình. Có trời mới biết hiện có hàng trăm kẻ đang rình mò tìm kiếm những người giơ đầu chịu báng. Chúng tôi cảm thấy chúng tôi đang làm một việc có thành ý với công chúng.
- Và Karl là một phần của cái đó?
Tôi nghe thấy tiếng thở dài ở trên máy.
- Được rồi - Tôi nói - Như vậy anh ta đã được các cô trả tiền để đứng trước ống kính làm nền cho bà giáo sư.
- Tôi không định nói như vậy.
- Nhưng anh ta là một diễn viên, đúng không? Nếu tôi kiểm tra hóa đơn thanh toán hay bảng phân công công tác, có thể tôi sẽ tìm ra anh ta.
- Này - Cô ta nói to hơn, rồi lại thở dài - Vâng, anh ta là một diễn viên. Nhưng theo tôi biết thì chính anh ta cũng có những quan điểm đó thật.
- Vậy thì tại sao chúng tôi lại không cần phải quan tâm đến anh ta chứ? Tình hình hôm đó giữa anh ta và giáo sư Devane đã trở nên rất xấu.
- Nhưng đó là... Này anh, sao anh không chịu buông tha cho tôi chứ... Vậy thì đành phải nói thật với anh, Karl là một diễn viên chuyên nghiệp. Nhưng anh ta là một gã rất tốt. Chúng tôi đã sử dụng Karl từ trước và trong các chương trình khác nữa. Chúng tôi đưa những người như anh ta vào để thêm mắm thêm muối cho chương trình. Đặc biệt là với những giáo sư vì họ thường là những người rất khô khan. Tất cả các chương trình đối thoại đều làm như thế. Một số nhà sản xuất còn sử dụng cả diễn viên làm khán giả. Chúng tôi thì không bao giờ làm thế.
- Nghĩa là cô khẳng định anh ta thực sự không có thái độ thù địch với giáo sư Devane.
- Tất nhiên rồi. Karl là người vui tính. Thực ra, tôi nghĩ chúng tôi đã sử dụng anh ta trong chương trình truyền hình “Người vui tính” vào năm ngoái - anh biết đấy - kéo dài rất lâu và được mọi người tán thưởng. Anh ta làm khá tốt, dễ thích nghi, có khuôn mặt mà anh dễ dàng quên.
- Nghĩa là không ai nhớ rằng họ đã từng nhìn thấy anh ta?
- Chúng tôi thêm vào họ bộ râu quai nón hoặc bộ tóc giả. Dù sao, người xem cũng không tò mò tìm hiểu kỹ làm gì.
- Tôi vẫn cứ muốn nói chuyện với anh ta. Cô có số điện thoại của anh ta không?
Lại gián đoạn.
- Cái gì cơ... à mà tôi muốn thỏa thuận với anh một chuyện.
- Liệu tôi có phải lựa chọn giữa tiền và điều bí ẩn sau bức màn thứ ba không đấy?
- Rất hài hước - Cô ta nói, rồi sự thân thiện trở lại trong giọng nói - Đây là thỏa thuận: Hãy gọi cho tôi ngay sau khi anh giải quyết được vụ án để chúng tôi có những phóng sự đầu tiên, còn tôi sẽ cho anh biết số của Karl. Được chứ?
Tôi giả vờ cân nhắc rồi nói:
- Được.
- Rất tuyệt, mà này, có thể anh cũng đến với chúng tôi luôn đấy nhé. Một thanh tra xuất sắc và một vụ án! Anh có quen đứng trước ống kính không?
- Đèn chiếu làm cho mắt tôi đỏ nhưng bộ nanh của tôi thì luôn trắng muốt.
- Ha ha... rất hài. Có lẽ anh sẽ làm tốt. Chúng tôi đã từng làm chương trình với các cảnh sát nhưng họ thường là những cục gỗ.
- Giống như những giáo sư?
- Giống hệt. Phần lớn mọi người đều như cục gỗ cả nếu không có sự giúp đỡ. Hoặc ít nhất là phải có cả một câu chuyện để mà kể.
- Tôi đã xem các cuốn băng có sự tham gia của Devane - Tôi nói - Dường như bà ấy đã làm khá tốt.
- Anh biết đấy, bà ấy thực sự làm rất tốt. Giáo viên vốn cũng là một diễn viên trên lớp. Bà ấy thật biết cách làm thế nào để tác động tới khán giả. Những gì xảy ra với bà ấy khủng khiếp quá. Nếu còn sống, có lẽ bà ấy sẽ là khách mời thường xuyên của chúng tôi.
*
Số của Karl Neese là một số máy ở tận Thung lũng Trung tâm nhưng khi tôi gọi tới thì máy cho biết có thể gặp được anh ta tại nơi làm việc nếu đó là chuyện vai diễn. Nơi Karl làm việc là cửa hàng thời trang nam của Bo Bancroft ở Đại lộ Robertson.
Tôi tra địa chỉ. Nó nằm giữa đường Beverly và đường Đệ tam, ngay cạnh Designer Row. Vào giờ này, chỉ cần lái xe 20 phút là tới.
Cửa hàng to bằng một căn phòng nhỏ, đầy gương. Các đồ cổ Braxin đã nhuốm màu thời gian được trang trí bằng các họa tiết hoa hồng và hình tượng tôn giáo, những mắc áo có treo các bộ com-lê có giá tới 3 ngàn đô-la. Tiếng nhạc disco vang lên trên hệ thống âm thanh. Có hai người đang làm việc, cả hai đều mặc quần áo màu đen: một cô gái tóc vàng, mắt như hai lỗ khoan ngồi phía sau bàn sổ sách, và Neese - anh ta đang gấp những chiếc áo len ca-sơ-mia.
Kể từ buổi trình diễn trên truyền hình, Neese đã để tóc dài xuống tận vai. Bộ râu đã mọc lởm chởm như gai. Khi nhìn tận mặt thì anh ta có vẻ trẻ hơn tuổi. Nước da màu tái và dáng vẻ đói ăn. Những ngón tay rất dài và trắng.
Tôi tự giới thiệu và nói luôn ý định của tôi cho anh ta.
Anh ta ngừng gấp áo và quay mặt trở lại một cách chậm chạp.
- Có phải ông đang nói đùa không?
- Tôi ước gì được đứng đây mà nói đùa với anh, anh Neese ạ.
- Ông biết không, ngay sau buổi diễn đó, tôi đã tự hỏi liệu sẽ có ai đó gọi cho tôi không.
- Tại sao lại thế?
- Vì chương trình trở nên thật tồi tệ.
- Tồi tệ hơn mức độ đặt ra?
- Không, họ đã trả tiền để tôi phá đám. Họ bảo tôi là hãy diễn mấy trò hề để quấy - Anh ta cười - Không hiểu chỉ đạo nghệ thuật như thế có vấn đề gì không?
- Họ còn bảo anh làm gì nữa?
- Họ đưa cho tôi cuốn sách của bà ấy, bảo tôi đọc để biết bà ấy sắp nói gì. Rồi sau đó lên sân khấu như một kẻ phá quấy điên khùng, cốt làm cho chương trình hấp dẫn đến cực điểm. Không phải là một hợp đồng tồi. 6 tháng trước, tôi đã đóng trong chương trình Xavier làm một ông bố loạn luân không hề biết hối cải. Thêm một chút ria, cặp kính đen và cái áo sơ-mi, tôi sẽ không bị người ta phát hiện là giả, nhưng ngay cả thế thì tôi vẫn lo rằng có một kẻ đần độn nào đó sẽ phát hiện ra tôi ở trên đường và tống cho tôi vài quả đấm.
- Anh đã làm như thế này rất nhiều rồi phải không?
- Không nhiều như tôi muốn. Mỗi chương trình tôi kiếm được 500 đến 600 đô-la nhưng có khá nhiều chương trình mời tôi. Dù sao tôi cũng không nghĩ rằng việc ông đến đây để xem tôi có phải là một con chó sói tồi tệ hay không là một điều kỳ quái. Vào cái đêm bà ấy bị giết, tôi đang tham gia một chương trình phục vụ bữa tối ở Costa Mesa. Chương trình đó tên là “Người đàn ông của La Mancha”. Có đến 400 công dân cao quý đã trông thấy tôi - Anh ta cười - Ít nhất là cũng thấy được lờ mờ bóng dáng của tôi. Trời đất, có thể vài người trong số họ còn tỉnh táo. Đây là số của nhà sản xuất chương trình.
Anh ta đọc một số tại tổng đài 714, đoạn thốt lên:
- Tệ thật.
- Anh than vãn điều gì?
- Về việc bà ấy bị giết. Tôi không thích bà ấy nhưng Hope thực sự rất sắc sảo, đã giải quyết trò phá đám của tôi một cách tuyệt hay. Chắc ông phải ngạc nhiên lắm vì đã có rất nhiều người không thể đối chọi được với trò của tôi dù họ biết trước.
- Nghĩa là bà ấy cũng biết trước anh sẽ làm gì?
- Tất nhiên. Chúng tôi không hề luyện tập chính thức cùng nhau một phút nào nhưng họ đã cho chúng tôi ngồi với nhau ngay trước khi chương trình diễn ra. Tại căn phòng màu xanh lá cây ấy. Tôi nói với Hope rằng tôi sẽ lên sân khấu giống như Frankenstein. Bà ấy nói rằng không vấn đề gì.
- Vậy tại sao anh không thích bà ấy?
- Bởi vì bà ấy đã cố tình làm cho tôi phát điên lên. Chuyện đó xảy ra ngay trước khi chúng tôi bắt đầu diễn. Bà ta đối xử với tôi khá thân thiện khi nhà sản xuất có mặt, hoàn toàn là giả bộ. Nhưng ngay khi chỉ còn có chúng tôi với nhau, bà ấy đã rụt rè đến chỗ tôi, nói vào tai tôi - toàn những lời khiêu khích. Bà ta bảo tôi rằng bà ta đã gặp rất nhiều diễn viên rồi và tất cả bọn họ đều bị lên dây cót về mặt tâm lý. Cảm thấy không thoải mái với việc bị nhận diện là cách bà ấy đã nói. Rồi là đóng vai để cảm thấy bị điều khiển - Anh ta cười khùng khục - Điều đó là đúng, nhưng ai có thể chịu được khi nghe bà ấy lải nhải những điều chết tiệt đó?
- Anh nghĩ bà ấy đang tìm cách hăm dọa anh đúng không?
- Rõ ràng là bà ta đang tìm cách hăm dọa tôi. Mục đích là gì? Toàn là sự giả dối. Giống như một cuộc đánh vật trên tivi. Tôi là nhân vật phản diện còn Hope là nhân vật chính diện. Chúng tôi đều biết bà ấy sẽ là người kiểm soát tôi trên sân khấu. Vậy thì tại sao lại làm một việc thừa đó chứ?
*
Đóng vai để cảm thấy bị kiểm soát.
Có thể Hope đã tự xem mình là một diễn viên.
Trở về nhà, tôi gọi điện cho nhà sản xuất của công ty sản xuất chương trình Costa Mesa. Trợ lý của ông ta kiểm tra nhật ký và xác nhận rằng Karl Neese thực sự có tham gia chương trình vào cái đêm xảy ra vụ án mạng.
- Vâng, đó là một trong những chương trình hay của chúng tôi - Cô trợ lý nói - Chúng tôi bán được khá nhiều vé.
- Vẫn còn ăn khách đấy chứ?
- Không. Chẳng cái gì tồn tại lâu ở California cả.
***
Milo gọi đến nhà tôi lúc 5 giờ kém 10.
- Trong nhà anh có gì để ăn không?
- Tôi nghĩ là có thể tìm thấy cái gì đó.
- Thử tìm xem có gì không đi. Tôi đang đói meo rồi.
Nghe Milo nói có vẻ hồ hởi.
- Chuyến viếng thăm ông hiệu trưởng có kết quả gì không? - Tôi hỏi.
- Hãy cho tôi ăn rồi tôi sẽ kể cho mà nghe. Tôi sẽ đến trong vòng nửa tiếng nữa đấy.
Trong nhà không thiếu đồ ăn. Tôi và Robin vừa mới đi chợ. Cái tủ lạnh mới nhà tôi có khả năng chứa gấp đôi cái cũ.
Tôi làm cho anh một chiếc bánh kẹp thịt bò quay. Cái bếp màu trắng dường như rộng mênh mông. Nó quá rộng và quá trắng. Tôi vẫn còn đang phải làm quen với căn nhà mới.
Căn nhà cũ có diện tích 162 mét vuông. Các cột gỗ đỏ nạm bạc, ván ốp tường đã cũ nát, cửa kính đã bạc màu và các góc không vuông. Căn nhà được một nghệ sỹ người Hungary xây lên từ những vật liệu cổ và gỗ tái sinh.
Tôi đã mua căn nhà này từ nhiều năm trước vì thấy khung cảnh nơi đây thật hấp dẫn: nằm sâu dưới chân những quả đồi phía bắc Beverly Glen và ngăn cách với những hàng xóm bởi khu đất công cộng có cây lấy gỗ mọc dày. Căn nhà đưa đến sự riêng tư khiến tôi gặp chó hoang nhiều hơn gặp người.
Sự hẻo lánh đó đã được chứng minh là tuyệt hảo cho một kẻ tâm thần. Hắn đã thiêu rụi ngôi nhà vào một tối mùa hè hanh khô. “Cái bùi nhùi đặt trên một bình xăng” - đó là cách giải thích của các nhân viên chữa cháy.
Tôi và Robin quyết định xây dựng lại. Sau một vài lần đàm phán không thành với những chủ thầu ti tiện, nàng bắt đầu tự mình đứng ra giám sát thi công. Cuối cùng chúng tôi đã có một căn nhà rộng 260 mét vuông trát vữa xtucô, mái ngói màu xám, sàn gỗ và bậc thang bóng loáng, lan can bằng đồng, cửa sổ mái. Rất nhiều cửa sổ nhằm tiết kiệm điện thắp sáng và làm mát. Ở phía sau căn nhà là xưởng làm việc của Robin, hàng ngày nàng vui vẻ xuống đó cùng Spike, con chó bun giống Pháp của chúng tôi. Nhiều cây lâu năm đã bị đốn nhưng chúng tôi thuê máy đưa vào những cây bạc hà quấn bầu và cây thông đảo Canary, cây gỗ đỏ duyên hải, đào lấy một cái vườn kiểu Nhật Bản và cái ao đầy cá con.
Robin yêu ngôi nhà. Vài người bạn đến nhà chơi đều khen đẹp. Lời khen của Milo thế này: “một con gà quay trên đĩa, nhưng tôi vẫn cứ thích”. Tôi gật đầu cười và nhớ lại mùi mốc thoang thoảng từ những đồ gỗ cũ mỗi buổi sáng thức dậy. Những cánh cửa sổ tầng hầm như bị viêm khớp, những tấm ván sàn gỗ thông đã được chân mài nhẵn thín.
Cho thêm một ít dưa muối vào miếng bánh kẹp thịt của Milo, tôi đặt cái đĩa vào trong chiếc tủ lạnh khổng lồ, pha chút cà phê và xem lại những ghi chép của tôi về lời tư vấn giám hộ gần đây nhất cho Tòa án Gia đình: hai bố mẹ đều là kỹ sư, hai đứa con nuôi, tuổi 3 và 5. Người mẹ đã bỏ đi theo một anh chủ trang trại ở Idaho, người bố phát điên lên và không hề biết chăm sóc trẻ con thế nào.
Hai đứa trẻ ngoan ngoãn đến thương tâm nhưng những bức vẽ của chúng nói lên rằng chúng đã biết rõ hoàn cảnh của gia đình mình như thế nào. Vị thẩm phán chuyển vụ án lên Tòa án Gia đình là người có năng lực nhưng người tiếp nhận nó thì hầu như chưa bao giờ đọc các báo cáo về vụ án. Luật sư cả hai bên đều bị mếch lòng bởi việc tôi không đồng ý với những quan điểm của họ. Gần đây, tôi và Robin đã bắt đầu bàn đến việc sinh con cái.
Tôi đang đọc bản thảo báo cáo cuối cùng thì tiếng chuông cửa kêu.
Tôi ra cửa, nhìn qua lỗ nhỏ thấy bộ mặt to lớn của Milo. Tôi mở cửa. Chiếc xe xấu xí của anh đậu không thẳng hàng phía sau cái xe thùng của Robin. Từ phía sau nhà, tiếng cưa máy vang lên ù ù, rồi tiếng con Spike sủa.
- Đồ chó má - Anh nhìn vào chiếc đồng hồ Timex - Anh thấy có nhanh không? Từ trường Đại học về đây tôi đi đúng 5 phút.
- Anh thực sự đã trở thành một tấm gương sáng đấy.
Vừa cười Milo vừa chùi đôi chân lên tấm thảm ở cửa rồi nhảy vào nhà. Tấm thảm Péc-xích mới mềm mại, điểm những họa tiết bằng lụa lóng lánh ở trên mặt. Tôi rất thích nó. Tất cả những công trình nghệ thuật của tôi đều bị lửa thiêu rụi và bốn bức tường nhà hiện trống trơn như một tờ giấy viết thư còn mới tinh tươm.
Dù là nhà mới hay nhà cũ, bếp vẫn luôn là nơi thu hút Milo. Trong lúc anh đi xuống đó, ánh sáng từ bên trên chiếu xuống khiến cả người anh thành một màu trắng. Một người tuyết khổng lồ.
Đến khi tôi vào được bếp với anh, Milo đã ngồi ở bàn, tay cầm chiếc bánh kẹp thịt và hộp sữa tươi.
Anh ngoạm miếng bánh ba phát một.
- Có muốn làm cái nữa không?
- Không, cảm ơn. À, mà sao lại không chứ? - Đưa hộp sữa tươi lên môi, anh hút cạn rồi vỗ vỗ vào cái bụng. Tháng này, Milo đã thôi uống rượu và giảm một chút trọng lượng xuống còn 108 cân. Phần lớn thịt trên người anh tập trung ở bụng và ở mặt. Đôi chân dài khiến anh cao hơn 1,9 mét, không phải là gầy, nhưng sự tương phản giữa chân và thân làm cho đôi chân trông loèo khoèo.
Milo đang mặc chiếc áo cảnh sát ngắn tay màu xám bên ngoài chiếc sơ-mi trắng, chiếc quần nâu, cái ca-ra-vát đen và đôi giày da màu vàng nhạt. Râu ria anh đã cạo nhẵn thín ngoại trừ ở cái bớt nhỏ màu nâu phía sau tai trái. Những cái cục trên khuôn mặt chồi ra giống như một tác phẩm tượng đất sét đắp chưa hoàn chỉnh. Tĩnh điện làm tóc anh bay nhảy trên đầu.
Trong khi tôi làm chiếc bánh thứ hai thì Milo cũng bắt đầu lôi mớ giấy tờ ra khỏi chiếc ca-táp của mình.
- Chiến lợi phẩm đây: một danh sách những đối tượng có tiềm năng - Anh lấy mu bàn tay chùi đôi môi bóng mỡ.
Tôi đưa bánh đến cho Milo.
- Ngon quá. - Anh vừa nói vừa ngoạm miếng đầu tiên - Anh mua thịt ở đâu đấy?
- Ở siêu thị.
- Bây giờ anh phải đi chợ rồi à? Này, anh có thể đi tranh cử tổng thống được đấy. Hay là anh và bà chủ nhỏ thay nhau làm việc đó?
- Bà chủ nhỏ à - Tôi nói - Nhớ đừng có nói thế trước mặt cô ấy đấy.
Anh cười:
- Vụ này làm tôi phải suy nghĩ nhiều quá. Tôi thường xem bản thân mình nằm ngoài những thứ có liên quan đến giới tính nhưng sự thật là: tất cả chúng ta với nhiễm sắc thể Y đều được sinh ra và lớn lên như những kẻ dã man, phải vậy không? Đùa tí chứ ông hiệu trưởng tỏ ra khá vui tính. Khi tôi tới gặp ông ta, ông ta đã đối xử với tôi rất nhã nhặn và nhiệt tình. Khi tôi chìa tấm thẻ cảnh sát ra và nói về chuyện muốn đưa Ủy ban Hành vi lên các phương tiện thông tin đại chúng thì bắt đầu gặp vấn đề. Đột nhiên ông ấy lôi tôi vào phòng riêng, đóng cửa lại, mời tôi uống cà phê, bắt tay tôi rối rít. Rồi ông ta bảo tôi đừng khơi chuyện cái Ủy ban ấy ra làm gì nữa, rằng nó không là Ủy ban thường xuyên. Đó là chưa kể những từ ông ta nói như “lâm thời” và “trong thời gian ngắn”. Cái Ủy ban đó đã bị giải tán bởi vì có những vấn đề vi phạm hiến pháp và tự do phát biểu ý kiến.
Anh lôi từ cái ca-táp ra một xếp tài liệu.
- Thật may, ông ta cứ nghĩ là tôi đã biết rất nhiều về vụ này. Vậy nên tôi cứ thế mà nói phét rằng tôi đã nghe được rất nhiều điều tiếng khác nhau ở xung quanh trường. Ông ta nói rằng không thể có chuyện đó vì nó là một vấn đề đã qua. Tôi nói giáo sư Devane cũng đã chết. Tại sao ông không cho tôi biết rõ đầu cua tai nheo chuyện này là gì. Và ông ấy đã kể.
Anh lắc hộp sữa:
- Còn sữa không?
Tôi lấy cho anh một hộp sữa nữa, anh hút ừng ực rồi lại chùi môi.
- Anh đã đoán đúng về việc nó là một Ủy ban liên quan tới vấn đề quấy rối tình dục. Nhưng không phải là giữa các sinh viên và cán bộ của trường mà là giữa sinh viên với nhau. Đó là ý tưởng riêng của giáo sư Devane. Họ đã nghe được ba vụ, toàn là những cô gái tham gia lớp của bà về vai trò của giới tính và bọn họ kêu than với bà. Devane không đi theo các kênh chính thức của nhà trường mà chỉ tự động tiến hành riêng. Bà thấy những lời kêu ca, gặp những người bị tố cáo và lập lên một tòa án nhỏ.
- Các sinh viên đều không biết rằng cái đó là ý riêng của bà nằm ngoài quyền của nhà trường?
- Ông hiệu trưởng nói rằng các sinh viên không hề biết. Cách xử lý như thế rất sư phạm đúng không?
- Ô kìa anh bạn - Tôi nói - đó là do các vấn đề liên quan tới hiến pháp và tự do phát biểu ý kiến thế mà nghe giống như là các vấn đề tài chính ấy, như là trong một vụ kiện ấy.
- Ông ấy không thừa nhận nhưng đó chính là bức tranh mà tôi thấy được. Sau đó ông ấy khẳng định rằng Ủy ban ấy chắc chắn không thể liên quan gì tới vụ giết bà giáo sư được. Nhưng khi tôi hỏi lý do tại sao thì ông ấy không đưa ra câu trả lời. Ông ấy còn nói nếu đưa việc này ra trước công chúng thì sẽ là một sai lầm nghiêm trọng, một sai lầm có thể khiến Sở cảnh sát gặp rắc rối, bởi vì tất cả những người tham gia - cả người bị tố cáo và người tố cáo - đều yêu cầu bí mật tuyệt đối và họ có thể sẽ kiện chúng ta. Khi tôi không trả lời, ông ấy liền dọa sẽ gọi cho ngài cảnh sát trưởng. Tôi ngồi và cười. Ông ta cầm máy lên, rồi lại đặt xuống và bắt đầu van lơn. Tôi nói tôi hiểu ý ông ấy và không muốn gây rắc rối, rồi đề nghị ông ấy đưa cho tôi tất cả những hồ sơ viết tay, hứa sẽ giữ bí mật tuyệt đối.
Milo vẫy vẫy xếp hồ sơ:
- Đây là biên bản ba vụ việc. Hope cũng đã cho ghi âm.
- Vì sao lại phải ghi âm?
- Có trời mới biết. Có thể bà ấy chuẩn bị cho một cuốn sách nữa. Một chuyện tình cờ đã xảy ra. Bà ấy đã làm om sòm về việc đưa Ủy ban ra công khai. Bà ấy lập luận rằng việc không công khai là vi phạm tự do nghiên cứu. Rồi cuốn sách Những con chó sói và bầy cừu ra đời. Bà ấy cũng mất hứng thú với chuyện Ủy ban luôn.
- Có thể bà ấy định sử dụng Ủy ban đó như một tư liệu cho các chuyến thuyết trình trước công chúng về công trình nghiên cứu của mình.
- Ông hiệu trưởng cũng nghi ngờ như vậy. Ông ấy nói đã từng cảnh cáo Hope rằng bà ấy đang đặt mình vào tình thế nguy hiểm về mặt pháp lý. Rằng theo các luật sư của Trường, vì bà ấy không được nhà trường chính thức chấp thuận nên bà ấy chỉ hoạt động với tư cách một bác sỹ tâm lý độc lập khi đứng chân chủ tịch Ủy ban Hành vi, không phải là một cán bộ nhà trường. Vì vậy, nếu bà tiết lộ thông tin, thì sẽ vi phạm vào quyền giữ bí mật và có thể bị thu giấy phép hành nghề. Bà ấy không đồng ý và dọa sẽ thuê luật sư riêng, nhưng rồi đã thay đổi ý kiến.
- Thật lạ là sau vụ Hope bị giết không hề thấy ai đả động gì đến chuyện này.
- Mọi người đều muốn giữ kín. Ban giám hiệu, các sinh viên - đặc biệt là các sinh viên.
Milo trao cho tôi xếp tài liệu:
- Hãy đọc cái này khi nào anh có thời gian. Khi nào xong hãy nói cho tôi biết anh nghĩ gì. Tôi không thể để mắt được tới cái này bởi tôi vẫn thích đó là ông chồng bà ấy hơn. Hiện tôi còn thấy hứng thú hơn trước nữa, bởi vì tôi vừa mới xem xét các khoản hoàn thuế của bà ấy.
- Cuốn sách đã làm bà ấy trở nên giàu có?
Milo gật đầu:
- Nhưng ngay cả trước khi chuyện ầm ỹ trong nội bộ trường ấy xảy ra thì Hope đã có một vài hoạt động ngoài khuôn viên khá thú vị. Anh đã bao giờ nghe tới người có tên là Robert Barone chưa?
Tôi lắc đầu.
- Đó là một luật sư có tiếng, chuyên bào chữa cho các bị cáo - đại khái trong các vụ rắc rối giữa những người làm đồ khiêu dâm và ban kiểm duyệt, vài vụ mánh khóe làm tiền, gian lận, một vài trò giải trí - những thứ vẫn thường xảy ra ấy mà, phải vậy không? Năm ngoái, ông ta trả cho Hope 40 ngàn đô-la phí tư vấn, năm trước nữa là 28 ngàn.
- Lập các báo cáo giảm tội do trạng thái thần kinh hoặc tâm thần bất bình thường?
- Có lẽ là vậy. Barone có các văn phòng ở thành phố Century và San Francisco. Ông ta vẫn chưa hồi đáp các cuộc gọi của tôi.
Uống thêm chút sữa nữa, Milo nói tiếp:
- Khách hàng tư vấn nữa của Hope là một vị bác sỹ ở Beverly Hills tên là Milan Cruvic. Danh bạ điện thoại ghi ông ta là một chuyên gia phụ khoa và sinh sản. Anh có biết tại sao một chuyên gia phụ khoa và sinh sản lại phải trả tới 36 ngàn đô-la cho một bác sỹ tâm lý không? Mà trả trong 2 năm liền?
- Có thể bà ấy làm công tác chọn lựa những người để ông ta điều trị.
- Đó có phải là hoạt động quy định không?
- Nói về thủ tục thì vô vàn lắm. Một bác sỹ thận trọng có thể muốn biết bệnh nhân nào đã có đủ tâm lý để tiến hành điều trị. Hoặc sẽ tư vấn cho những ai chưa vững dạ.
- Vậy tại sao không giới thiệu thẳng tới bà ấy? Tại sao lại rút tiền túi mình ra để trả cho bà ấy làm gì?
- Anh hỏi câu này rất hay!
- Khi tôi gọi điện tới văn phòng của Cruvic, y tá của ông ta nói rằng ông ta đang thực hiện một dịch vụ công tại bệnh viện phụ sản nào đó. Điều đó cũng có nghĩa là ông ta đi tiến hành các ca phá thai - một vấn đề nữa có khả năng gây ra thù địch nếu Hope tham gia. Bạo lực của việc phá thai không phải là điều công chúng Los Angeles hiểu và quan tâm, nhưng chúng ta thì hiểu hết ngọn ngành. Và cái tay ghê tởm trên tivi - Neese ấy - đã liên tục nhắc đến vấn đề đó, gắn bà ấy với cái tên “Người đấu tranh vì bình quyền cho phụ nữ cấp tiến chuyên thải những bào thai thành miếng nhỏ”. Biết đâu đấy, sau khi xem chương trình này đã có một số kẻ sùng đạo điên rồ nào đó phát điên.
- Bản thân Neese thì không thể - Tôi nói và kể cho anh nghe về việc Neese có đủ chứng cớ ngoại phạm.
- Có một điểm đáng lưu ý - Milo nói - là Neese đã nói rằng Hope làm cho anh ta phát điên lên đúng vậy không?
- Đó là cách nói của Neese. Nghĩa là bà ấy cố gắng tìm cách kiểm soát anh ta.
- Vậy nên có thể bà ấy đã làm phát điên một người nào đó ngoài ý muốn... Anh có cho rằng chúng ta nên theo đuổi khía cạnh phá thai này không?
- Không hẳn - Tôi nói - Hope không phải là một đối tượng tiêu chuẩn cho mục tiêu chính trị và nếu là một kẻ ám sát có tính cách chính trị thực hiện thì họ đã đứng ra để tuyên bố trước công chúng rồi.
- Đúng... nhưng tôi vẫn muốn biết bà ấy đã làm gì cho Cruvic và Barone. Chúng ta biết rằng Hope đã thu được trên 100 ngàn đô-la trong vòng 2 năm. Mặc dù sau khi có cuốn sách thì bà ấy không cần đến số tiền đấy nữa.
Anh lôi từ trong cái ca-táp ra một bảng hoàn thuế được phô tô.
- Đây là những hồ sơ cuối cùng của bà ấy. Tổng thu nhập của bà là 680 ngàn đô-la, phần lớn thu được từ tiền trả trước, tiền nhuận bút và các cuộc diễn thuyết trước công chúng. Thu nhập sau thuế của bà gần đạt tới con số nửa triệu đô-la và đang nằm trong một chương mục ở thị trường tiền tệ Merrill Lynch đăng ký bằng tên của bà và của Seacrest. Không có nợ nần gì. Hope có chiếc xe Mustang từ trước và ngôi nhà Seacrest được thừa hưởng từ cha mẹ đẻ trị giá khoảng nửa triệu đô-la nữa. Thật là một sự chung vốn đầu tư không tồi, đặc biệt nếu hôn nhân không thuận lợi.
- Họ đã lấy nhau được bao lâu?
- 10 năm.
- Họ gặp nhau trong hoàn cảnh thế nào, anh biết không?
- Seacrest nói rằng họ gặp nhau tại trung tâm giải trí của trường Đại học, khi đang bơi.
- Trước đó ông ấy đã kết hôn lần nào chưa?
- Chưa, ông ấy nói với Paz và Fellows rằng ông là một trong những người độc thân lâu đời ù lì. Ngoài 500 ngàn đô-la ra, ông ấy vẫn còn có các khoản thu khác. Người đại diện văn học của Hope không cho tôi những con số cụ thể nhưng nói rằng năm tới, ông ấy sẽ còn thu được nhiều tiền nhuận bút từ cuốn sách của bà ấy hơn nữa. Doanh số sách bán trước khi bà ấy chết rất cao, nhà xuất bản còn định đề nghị bà viết cuốn tiếp theo. Hope và Seacrest đã lên kế hoạch tài sản từ mấy năm trước, thiết lập một tài khoản tín thác hôn nhân nhằm tránh bị đánh thuế tài sản, vì thế Seacrest sẽ giữ toàn bộ số tiền của cả hai người. Thu nhập năm vừa rồi của ông ấy là 64 ngàn đô-la, toàn là từ lương do trường Đại học trả. Chiếc xe Volvo của ông ấy đã sử dụng được 8 năm và ông ấy cũng gửi tiền vào quỹ lương hưu của khoa. Ngoài ra là căn nhà. Ông ấy cũng viết một số cuốn sách, nhưng không nhận được tiền nhuận bút.
- Tỷ lệ thu nhập gần đây của họ là 1-10 - Tôi nói.
- Đó là một khía cạnh ghen tị khác. Điều gì xảy ra nếu Hope quyết định bỏ chồng khi bà kiếm được nhiều tiền? Chẳng hạn bà ấy sẽ đi tìm một gã đàn ông khác - đây là mối quan hệ - tình yêu - tình dục - phản bội mà chúng ta đã suy đoán qua ba vết đâm, thêm vào đó là số tiền khổng lồ mà họ có. Một sự cám dỗ, phải vậy không? Và ai có khả năng biết được các thói quen của bà ấy, khả năng đầu độc con chó hơn là ông chồng chứ? Hope đã phát biểu một ý kiến rất chính xác: Có nhiều phụ nữ bị giết hại bởi những người được cho là “thân yêu” hơn là bởi những kẻ vô lại.
- Đã bao năm nay ông Seacrest sống không hề có nhiều tiền - Tôi nói - Phải chăng gần đây ông ấy trở thành một người sống xa hoa?
- Không, ngược lại, không hề có sự thay đổi nào trong cuộc sống của ông ấy cả: vẫn đi làm việc mỗi ngày và trở về nhà đúng giờ. Đến cuối tuần, ông ấy chỉ ở trong nhà. Seacrest nói rằng ông chỉ thích đọc sách và xem tivi. Ông ấy thậm chí không còn buồn thuê băng video về xem. Nhưng nếu bà ấy có cắm sừng ông thì có trời mới biết một ông già sống độc thân kiểu cũ như thế sẽ hành xử thế nào. Đã từng có người nghiên cứu về chuyện tình yêu - anh không nên quên vết đâm vào tim bà ấy. Ông ấy năm nay đã 55, anh Alex ạ. Biết đâu ông ấy bị khủng hoảng ở tuổi này. Và như tôi đã nói, tôi cứ nghĩ chắc chắn ông này đang có điều gì đó giấu giếm.
- Tại sao?
- Tôi cũng không biết rõ, thế mới nên chuyện. Ông ta trả lời tất cả các câu hỏi nhưng không hề tự nguyện đưa ra thông tin nào. Chưa một lần nào ông ấy gọi cho Paz và Fellows để xem kết quả điều tra của họ đến đâu rồi. Khi được giao vụ này, tôi đã gọi ngay cho ông ấy và có cảm giác đang quấy rầy làm mất thì giờ quý báu của ông ấy. Giống như kiểu ông ấy sắp lên đường đi đâu đó.
- Có thể Seacrest vẫn còn bị sốc.
- Không, dường như ông ấy đang có điều gì lý thú để làm thì đúng hơn. Nếu một người thân yêu của anh bị giết hại như thế, anh sẽ phản ứng thế nào? Hãy nói xem anh sẽ nghĩ gì, làm gì nếu anh là người tận mắt chứng kiến? Tôi định sẽ tới nhà ông tối nay, độ khuya mới tới. Không phải là tôi lợi dụng một người bạn đâu - nếu anh thực sự dành cho vụ án này một chút thời gian nghiêm túc thì tôi sẽ - Anh thở dốc - trả lương cho anh.
Milo lôi từ trong túi áo ra một mẫu đơn.
- Một sự ngạc nhiên từ bác Milo! Hô hô!
Tấm thẻ cảnh sát và một hợp đồng chuyên viên được sao làm ba bản, tên của tôi được đánh máy trên dòng kẻ chấm. Sở cảnh sát sẵn sàng tuyển dụng tôi trong thời gian 50 giờ với mức lương theo giờ bằng một phần tư mức thu nhập tôi tự làm tại nhà. Một dòng chữ nêu giới hạn trách nhiệm của Sở cảnh sát Los Angeles với tôi, đại ý: nếu tôi dẫm vào vỏ chuối bị ngã hay bị bắn chết thì họ sẽ bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc nhưng sẽ không bỏ một xu nào ra để lo chữa cháy hay ma chay.
- Chẳng có gì là nhiều nhặn - Milo giải thích - nhưng theo các tiêu chí của Sở cảnh sát thì cũng đủ để đi siêu thị một bữa.
- Làm sao mà anh lấy được những thứ này cho tôi?
- Tôi đã nói dối cấp trên rằng nghe nói những người đấu tranh vì quyền lợi phụ nữ cấp tiến, những kẻ đồng tính luyến ái đang phàn nàn về tiến độ chậm chạp của vụ án. Nếu Sở cảnh sát không làm gì để tỏ ra đang làm hết sức thì thể nào các sếp cũng bị triệu ra trước Ủy ban Cảnh sát Liên bang. Tôi nói với ông ta rằng mấy kẻ ấy thích những bác sỹ tâm thần và sẽ coi việc anh tham gia vào vụ án như một minh chứng về sự nhạy bén của cảnh sát.
- Rất sáng tạo.
- Tôi cũng đề nghị mua một chiếc máy tính mới cho vụ này, nhưng thuê anh rẻ hơn mua máy tính. Vậy anh sẵn sàng nhận nhiệm vụ chứ?
- 50 giờ - Tôi nói - Thời gian đó đã bao gồm cả việc làm món cho anh ăn không đấy?
Trở lại tủ lạnh, anh lấy một miếng bánh sôcôla hạnh nhân ra ăn.
- Mặc dù anh nghi ngờ Seacrest - Tôi nói - nhưng tôi vẫn nghĩ anh nên xem xét một cách nghiêm túc đến khả năng có một kẻ lạ mặt bị ám ảnh bởi ảo tưởng nào đó về bà ấy đã làm vụ này.
- Vì sao vậy?
- Trong cách bày trí các vết đâm có một sự điên rồ lạnh lùng nào đó. Chắc phải là một người căm thù phụ nữ sâu sắc. Và từ cách lập cái Ủy ban Hành vi của Hope chứng tỏ bà không được tế nhị trong hành xử. Vậy ai mà biết bà ấy đã đắc tội với người nào? Có thể ở ngoài đời hay ở trên màn hình tivi. Anh đã bao giờ tìm thấy những vụ giết người có cùng kiểu bày trí vết thương như thế chưa?
- Tôi đã tìm các hồ sơ vụ án giết người bằng dao trong vòng 3 năm ở Westside nhưng không có trường hợp nào tương tự. Ngày mai tôi sẽ thử tìm tại Sở cảnh sát Wilshire và lừa đảo tất cả những ai khác để họ nhớ xem có vụ nào thế không. Tôi cũng sẽ gửi điện tới những cơ quan tòa án có thẩm quyền khác, nhưng Paz và Fellows cũng đã làm thế rồi mà không có kết quả gì. Vậy anh có muốn cùng tôi tới gặp Seacrest tối nay không? Tất nhiên là nếu anh và cô nàng để tôi ngó ra sau chào cô ấy và con chó lấy một tiếng. Tôi không là người ghét loài vật đâu.