Ba Nhát Đâm Bí Ẩn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 45 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Những phần cuối của vở kịch đang được sắp đặt.

Sáng hôm sau, tôi gọi cho văn phòng Tâm lý và lấy số của Mary Ann Gonsalvez. Vì sự chênh lệch của thời gian nên lúc tôi gọi tới đã là 5 giờ chiều tại London. Không có tiếng trả lời, không có tiếng ghi âm.

Tôi pha tách cà phê và nướng bánh mì, vừa ăn vừa nghĩ tới đám người tại Trung tâm Phụ nữ tối hôm qua.

Tôi nghĩ tới người gác cửa có vũ khí, tới cái dây xích chắn ngang bãi đậu xe.

Bác sỹ Cruvic đang tiến hành phẫu thuật trong đó?

Phẫu thuật cho những bệnh nhân như Chenise Farney chăng?

Có 15 chiếc xe hơi. Tính cả của nhân viên Trung tâm thì có lẽ chỉ 10 xe là cùng. Và theo những gì tôi biết thì ông ta đã đi hàng tiếng đồng hồ khỏi nhà để đưa họ tới đây theo ca.

Chủ nghĩa lý tưởng hay là có động cơ lợi nhuận?

Lợi nhuận có thể là cao nếu ông ta sử dụng các thiết bị của bệnh viện mà không phải trả tiền, và cứ việc chặt tiền của bang. Bệnh viện thì vui mừng vì có một người tình nguyện phục vụ tận túy cho các khách hàng nghèo khó của mình.

Những người phụ nữ nghèo có nghĩa là Medi-Cal. Việc tài trợ cho các ca phá thai luôn luôn phụ thuộc vào sự biến động của chính trị và tôi không biết hiện Medi-Cal có còn tài trợ cho việc này nữa không.

Tôi gọi tới văn phòng Medi-Cal ở Los Angeles, được giới thiệu tới một số 800 ở Sacramento, phải chờ 10 phút, và rồi bị cắt liên lạc. Tôi thử lại, lại phải chờ và cuối cùng đã được nối máy, và lại được chuyển tới một số 800 khác, tiếp tục đợi và qua hai người trực điện thoại nữa thì mới có một người tới trả lời. Người này nói rằng Medi-Cal có trả tiền cho cả việc phá thai và thắt ống dẫn trứng nhưng nếu muốn có thông tin cu thể về số lượng đã rải ngân thì phải có mã đặc biệt.

Tôi gọi điện tới trường Y ở phía kia của thành phố và sử dụng địa vị giảng viên trong trường của tôi để tới được văn phòng kinh doanh ở Bệnh viện Phụ nữ. Người trực điện thoại trưởng ở đó đã giới thiệu tôi tới phòng lập hóa đơn, phòng này giới thiệu tôi trực tiếp tới phòng hóa đơn của Medi-Cal. Cuối cùng một người nói rằng lẽ ra tôi nên biết mà không cần phải hỏi rằng phá thai được bang tài trợ với giá 900 đô-la một ca, không bao gồm tiền viện phí, thuốc giảm đau và các khoản phụ khác.

Tôi đặt máy.

900 đô-la cho một ca. Và nếu là một người lập hóa đơn khôn ngoan, giống như Cruvic, thì có thể đưa thêm các khoản khác như phí chăm sóc, phí phòng phẫu thuật, đồ ăn uống, và thế là đội được giá thanh toán lên cao.

Chỉ cần mỗi tuần tiến hành 20 ca phá thai thì thu nhập của ông ta sẽ là 7 con số.

Ngoài ra còn có những khoản phụ thu khác ngoài việc hành nghề về sinh đẻ.

Chẳng hạn như cấy bào thai vào tử cung những người giàu, loại bỏ bào thai từ tử cung những người nghèo.

Tất nhiên là cũng có những nguy hiểm: một kẻ chống phá thai điên cuồng có thể gây ra bạo lực. Và nếu báo chí nắm được thì sẽ bị xấu mặt trước bàn dân thiên hạ. Sẽ có các tít đại loại như: Bác sỹ trị bệnh vô sinh ở Beverly Hills làm chủ một nhà máy phá thai hoạt động về đêm. Những người ủng hộ sự sống của trẻ em sẽ chỉ trích Cruvic hết lời vì đã giết chết những đứa trẻ còn những người theo trường phái tự do sẽ bày tỏ sự phẫn nộ trước sự bất công giữa các tầng lớp.

Và bất kể thiên hướng chính trị của họ ra sao, những bài báo như thế sẽ khiến số bệnh nhân đến chữa vô sinh tại phòng mạch của Cruvic giảm đi nhanh chóng.

Nhưng với số tiền thu được, ắt Cruvic cũng sẽ cho rằng chuyện rủi ro như thế là hoàn toàn xứng đáng.

Một ngôi nhà của bác sỹ nằm khuất trong ngõ.

Những dây xích sắt quấn xung quanh khu đậu xe, người gác cổng có trang bị vũ khí.

Liệu có phải ông ta tham lam và muốn nhiều hơn nữa? Thổi phồng hóa đơn thanh toán ư? Hay là gian lận sổ sách? Hope cũng đồng lõa với trò lừa đảo này ư?

Nhưng Cruvic chỉ trả cho bà ta 36 ngàn đô-la mỗi năm, một phần rất nhỏ so với khoản thu hàng triệu đô-la của ông ta.

Lẽ nào 36 ngàn chỉ là con số bà ấy báo cáo để hoàn thuế và vẫn còn những khoản khác được trả bằng tiền mặt nữa.

Hoặc biết đâu Hope không phải là người cộng sự tốt trong việc lừa đảo, biết được sự thật, không chịu làm nữa hoặc dọa sẽ tố cáo Cruvic?

Và bà ta đã phải chết vì việc đó?

Rồi còn Mandy Wright thì sao? Sự liên quan duy nhất của cô ta với lĩnh vực phụ khoa là việc phá thai và thắt ống dẫn trứng.

Tưởng tượng quá xa vời rồi, Delaware ạ.

Kịch bản khả dĩ nhất là cô ta và Hope đã bị giết bởi một kẻ lạ mặt bị tâm thần và Cruvic, dù hám lợi và láu cá, đều không có gì liên quan tới vụ án.

Nhưng tôi đã hứa với Milo là phải kiểm tra độ tin cậy của ông ta rồi.

Deborah Brittain sẽ tới lớp học trong vài giờ nữa, và hôm nay Tessa Bowlby được nghỉ. Và cô gái này không phải đến trường trong nhiều ngày vì chỉ tham gia vào hai lớp học, cả hai đều vào thứ Ba và thứ Năm.

Khối lượng học hành được giảm đi. Để đối phó với những rắc rối chăng?

Tôi cũng sẽ thử gặp cô gái này lần nữa xem sao, nhưng chuyện gì cần làm trước thì phải làm ngay đã.

Tôi gọi tới Hội đồng y tế bang và được biết không hề có đơn kiện nào chống lại Cruvic với lý do hành nghề phi pháp, giấy phép hành nghề của ông ta cũng không hề có vấn đề gì gây nguy hiểm.

Chắc tôi đã quá cường điệu vấn đề rồi. Tôi mặc quần áo và lái xe tới trường Đại học.

Tại thư viện y sinh, tôi tra cứu Cruvic trong danh sách các chuyên gia y tế.

Cruvic tốt nghiệp đại học tại trường Berkeley - trường này cũng là trường của Hope. Đó có thể là một manh mối. Họ cũng là những người cùng độ tuổi, cùng tốt nghiệp trong một lớp.

Vậy họ là bạn cũ chăng? Tôi tiếp tục đọc và biết thêm: ông ta là bác sỹ y khoa, tốt nghiệp từ đại học California ở San Francisco - lại một lần nữa, học cùng thành phố với Hope.



Sau đó bà ta tới Los Angeles để đào tạo lâm sàng, còn ông ta thì tới Seatle để làm bác sỹ nội trú phẫu thuật tại Đại học Washington.

Tất cả mọi thứ đều nhàm chán.

Rồi đột nhiên tôi tìm được những thông tin thú vị.

Cruvic chỉ hoàn thành 1 năm nội trú phẫu thuật tại Đại học Washington rồi xin phép nghỉ, tới làm bác sĩ nội trú tại viện Brooke-Hastings ở Corte Madera, California.

Sau đó, thay vì trở lại Washington, ông ta chuyển đổi chuyên môn từ phẫu thuật sang phụ khoa-phụ sản, đăng ký là sinh viên nội trú năm thứ nhất tại Trung tâm Y tế Trung thực ở Carson, California, tại đây ông ta đã học hết và được cấp hàng chuyên môn về phụ sản - phụ khoa.

Không thấy liệt kê công trình nghiên cứu sau đại học nào về điều trị vô sinh của ông ta.

Điều này hoàn toàn không phải là phi pháp đối với một bác sỹ y khoa. Giấy phép hành nghề của bác sỹ y khoa theo quy định của bang cho phép bác sỹ hành nghề liên quan tới y học - nhưng đây là chuyện đáng ngạc nhiên, cho dù có là làm bừa, bởi vì các kỹ thuật điều trị vô sinh cần đến chuyên môn rất cao.

Vậy Cruvic đã học nghề của ông ta ở đâu?

Phải chăng ông ta đã học được trong 1 năm ở viện Brooke-Hastings? Không thể, bởi vì ông ta lúc đó mới chỉ là sinh viên nội trú năm thứ nhất và không đời nào một nơi có tiếng tăm lại nhận người ở trình độ ấy để đào tạo các kỹ thuật tiên tiến.

Ông ta tự học ư?

Tiến hành các điều trị bí mật theo một phương pháp liều lĩnh và nguy hiểm ư?

Liệu đó có phải là lý do thực sự giải thích cho việc ông ta hành nghề ở một nơi hẻo lánh tránh xa các bác sỹ khác ở Beverly Hills không?

Nếu vậy thì ai đã giới thiệu bệnh nhân tới cho ông ta?

Đó là những người cũng muốn bước qua luật lệ ư?

Nhưng biết đâu lại có một câu trả lời thật đơn giản thế này: Ông ta đã tiến hành sự đào tạo có thiện ý nhưng sự thật lại không như ông ta tưởng.

Tuy nhiên, bạn có thể sẽ nghĩ rằng đó chính là cái mà ông ta đang cố gắng để sửa chữa. Còn thư mục ở thư viện này mỗi năm mới được cập nhật có một lần.

Vậy phải chăng ông ta là gã cao bồi điều trị vô sinh tự do? Hay là điều trị bí mật? Tiến hành những ca mà không ai khác dám sờ tới?

Có điều gì đó sắp được tìm ra...

Biết đâu chính bản chất mạnh dạn ấy là thứ đã khiến Hope bị thu hút tới Cruvic.

Một tính cách khác hẳn so với ông lão Seacrest nhàm chán, ù lì.

Một chiếc Volvo cũ đem so với một chiếc Bentley mới nguyên sáng loáng.

Có điều gì đó...

Có điều gì đó tồi tệ đã xảy ra.

Hiện nay Hope đã chết còn Cruvic, như chính ông ta đã chỉ ra, vẫn còn sống nhăn răng ra đó, vẫn luôn bận rộn, bặt thiệp, vẫn làm những chuyện chỉ có Chúa mới biết.

Nhưng còn Mandy Wright?

Giữa một cô gái gọi và một học giả có điều gì đó chung nữa ngoài cái chết thảm thiết?

Không gì ăn khớp cả.

Tôi tiếp tục tìm kiếm, đưa tên của Cruvic vào tất cả các ngân hàng dữ liệu y học và khoa học mà thư viện có. Không hề có bài viết nào được xuất bản, vậy là những năm tháng ông ta ở viện Brooke-Hastings có lẽ không phải để nghiên cứu.

Viện này cũng không thấy được liệt kê ở bất kỳ đâu.

Tới lúc kết thúc công việc tìm kiếm tại thư viện thì trong tôi đã chứa đầy những nghi vấn, nhưng chẳng còn gì thêm để làm nữa và cũng đã đến lúc phải tìm gặp Deborah Brittain.

Tôi nhận thấy cô ta rời sảnh đường Monroe và đi về phía chiếc xe đạp.

Cái ảnh trên bản phô tô không nói lên được chút nào về dáng vóc cô gái.

Cô ta cao 1,8 mét, người gầy và to xương, tóc dài màu vàng vương bụi bẩn, đôi gò má cao. Cô ta mặc áo sơ-mi cổ lọ trắng mang phù hiệu của trường Đại học, cái quần soóc màu xanh dương, tất trắng và giày thể thao, vai đeo ba lô đỏ của người leo núi.

Chiếc xe đạp đua của cô là 1 trong 12 cái được để trên giá ở phía sau của nhà để xe xây gạch đỏ. Tôi nhìn thấy cô ta đeo một dải băng thấm mồ hôi quanh đầu và mở dây khóa xe. Khi cô ta vừa kéo chiếc xe ra thì tôi bước dấn lên và giới thiệu.

- Chuyện gì vậy? - Đôi mắt màu xanh chuyển đổi kênh từ sự lo lắng sang cảnh giác. Tôi liền chìa cái thẻ cảnh sát ra.

- Giáo sư Devane ư? - Cô ta nói bằng giọng khàn khàn - Chuyện này dài lắm - Hai bàn tay cô ta nắm chặt ghi-đông xe - Tôi lại sắp phải tập bóng chuyền trong vòng nửa giờ nữa nhưng tôi muốn nói chuyện với ông - nào chúng ta cùng đi.

Cô ta lái cho cái xe đạp thẳng theo đường dành cho người đi bộ, đủ nhanh để khiến tôi phải sải bước theo.

- Tôi muốn nói với ông rằng - Cô ta nói - Giáo sư Devane là một người phụ nữ thực sự tuyệt vời. Một con người vĩ đại. Kẻ bệnh hoạn nào đó giết bà cần phải nhận cái án tử hình nhưng tất nhiên là hắn ta không bao giờ bị cả.

- Tại sao?

- Ngay cả khi ông bắt được hắn và hắn bị xử thì họ sẽ vẫn không thực hiện pháp luật một cách thực sự.

Cô ta nhìn tôi chằm chằm mà không ngừng sải bước.

- Ông muốn biết về Huang phải không?

- Tôi muốn biết bất kể thứ gì mà cô có thể nói với tôi.

- Có phải ông nghĩ cho Huang làm việc đó?

- Không. Chúng tôi chỉ đang tiến hành nói chuyện với tất cả mọi người có liên quan tới Ủy ban Hành vi thôi.

- Vậy ông nghĩ Ủy ban đó có liên quan ư?

- Chúng tôi không biết gì nhiều, chấm hết, thưa cô Brittain.

- Ôi dào, chắc nhiều người đã độc mồm độc miệng nói xấu Ủy ban ấy rồi, nhưng tôi nghĩ đó là một ý tưởng hay. Nó đã cứu tôi - không phải theo nghĩa đen, mà thực sự Huang đã làm cho cuộc đời tôi đau khổ trước khi giáo sư Devane đặt dấu chấm hết cho sự đau khổ ấy.

Cô ta ngưng lại một cách đột ngột. Đôi mắt cô ta ướt đẫm và cái dải băng thấm mồ hôi trên trán đã tụt xuống dưới. Cô đẩy nó lên cao hơn và chúng tôi lại bắt đầu đi tiếp.

- Anh ta thường từ đằng sau tiếp cận tôi trong thư viện. Cứ mỗi lần tôi tới để mượn sách thì anh ta đã có ở đó rồi. Anh ta cứ nhìn tôi chằm chằm, miệng cười khả ố. Những điệu cười khêu gợi - ông có hiểu không?

Tôi gật đầu:

- Chuyện đó xảy ra trước hay sau khi anh ta rủ cô đi chơi?

- Sau. Thật đáng sợ. Đó rõ ràng là cách anh ta tấn công tôi. Ba lần anh ta yêu cầu tôi, ba lần tôi từ chối. Ba lần bị từ chối thì chắc ông sẽ từ bỏ ý định, phải vậy không? Vậy mà anh ta không chấp nhận bỏ cuộc. Bất cứ đâu tôi tới, anh ta đều loanh quanh ở đó và nhìn tôi. Một cái nhìn đáng sợ. Thật ra, chính cách nhìn chằm chằm như muốn ăn tươi nuốt sống người khác ấy khiến tôi thấy phát ớn.

- Toàn bộ chuyện này xảy ra ở bất cứ chỗ nào trong trường ư?

- Không, chỉ ở thư viện thôi - Cô ta trả lời - Cứ như thể thư viện chính là hang ổ nhỏ của anh ta vậy. Anh ta có thể ở đó tìm kiếm phụ nữ nhằm đùa cợt, bởi vì ngoài lý do đó ra không hề có lý do nào khác để anh ta ở đó cả. Anh ta là sinh viên chuyên ngành cơ khí nhưng khoa cơ khí thì có thư viện riêng của mình.

Cô ta lấy mu bàn tay lau mồ hôi trên trán.

- Tôi không phải là người bị bệnh hoang tưởng, tôi luôn luôn có thể tự chăm sóc, bảo vệ được bản thân. Nhưng chuyện này thật khủng khiếp. Tôi không thể tập trung tư tưởng cho học tập được. Ngay cả lúc tư tưởng tập trung chuyện học hành ở trường đã đủ mệt cho tôi rồi. Vì vậy tại sao tôi còn phải giải quyết cả chuyện đó nữa chứ? Nhưng nếu không có giáo sư Devane thì tôi đâu có đủ dũng khí để đối phó với chuyện ấy.

Cô ta cố kiềm chế nước mắt:

- Thật là một sự mất mát không thể tin được. Thật không công bằng.

Cô ta đẩy cái xe đi nhanh hơn.

- Thế Huang đã ngừng làm phiền cô chưa?

- Rồi, Chúa phù hộ cho giáo sư Devane và quỷ tha ma bắt cái nhà trường này đi vì đã phải chịu nhượng bộ.

- Họ phải nhượng bộ với ai vậy?

- Tôi nghe nói có một học sinh nam giàu có đã yêu cầu họ phải giải tán - Cô ta nhe răng - Liệu Huang có nguy hiểm không?

- Theo những gì chúng tôi biết được tới nay thì không.

Điệu cười của cô ta không ổn định.

- Vậy thì tốt rồi.

- Thế cô vẫn còn lo ngại về anh ta à?

- Tôi thực sự không lo lắng - chúng tôi vẫn gặp nhau trên sân trường và tôi cảm thấy rất yên tâm. Nhưng rồi tôi bắt đầu nghĩ về cái chết của giáo sư Devane. Liệu nó có liên quan gì tới Ủy ban ấy không? Và tôi cảm thấy rất khó chịu.

Chúng tôi bước đi thêm vài bước nữa thì cô ta nói:

- Khi bắt đầu trở nên lo lắng, tôi nghĩ tới những gì giáo sư Devane đã từng nói với tôi: “Những kẻ quấy rối là những tên hèn hạ không cương quyết, đó là lý do tại sao bọn chúng thường hay chui lủi. Điều mấu chốt là phải đối mặt trực diện với chúng, thể hiện sức mạnh bên trong của mình”. Đó là những gì tôi làm khi gặp Huang. Nhưng hãy nhìn những gì xảy ra với bà ấy đi.

Cái xe đạp dừng lại đột ngột tới mức cô ta phải lùi lại mới giữ được thăng bằng.

- Việc bà ấy bị hãm hại đã làm tôi phát điên lên. Tôi cần phải tìm ra cách gì đó để làm sáng tỏ chuyện này - liệu Huang có khả năng nào đó là hung thủ không?

- Anh ta dường như có một chứng cứ ngoại phạm hoàn hảo.

- Vậy là ít nhất ông cũng đã nghiêm túc nhìn nhận anh ta để mà tiến hành điều tra. Tốt. Hãy để cho anh ta biết cảm giác thế nào khi bị dò xét. Nhưng nếu ông không nghi ngờ anh ta thì tại sao ông lại nói chuyện với tôi?

- Tôi đang đi tìm kiếm mọi thông tin mà tôi có thể về giáo sư Devane. Những thông tin đó lấy từ những người mà bà ấy gần gũi, từ những hoạt động của bà ấy, từ bất kỳ ai đó mà ấy có thể đã chọc giận.

- Chúng tôi không hề gần gũi nhau. Chúng tôi chỉ nói chuyện với nhau một hai lần trước cuộc xét xử và sau đó, lúc mà bà ấy dạy tôi cách kiểm soát bản thân. Bà ấy vô cùng tốt bụng và thật hiểu biết. Như thể bà ấy thực sự đã biết.

- Về việc bị quấy rối ư?

- Về cảm giác thế nào khi là nạn nhân bị quấy rối.

- Bà ấy có nói về việc từng bị quấy rối không?

- Không, không hề thấy bà ấy nói về cái gì đại loại như thế. Bà ấy chỉ tỏ sự cảm thông - sự cảm thông thực sự, chứ không phải là sự giả tạo của một người nào đó.

Đôi mắt xanh dương tỏ ra kiên định.

- Bà ấy là một người đáng kinh ngạc. Tôi sẽ không bao giờ quên được bà ấy.

***

Ký túc xá nơi Tessa Bowlby ở là một trong những cái hộp 6 tầng nhô ra ở rìa Tây Bắc của khu đất xây dựng lổn nhổn của trường Đại học. Một tấm biển bằng gỗ treo trên cái cột ghi: NƠI Ở SINH VIÊN, KHÔNG ĐƯỢC ĐỖ XE TRÁI PHÉP. Cái làm đẹp phong cảnh khu nhà ở sinh viên này là bãi cỏ trải dài và những cây cọ dừa đầy râu xung quanh. Ngay dưới đường là trung tâm giải trí trát vữa stuxô và cửa sổ kính ám khói nơi Phillipe Seacrest và Hope Devane lần đầu tiên gặp nhau.

Tôi đậu xe ở một khu bốc dỡ hàng bên ngoài tòa nhà, đi vào hành lang và đi tới cái bàn ở phía trước. Một người phụ nữ da đen khoảng 20 tuổi ngồi sau cái bàn đang dùng bút đánh dấu màu đỏ để đánh dấu vào một cuốn sách. Đôi môi cô ta cũng có màu đỏ. Phía sau lưng cô ta là cái tổng đài điện thoại. Nó nhấp nháy và kêu bíp bíp liên tục, và khi cô ta quay đầu lại để nhận cuộc gọi thì nhìn thấy tôi. Cuốn sách của cô ta đầy những chữ in rất đẹp và những bức ảnh nhỏ. Tôi đọc đầu đề của nó theo chiều ngược. Đó là cuốn: Cơ sở kinh tế học.

Đặt máy điện thoại vào tổng đài, cô ta quay mặt nhìn tôi.

- Tôi có thể giúp gì được ông?

- Xin cô cho gặp Tessa Bowlby.

Cô ta lướt tay trên một thếp giấy. Danh sách tên được đánh máy cẩn thận. Từ chữ B bắt đầu ở trang thứ 2 và tiếp tục tới trang thứ 3. Cô ta kiểm tra hai lần rồi lắc đầu.

- Xin lỗi ông, ở đây không có ai tên như vậy cả.

- Tessa có thể là tên hiệu thôi.

Cô ta nhìn tôi từ đầu tới chân và tra sổ lại lần nữa.

- Cả Bowlby cũng không có nốt. Hay là ông tới các khu nội trú khác xem sao.

Tôi kiểm tra tất cả các khu nội trú khác. Kết quả đều như nhau.

Lẽ nào Tessa đã ra ở ngoại trú. Sinh viên vẫn thường hay làm thế. Nhưng kết hợp với sự sợ hãi mà tôi đã nhìn thấy trong mắt cô ta, cộng với lượng công việc học hành đã được giảm đi nhiều, thì tôi nghĩ cô ta đã chạy trốn.

Tôi sử dụng một buồng điện thoại trả tiền ở khu nội trú cuối cùng để gọi cho Milo, ngỡ rằng thể nào anh cũng có địa chỉ nhà riêng của cô ta và tôi cũng muốn kể cho anh nghe về những lỗ hổng đào tạo của Cruvic. Milo đi vắng và điện thoại di động cũng không có tín hiệu trả lời. Hay là anh đã tìm ra một vụ giết người tương tự rồi hoặc có điều gì đó khác khiến cách lý giải của tôi hoàn toàn vô nghĩa.

Lái xe ra khỏi trường Đại học, tôi táp vào trạm xăng đầu tiên tôi gặp tại làng Westwood. Buồng điện thoại ở cạnh đó là một đống nhôm đã hỏng nằm xiêu vẹo, nhưng phía dưới cái máy điện thoại có treo cuốn danh bạ điện thoại của Westwood, không có bìa và đã bị rách, rất nhiều trang bị xé mất. Tôi nhìn thấy trang có các tên mang họ Bowlby.

Có hai người mang họ Bowlby: Bowlby, T. J., ở Venice, không có địa chỉ cụ thể; và Bowlby, Walter E., đường Missisippi ở Tây Los Angeles.

Los Angeles là vùng dân cư bừa bãi, cùng với khoảng hơn chục danh bạ điện thoại nói về khu vực này, xác suất việc hai người họ Bowlby này có quan hệ với Tessa là rất thấp. Nhưng tôi cứ thử hết sức mình với những gì đang có, bắt đầu với Walter ở đại lộ Missisippi bởi vì ông này ở gần hơn.

Rất gần. Giữa Đại lộ Santa Monica và Đại lộ Olympic, cách phía Nam của trường Đại học khoảng 1,5 ki-lô-mét, giữa một quận có những ngôi nhà nhỏ thời kỳ hậu chiến và vài dự án quá lớn.

Khu vực này đang có một ngày của rác. Khắp nơi toàn những hộp và túi vứt đầy các bãi cỏ... Những con vật gặm nhấm đang đi bới tìm cái ăn một cách hùng hậu. Vào ban tối, những con chuột anh em của chúng sẽ chiếm toàn bộ khu vực. Mấy năm trước, dân thành phố California đã bỏ phiếu để giảm mức thuế nặng đánh vào bất động sản và thế là các chính trị gia liền đưa ra sự trừng phạt bằng cách bãi bỏ các kiểm soát đối với loài vật gặm nhấm và các dịch vụ khác. Chẳng hạn như dịch vụ tỉa cành cây. Mặc dù vậy, tiền cho các hoạt động khác vẫn có đều: năm ngoái sau một trận bão, tôi đã thấy có một đội gồm 13 người của thành phố cử dành 4 ngày liền chặt và dựng đứng một nửa cây thông lên.

Nơi ở của Walter Bowlby là ngôi nhà gỗ màu vàng có mái lợp ván ốp màu đen. Bãi cỏ được cắt gọn như đầu của một lính thủy đánh bộ mới tò te, cỏ đã ngả màu xám chứ không còn màu xanh nữa. Cái hiên trước nhà rộng lớn được đặt rất nhiều bình cây, ghế nhôm, và chiếc xe đạp nhỏ màu xanh có bánh thể thao. Một chiếc xe Ford Galaxie cũ màu nâu đậu ở đường cho xe hơi. Tôi bước tới đoạn đường rải xi măng tới cửa nhà. Một cái biển tráng men người ta thường thấy ở các buổi dạ hội hóa trang hay công viên cười, ghi: Nhà họ Bowlby. Không có ai ra trả lời chuông và mấy cái gõ cửa của tôi.

Tôi trở lại chiếc Seville và sắp lái đi thì một chiếc thùng màu trắng và xanh tiến lại từ phía đường Olympic, táp vào và đỗ ngay sau con xe Ford. Chiếc xe dừng lại, nhả khói nghi ngút, cánh cửa xe bật mở.

Một người đàn ông có bộ ria đen, chân vòng kiềng khoảng 40 tuổi bước ra. Ông ta mặc chiếc áo cổ lọ trắng có một vạch xanh nằm ngang mà Milo rất thích, cái quần màu trắng ngà có nếp gấp, đôi giày lao động màu đen. Đôi cánh tay ông ta to và rám nắng nhưng thân hình lại nhỏ. Phần trên cái bụng ỏng của ông ta đã làm cho vạch màu xanh trên áo bị phồng lên và gói thuốc lá khiến túi áo ngoài của ông ta xệ xuống. Xoay cái chìa khóa xe, ông ta đứng đó xem xét bãi cỏ, rồi đưa tay lấy bao thuốc như thể bao thuốc đó đã được đặt ở đó từ lâu và quay lại khi Tessa Bowlby chui ra từ cánh cửa hành khách của chiếc xe.

Cô ta có vẻ như vẫn mặc cái áo rét màu đen rộng thùng thình và cái quần ống điếu mà tôi đã nhìn thấy khi cô ta ở tòa nhà khoa Tâm lý, và nước da cô ta hiện nay còn khô hơn hôm trước. Cô ta quay lưng lại người đàn ông có ria mép và kéo cái cánh cửa sau của xe thùng ra, để một người phụ nữ có mái tóc đã điểm hoa râm, mặc cái áo thụng đỏ và quần jeans leo ra. Người phụ nữ nhìn có vẻ mệt mỏi. Mái tóc hoa râm nhưng khuôn mặt thì vẫn còn trẻ. Trong tay bà ta là một đứa bé trai tóc đen khoảng 4 tuổi.

Đứa bé hình như đang ngủ nhưng bỗng nhiên oằn mình và đạp lung tung khiến cho người phụ nữ có mái tóc hoa râm bị mất thăng bằng. Tessa đỡ bà ta và nói điều gì đó. Người đàn ông có ria mép đã lôi ra một điếu thuốc lá, cứ đứng yên một chỗ khi người phụ nữ có mái tóc hoa râm đưa đứa trẻ cho Tessa.

Tessa cười rất ngọt ngào và đột ngột khiến tôi cảm thấy ớn lạnh như ăn kem quá nhanh vậy.

Cô ta ôm đứa bé rất chặt. Thằng bé cười khúc khích và vẫn tiếp tục oằn mình. Có vẻ Tessa quá yếu không thể giữ được đứa bé, nhưng cô ta vẫn cố giữ nó, chân đứng yên không nhúc nhích, tay cù thằng bé và cười. Đôi chân đi giày thể thao của thằng bé cứ khua khua trong không khí và cuối cùng ngừng lại. Cô ta húc mũi vào thằng bé và đi ngang qua bãi cỏ, đưa thằng bé lên hiên nhà.

Cả bốn người cùng đi lên bậc thềm nhà và người đàn ông tra chìa khóa vào ổ khóa cửa. Thằng bé con lại bắt đầu oằn mình và Tessa liền đặt nó xuống. Nó chạy thẳng tới cái xe đạp màu xanh và cố gắng cưỡi lên, chút nữa thì ngã. Tessa đặt thằng bé lên yên, giữ nó ở đó rồi cho nó xuống đất. Thằng bé cố leo lên cái lan can hiên nhà và bắt đầu cười ha hả khi Tessa rượt đuổi bắt nó.

Người đàn ông và người phụ nữ đi vào trong nhà, để ngỏ cửa. Thằng bé trèo lên đỉnh cái lan can, tay nó nắm bàn tay của Tessa. Bỗng nhiên, thằng bé nhảy xuống. Cô ta bắt được thằng bé. Nó trườn xuống chân cô ta và chạy thẳng tới cửa. Khi cô ta quay đầu lại thì nhìn thấy tôi.

Lại vẻ mặt sợ hãi hôm trước.

Cô ta nhìn tôi chằm chằm khi thằng bé chạy vào bên trong. Tay cô ta sờ tay lên má, đứng đó một giây và rồi cũng chạy luôn vào nhà.

Một giây sau đó, người đàn ông có ria mép xuất hiện. Tự cho rằng mình hoàn toàn hợp pháp nên tôi đứng nguyên ở đó.

Ông ta đi lại phía tôi, vừa đi vừa vung đôi cánh tay to khỏe. Khi cách tôi khoảng 3 mét, ông ta dừng lại và quan sát con Seville của tôi từ lưới sắt phía trước cho tới cái đèn phía sau. Rồi ông ta bước vòng qua đầu xe, đi xuống đường và tới cửa lái xe.

- Tôi là Walt Bowlby. Con gái tôi nói ông là cảnh sát.

Giọng nói ông ta không hề có sự thách thức, chỉ có sự hi vọng yếu ớt rằng điều đó không phải là sự thật. Khi tới gần, tôi nhìn thấy da của ông ta chẳng khác gì da giày. Một sợi dây chuyền vàng mỏng đeo quanh cổ ông ta. Đám lông ngực ông ta mọc tua tủa quanh sợi dây chuyền.

Tôi chìa cho ông xem cái thẻ cảnh sát.

- Tôi là chuyên viên của cảnh sát, thưa ông Bowlby.

- Một chuyên viên à? Vậy có vấn đề gì à?

- Tôi đến để nói chuyện với Tessa.

- Ông có thể cho tôi biết là về chuyện gì được không, thưa ông?

- Có một tội ác diễn ra cạnh trường Đại học liên quan tới một giáo sư của Tessa. Chúng tôi đang tiến hành nói chuyện với tất cả những ai biết nạn nhân.

Vai ông ta hạ xuống.

- Bà giáo sư chứ gì. Tessa thực sự chẳng biết cái quái gì về chuyện ấy cả và con bé cũng hơi buồn, như ông đã biết rồi đấy.

- Buồn vì vụ giết người đó ư?

Ông ta lại sờ tay lên túi áo có bao thuốc lá, lôi ra bao Salem, rồi đập túi quần để tìm diêm.

Tôi kiếm được một bao diêm trong khoang chứa găng tay và bật lửa cho ông ta.

- Cảm ơn. Không hẳn là về bà giáo sư. Con bé... - Ông ta quay lại nhìn căn nhà - Tôi có thể vào xe của ông được không?

- Được, xin mời ông.

Ông ta đi vòng ra phía sau và chui vào chỗ ngồi của hành khách, tay cầm dây da.

- Đẹp thật, tôi luôn thích kiểu xe này. Đời xe 78 hả?

- 79 đấy.

Ông ta gật đầu và hút thuốc lá, nhả khói thuốc ra ngoài cửa kính.

- Hãng General Motor làm loại này theo mẫu khung gầm Chevy Two mà nhiều người cho là một sai lầm. Nhưng họ vẫn cứ duy trì. Cái xe này là của thành phố, vậy thì nó là một trong những chiếc sung công rồi.

- Không, nó là của cá nhân tôi đấy.

- Ông đã có nó lâu chưa?

- Được vài năm rồi.

Lại gật đầu. Ông ta nhìn vào cái ván sàn xe:

- Tessa gặp một vấn đề. Ông có biết không?

Vì không biết Tessa đã nói với ông ta về chuyện vụ hiếp dâm chưa nên tôi đáp:

- Một vấn đề mà bà giáo sư Devane đã giúp con bé tháo gỡ ấy à?

- Đúng. Con bé... con bé Tessa nhà tôi rất thông minh. Phải nói nó gần như là một thiên tài có chỉ số IQ cao lắm. Khi nó muốn bỏ học, chúng tôi đã hỏi lý do nhưng nó không nói, chỉ nói rằng muốn trở về nhà. Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên lắm, vợ tôi và tôi ấy, bởi vì con bé cãi om sòm lên rằng nó muốn có cuộc sống riêng của nó. Cuối cùng nó suy sụp và khóc ầm ỹ, rồi kể cho chúng tôi về... ông biết rồi đấy. Chuyện hãm hiếp ấy. Và cả chuyện bà giáo sư đã đưa thằng bé ấy ra xét xử ra sao. Và rồi bà ấy bị giết. Lúc đầu, câu chuyện nghe kỳ lạ tới mức chúng tôi không thể tin được. Nhưng rồi, chúng tôi biết được tin tức từ đài báo về vụ giết người ấy.

- Chuyện gì là kỳ lạ, chuyện hiếp dâm hay chuyện giết người, thưa ông?

Ông ta hít một hơi thuốc dài và ngậm rất lâu. - Con bé đã nói ra sự thật, toàn bộ, thưa ông.

- Ông có nghi ngờ gì về việc Tessa bị tấn công hay không?

Ông ta thò một tay ra ngoài xe và vẩy tàn thuốc.

- Làm sao tôi lại làm thế chứ. Tôi yêu con gái tôi nhiều lắm nhưng con bé... là đứa thông minh thực sự. Ngay từ lúc bé nó đã thế rồi. Nhưng khác cơ. Bây giờ nó buồn thê thảm. Nó bị trầm cảm. Kể từ khi còn bé, nó đã luôn là đứa dễ vui dễ buồn rồi. Và rồi nó thu mình trong thế giới bé nhỏ của riêng nó - một trí tưởng tượng tuyệt vời... - Ông nhún vai và hút thuốc. Điếu thuốc đã cháy gần tới đầu lọc.

- Trí tưởng tượng của con bé có thể trở nên bừa bãi - Ông ta nói tiếp.

- Vậy con bé có buộc tội ai khác làm nhục nó không, thưa ông Bowlby?

Ông thở dài, rít một hơi khác, nhìn vào mẩu thuốc còn lại và dùng hai ngón tay bóp mạnh để dập tắt. Tôi lôi ra cái gạt tàn thuốc, ông ném cái mẩu thuốc đã tắt vào trong.

- Cảm ơn. Ông không phản đối nếu tôi châm một điếu khác chứ?

- Ông cứ việc.

- Một thói quen đáng sợ. Ngày nào tôi cũng đã cố bỏ đấy - Ông cười khà khà.

Tôi mỉm cười và nhắc lại câu hỏi. Ông nói:

- Chúng tôi từng sống ở thành phố Temple, cảnh sát ở đó có lẽ vẫn lưu giữ các hồ sơ. Mà cũng có thể là không bởi vì thằng bé ấy còn rất nhỏ, tôi nghe người ta nói rằng họ sẽ không giữ hồ sơ đối với những chứa nhỏ.

- Chuyện xảy ra đã lâu chưa?

- Nay Tessa đã 20, lúc đó nó mới khoảng độ 12 tuổi, vậy là cách đây 8 năm rồi. Thằng bé đó - chúng tôi biết gia đình cậu ta, tôi làm việc cùng với bố cậu ta tại công ty Ford, lúc đó họ có một nhà máy ở Montebello - thằng bé nhiều tuổi hơn Tessa một chút. Tôi nghĩ nó 13 tuổi. Gia đình chúng tôi sống gần nhau và chơi với nhau. Chúng tôi thường tới Yosemite để cắm trại. Có thể chuyện xảy ra ở trong một cái trại. Hai đứa chúng nó đã ở lại trong khi tất cả tới bãi rác để tìm gấu. Nhưng vấn đề là Tessa đã không nói gì cả cho tới khi chúng tôi trở về nhà. Phải 3 tới 4 ngày sau đó nó mới nói. Cảnh sát thành phố Temple nói rằng đó là quyền xét xử của đội quản lý công viên quốc gia, nhưng họ vẫn đưa thằng bé tới để xét hỏi. Rồi họ nói họ nghĩ thằng bé đó vô tội nhưng chúng tôi có thể cứ theo đuổi kiện cáo nếu muốn. Họ cũng nói chúng tôi nên đưa Tessa tới gặp bác sỹ tâm thần.

Ông rít thuốc tóp cả hai má lại và phụt luồng khói trắng ra khỏi cửa kính xe. Những cái răng của ông đã ngả sang màu xỉn, thưa thớt. Tĩnh mạch lồi ra trên đôi cánh tay to khoỏe rám nắng, và đầu các móng tay đen như than.

- Con bé - Chuyện là ở chỗ - con bé rất thông minh, ngay cả khi nó gặp vấn đề, nó vẫn luôn đạt điểm xuất sắc tại trường. Lúc nào cũng đạt điểm A. Nó có óc tưởng tượng tốt... chúng tôi hi vọng... thực sự tôi mong ông không đến nói chuyện với nó. Con bé thông minh nhưng rất nhạy cảm. Nuôi nấng nó y như là đi trên một cái dây treo vậy. Một trong số các bác sỹ của nó đã nói với chúng tôi như thế. Ông ta nói rằng con bé yếu đuối lắm. Tôi không biết nói chuyện với con bé sẽ có tác dụng gì.

- Vậy là ông thực sự nghi ngờ cả hai câu chuyện à.

Ông ngập ngừng rồi nói:

- Tôi thực lòng không biết phải tin vào cái gì nữa. Thằng bé ấy đã bác bỏ hoàn toàn và nó chưa bao giờ gặp thêm rắc rối nào nữa mà tôi biết. Năm ngoái nó đã vào Hải quân, làm việc rất tốt, lấy vợ và có một con rồi.

- Trông ông rất đau khổ. Tôi nghĩ tới đánh giá của Muscadine về Tessa rằng cô ta có những vấn đề nghiêm trọng.

- Tessa có tố cáo ai khác nữa không, ông Bowlby?

Ngập ngừng một lúc rất lâu, ông cậy cái gì đó ở trong răng và ném ra ngoài cửa kính xe.

- Tôi nghĩ rằng thể nào cuối cùng ông cũng sẽ tìm ra, vậy tôi xin nói luôn cho ông hay.

Ông ta bắt đầu hút thuốc nhưng thay vì hít khói thuốc, ông ta lại nuốt nước bọt đánh ục một tiếng khiến tôi cảnh giác. Một bàn tay đưa nhanh lên và che đôi mắt.

- Con bé đã tố cáo cả tôi - Ông nói, giọng run run - 2 năm sau đó, lúc nó 14 tuổi. Chúng tôi đã đưa nó tới một bác sỹ tâm thần bởi vì nó nói định tự tử, không ăn uống gì - ông thấy nó gầy thế nào rồi đấy. Con bé thường bị căn bệnh đó hành hạ - chứng biếng ăn ấy mà. Nó luôn nghĩ mình béo, ngày nào cũng nhảy dây. Nó bắt đầu làm thế từ năm 14 tuổi, và đã giảm hẳn 25 ki-lô-gam. Bác sỹ tâm thần đưa nó vào bệnh viện và họ cho nó ăn bằng cách tiêm vào tĩnh mạch, đưa một bác sỹ tới nói chuyện với nó và lúc đó nó mới nói đã nhớ lại.

Ông bỏ bàn tay khỏi mắt. Mắt đẫm lệ nhưng ông nhìn thẳng vào tôi.

- Nó nói chuyện xảy ra khi nó còn nhỏ - là một đứa bé khoảng chừng 2 hay 3 tuổi - Ông lắc đầu - Điều đó không hề đúng, thưa ông. Họ tin tôi - bệnh viện, cảnh sát và vợ tôi ấy. Cơ quan pháp luật nói rằng họ phải điều tra và tôi đã phải trải qua tất cả những điều tra ấy. Thật là kinh khủng. Lại là cảnh sát thành phố Temple. Một vị thanh tra tên là Gunderson đến làm việc. Ông ta là người rất tốt, có thể vẫn còn đương chức ở đó. Dù sao, vấn đề chốt lại là ở sự tưởng tượng của Tessa. Nó tự đi theo hướng riêng, ngoài khả năng kiểm soát của con bé. Có thể lúc còn bé, nó đã xem thứ gì đó trên ti vi, rồi muốn như thế - những nhân vật trong phim hoạt hình chẳng hạn. Ông có hiểu không? Có thể bay như những siêu nhân ấy. Vì thế, tất cả những gì tôi có thể nghĩ là nó đã xem một vài bộ phim nào đó và bắt đầu tin rằng có điều gì đó đã xảy ra với mình.

Ông ta vuốt chòm ria.

- Trước khi kết hôn, tôi cũng là cậu bé bướng bỉnh, từng bị cơ quan quản lý thanh niên bắt giam vì tội trộm cắp. Nhưng sau đó tôi nhận trách nhiệm, học cơ khí - tôi nói với ông tất cả điều này để ông thấy được rằng tôi hoàn toàn thẳng thắn. Ông hiểu ý tôi chứ?

- Vâng.

- Vấn đề là ở chỗ với Tessa ông không bao giờ có thể biết chắc nó sẽ làm gì. Sau vụ điều tra đó, con bé thừa nhận đã sai lầm, nói rằng nó cảm thấy tội lỗi và muốn tự tử. Mẹ nó và tôi nói với nó rằng chuyện đó sẽ là chuyện tồi tệ nhất và chúng tôi vẫn còn yêu quý nó. Tệ hơn, tiền bảo hiểm để cho nó nằm viện đã hết và vì thế chúng tôi phải đưa nó về nhà, đúng lúc tình hình còn đang xấu. Bệnh viện bảo phải theo dõi con bé sát sao. Chúng tôi không bao giờ rời mắt khỏi nó. Rồi chúng tôi mời bác sỹ từ bệnh viện thị trấn tới khám tại nhà và dường như con bé thích như thế. Chúng tôi nghĩ con bé đã ổn. Và để cho ông thấy con bé thông minh tới mức nào, tôi cho ông biết rằng những năm đi học nó luôn được điểm tốt, được nhận thông vào đại học. Chúng tôi nghĩ mọi thứ đã ổn cả, Rồi năm nay, nó thông báo rằng sẽ về nhà. Sau đó nó suy sụp và kể với chúng tôi về chuyện hiếp dâm. Tôi nói là tin nó nhưng...

Ông lại vò tắt mẩu thuốc thứ hai rồi bỏ vào trong hộp đựng tàn của xe.

- Nếu tôi chắc chắn được chuyện đó là đúng thì tôi đã đi tìm thằng nhóc ấy rồi. Nhưng tôi biết con bé đã từng bịa chuyện tố cáo cả bản thân bố nó thì thằng nhóc ấy có là cái gì. Vì thế tôi còn biết phải nghĩ sao nữa? Và nó cũng không hề kiện cáo gì cả cho tới khi nghe những lời dạy của bà giáo sư. Rồi bà ấy bị giết. Tôi nghe thấy nói như vậy nên đâm ra lo sợ.

- Ông lo sợ điều gì?

- Những kẻ cục mịch như tôi, bỏ học từ cấp 3 thường nghĩ rằng trường đại học là một nơi an toàn. Thế rồi vỡ mộng khi nghe nói về chuyện đó.

- Tessa có kể với ông điều gì về giáo sư Devane không?

- Chỉ nói rằng bà ấy đã bị giết. Vì đã tin nó. Nó nghĩ sẽ không còn ai tin nó nữa. Rồi nó nói tới chuyện hiếp dâm và khóc thảm thiết. Nó nói rằng nó không muốn là cô gái kêu khóc với con chó sói. Tôi bảo nó quá khứ là quá khứ, tôi tin điều nó nói và hãy tới cảnh sát để tố cáo kẻ đã gây hại. Nhưng nó thực sự sợ hãi về điều đó, nói rằng không có ai tin nó cả, rằng tới cảnh sát chỉ là phí thời gian, không hề có chứng cứ nào, đó là vụ hiếp dâm trong buổi hẹn hò trai gái, không ai nhìn nhận nghiêm túc chuyện đó cả.

- Ngoại trừ giáo sư Devane.

- Ngoại trừ bà ấy. Đúng. Tôi nghĩ đó là lý do duy nhất con bé kể chuyện với tôi rằng bà giáo sư đã bị giết, rằng nó sợ. Tôi hỏi rằng có phải nó nghi kẻ hại nó chính là hung thủ giết giáo sư không. Nó không trả lời câu hỏi đó, chỉ nói rằng giáo sư tin tưởng nó, đối xử với nó rất tử tế và bà ấy bị giết chết, người tốt phải chết, thế đấy. Rồi con bé nói đã thay đổi ý kiến không muốn về nhà nữa mà sẽ trở lại ký túc. Và nó đi luôn. Chúng tôi để nó đi nhưng gọi điện cho nó vào ngày hôm sau. Nó không trả lời. Vì thế chúng tôi tới đó, thấy nó nằm trên giường, nhìn chằm chằm lên trần nhà. Thức ăn để xung quanh, nhưng nó không động tới. Nó cứ nhìn lên trần nhà. Chúng tôi đã thấy nó như thế trước đây rồi, khi mà nó ngừng uống thuốc ấy.

- Đó là thuốc gì vậy?

- Thường là Nardil, rồi sau đó là Tofranil, Prozac. Bây giờ nó đang uống một thứ thuốc khác - thuốc Sinequan thì phải? Khi uống, nó trở nên bình thường. Cho dù đầy bệnh tật như vậy mà nó vẫn cứ đạt điểm B, điều đó theo tôi rất đáng kinh ngạc. Nếu mà nó không bị bệnh tật gì thì chắc nó sẽ luôn đạt điểm A. Thật là một con bé thông minh, từ trước đã thế rồi. Có thể nó quá thông minh nên mới thế, tôi cũng không biết thế nào nữa.

Ông ta đưa hai bàn tay ra, ngửa lên trên.

- Vậy ông thấy con bé nằm trên giường - Tôi nói - Không ăn gì cả à?

- Chúng tôi đã xin đưa con bé ra khỏi ký túc và mang về nhà. Dù sao nó mới học được hai tiết, bởi vì bác sỹ không muốn nó bị sức ép. Chúng tôi hỏi tại sao nó không bỏ hẳn một kỳ vì sau đó nó có thể vẫn trở lại học bình thường. Nó trả lời rằng không, và muốn đi học. Bác sỹ nói rằng đó là một biểu hiện tốt - và đã có động cơ rõ ràng. Vì vậy chúng tôi để nó tiếp tục đi học.

Ông quay sang tôi:

- Con bé cứ đăng ký đi học nhưng không hề học hành gì. Không đọc sách, không làm bài tập về nhà.

- Vậy con bé vẫn đi tới lớp đều đấy chứ?

- Chỉ thỉnh thoảng tới lớp thôi. Vợ tôi lái xe đưa đi đón về. Đôi khi nó ngủ ở nhà và không đi nữa. Chúng tôi không thích nhưng còn biết làm gì nữa? Ông không thể theo dõi nó 24 tiếng đồng hồ hàng ngày mặc dù bác sỹ tâm thần yêu cầu như vậy.

- Con bé vẫn tới gặp bác sỹ tâm thần ư?

- Không thường xuyên nhưng chúng tôi vẫn cứ gọi ông ấy tới bởi vì ông ấy là người tốt, tiếp tục đến thăm bệnh cho con bé ngay cả khi tiền trả cho ông ấy không còn. Đó là bác sỹ Emerson, ở Glendale. Ông muốn nói chuyện với ông ấy, tôi sẽ giới thiệu cho. Ông ấy là Albert Emerson - Ông đọc cho tôi ghi lại số điện thoại của vị bác sỹ.

- Ông ấy có bao giờ nói kết luận chẩn bệnh cho ông nghe không?

- Bệnh trầm cảm. Ông ấy nói con bé sử dụng trí tưởng tượng để tự bảo vệ nó.

Ông lau mắt và thở dài.

- Thật tệ - Tôi nói.

- Đó là chuyện tồi tệ. Thằng con trai tôi thì ổn.

- Nó bao nhiêu tuổi rồi?

- Tháng sau thì đầy 4 tuổi - ngần ấy tuổi mà nó to lớn thế đấy.

- Ông còn đứa con nào khác không?

- Không, chỉ có hai đứa. Chúng tôi không biết có nên có thêm không bởi vì tất cả thời gian chúng tôi đều dành cho con Tessa cả. Và vợ tôi còn có một người em trai bị thiểu năng trí tuệ đang sống trong một trung tâm dành cho người bị bệnh ấy. Vì thế chúng tôi không biết có chuyện gì di truyền ảnh hưởng tới con cái chúng tôi không.

Ông ta cười:

- Rồi chúng tôi thấy bất ngờ.

- Sự bất ngờ thú vị - Tôi đáp.

- Ô, đúng đấy. Robbie là thằng bé thông minh, biết ném bóng mà nếu ông nhìn thấy sẽ không thể tin được. Chơi với thằng bé là điều duy nhất mà Tessa cảm thấy vui. Tôi để cho nó trông thằng bé nhưng vẫn phải để mắt tới.

- Vì chuyện gì?

- Tâm trạng của con bé. Thằng con tôi là một đứa bé luôn vui vẻ và tôi muốn sẽ như thế sau này. Thế mà khi chúng tôi xem ti vi thấy tin bà giáo sư bị giết chết, Tessa đã khóc và thằng Robbie cũng thực sự trở nên buồn. Tôi liền dỗ dành con bé, bảo rằng nó phải kìm nén vì Robbie. Sau đó thì nó thôi khóc và không còn muốn nói về chuyện ấy nữa. Con bé đã bình tĩnh trở lại, thế là tốt lắm rồi. Nhưng tôi vẫn phải để mắt cảnh giác.

(ALEX DELAWARE, #11) Dành tặng Beverly Lewis ebook©MotSAch TVE-4u©amylee —★— NXB: CÔNG AN NHÂN DÂN: 2007
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.