Sáng hôm sau đầu tôi như cái kính ngắm của khẩu súng trong đó điểm ngắm là Locking.
Tôi bắt đầu gọi điện thoại vào lúc 9 giờ, người vẫn mặc bộ đồ ngủ. Không có ai trả lời, cả ở nhà anh ta lẫn ở trường. Có lẽ anh ta đã xuống tầng một vào phòng thí nghiệm với mấy con chuột.
Tôi không có địa chỉ nhà anh ta vì hồ sơ của anh ta đã bị mất. Liệu có phải chính anh ta đã lấy đi rồi không? Anh ta đang che giấu điều gì đó chăng?
Gọi điện thoại tới khoa Tâm lý, tôi nói bằng giọng của một người đầy quyền lực và bảo với cô thư ký:
- Tôi là bác sỹ Delaware đây. Tôi cần tìm một nghiên cứu sinh để bàn về một vấn đề nghiên cứu. Tên anh ta là Casey Locking. Hồ sơ của anh ta ở chỗ các cô đã bị mất. Cô đã từng cho tôi số điện thoại của anh ta nhưng tôi cần địa chỉ.
- Xin bác sỹ chờ cho một lát - Mấy tiếng lách cách vang lên - Tôi đã có địa chỉ của anh ta ở số nhà 1391 Londonderry Place.
Sau khi cô ta đọc địa chỉ, tôi nói:
- Thế còn phòng thí nghiệm của anh ta thì sao? Liệu anh ta có làm việc thêm ở đó không?
- Xin ông chờ cho một lát... không, không có ai ở đây cả.
- Cám ơn. Thế có mã vùng cho địa chỉ ở Londonderry Place không?
- Nó là LA(22) 90069.
Đó là địa chỉ ở đồi Hollywood, phía Bắc của dải Sunset. Đó là nơi ở tốt cho một nghiên cứu sinh. Cảm ơn cô ta lần nữa, tôi đi mặc quần áo đàng hoàng.
Tôi lái qua đường Sunset, qua Beverly Hills và vào đường Tây Hollywood, lái qua những cơ quan cược bóng đá, những văn phòng luật sư hào nhoáng, những cái hộp bằng thủy tinh được đổ đầy những Feraris và Lamborghinis. Tôi đi qua Roxy, Nhà xanh, Hổ Rắn. Tại Holloway, tôi để mắt tới cái biển mạ đồng có chữ hộp đêm None trên cái đèn nhấp nháy bằng nê ông.
Vậy là Locking sống gần nơi Mandy hành nghề.
Tiếp đến là Sunset Plaza với những cửa hàng quần áo thời trang từng được các nhân vật trong làng Oscar mặc, những quán cà phê bên đường đông nghẹt các diễn viên tới tìm việc và những ông bầu đầu cạo trọc đang chờ đợi để xem họ có thể làm giàu được không hay là chết. Nếu một người phụ nữ nào đó ở đây được tuyển làm diễn viên thì cô ta có thể phải cởi quần áo. Dù thế nào thì những người đàn ông vẫn muốn được nhìn.
Londonderry Place cách quán cà phê cuối cùng đúng một dãy nhà, qua quán cà phê Ben Franks phục vụ 24/24.
Để tới nhà của Locking cần phải leo thêm hai dãy nhà nữa, đó là căn nhà hai tầng, màu trắng không hề được thay đổi từ những năm 50. Lẽ ra đứng ở trên đó là có thể nhìn thấy được phong cảnh thành phố nhưng ngôi nhà anh ta ở lại có cửa sổ thấp và sử dụng cửa chớp nên khó có thể nhìn thấy được. Những cây ngọc giá và hoàng tinh mọc trùm lên mặt tiền nhà. Những bậc thềm bằng bê tông dẫn tới cửa trước và một cái biển báo được gắn ở bên trên.
Tôi leo theo một con đường dài, con đường còn tiếp tục đi qua căn nhà anh ta ở. Có đủ chỗ đậu xe cho cả chục chiếc nhưng chỉ có mỗi chiếc BMW 530i đang ở trong sân. Qua cánh cổng gỗ đang mở, tôi nhìn thấy một cái hồ màu xanh biếc và phần sàn bằng xi măng, cái ghế đặt ở hiên nhà. Những cây liễu rủ tạo ra bóng râm màu tối.
Không có gì xa xỉ ngoại trừ tiền nhà anh ta phải trả là 2000 đô-la một tháng.
Tôi leo lên các bậc thềm tới cửa trước. Không có nhiều thư từ trong hộp thư nhưng lúc này cũng là quá sớm cho người đưa thư đến nhà. Chiếc xe ở sân nói rằng Locking có thể đang ở nhà.
Tôi bấm chuông cửa và chờ đợi. Có tiếng nhạc hay gì đó từ trong nhà vọng ra qua khe cửa. Tiếng rất to, đập mạnh. Các ca sỹ đang gào thét.
Đó là tiếng trống mạnh. Locking đã chọn tiếng trống này để làm nền khi tra tấn con chuột.
Tôi gõ cửa rất mạnh và rung chuông lần nữa nhưng vẫn không có tín hiệu trả lời. Leo xuống theo đường ô tô, tôi nhìn xung quanh xuống đường phố. Không có người hàng xóm nào quanh đó cả. Ở Los Angeles, họ cũng ít khi lảng vảng xung quanh nhà nhau.
Tôi nhẹ nhàng đi qua con BMW, và đi dọc theo cạnh của ngôi nhà. Lại có thêm những cửa sổ chớp.
Cái hồ rộng tới 200 mét vuông, hình oval chiếm tới 90% diện tích sân sau. Còn lại là những đồi cây thường xuân núp dưới những cây liễu. Cái ghế để ở thềm đã bị han gỉ, hai cái khác cũng trong tình trạng tương tự. Không xa đó lắm là một cái lò nướng bằng ga và cái vòi phun nước tưới vườn còn cuộn nguyên, có nhiều nếp xoắn như thể đã không còn được sử dụng nữa.
Từ phía sau, tiếng nhạc còn to hơn.
Những cánh cửa kéo bằng kính đen vòm sợi thủy tinh cách nhau một vài phân.
Tôi đi tới và nhòm vào bên trong. Căn phòng trông như cái hang. Kính, gương, ly, những cái gạt tàn thuốc bằng nhựa lớn. Đèn đóm đã tắt hết ngoại trừ những con số màu xanh đang nhảy nhót ở trên một khuôn mặt màu đen. Chồng máy stereo cao tới 1,8 mét. Máy CD đang chạy. Tiếng nhạc kêu inh tai.
Cố gắng bỏ qua tiếng nhạc, tôi đặt tay lên cửa kính và liếc mắt nhìn vào. Bảng chuông nằm ở một góc nhà. Một cái đèn màu xanh nữa.
Cái thảm màu xám thật bẩn thỉu. Những cái ghế bọc da đã chuyển màu đen, những cái bàn cũng được sơn màu đen, tượng của một người phụ nữ khỏa thân đang cúi người xuống một cách ngoan ngoãn. Một bức tường bị choán hết bởi tượng đá khung crôm của một phụ nữ to cao có bộ ngực to bằng quả dưa hấu trong bộ quần thể thao bó sát người bằng da. Cái mũ xe máy trễ xuống qua mắt của cô ta. Cái mắt bên kia thì nhấp nháy. Đối diện bức tượng là cái lò sưởi đá gran-nít màu xám có rìa đã bị sứt mẻ. Không có củi trong lò. Những cái ghế đẩu màu đen. Một hộp đĩa CD đơn đặt trên chiếc ghế.
Tiếng trống nghe thót tim, tiếng bass nghe chói tai, tiếng ghi-ta nghe như tiếng máy bay phản lực. Những ca sỹ đang kêu gào, gào đi, gào lại.
Không hề có dấu vết của Locking.
Tôi đẩy cửa mở ra một vài phân, thò đầu vào trong gọi:
- Có ai ở nhà không đấy?
Thuốc lá, những mẩu đầu lọc và tàn thuốc rơi đầy trên thảm trải nhà. Trên bàn là đống tạp chí.
Tôi tiến lại gần hơn, nói thật to:
- Có ai ở nhà không đấy?
Những cuốn tạp chí toàn về tâm lý và đó là những thứ mà bạn không cần phải có bằng tiến sỹ cũng hiểu được.
Những bìa tạp chí có đủ màu sắc: đỏ, hồng, vàng, đen, nâu. Đó là cuốn tạp chí về hoạt động lâm sàng và những thứ tương tự.
Đó là ý tưởng bài tập về nhà của Locking ư?
Trên cái bàn khác là hộp Côca Côla đã mở, một chai Bacardi gần hết, và một ly đầy những thứ gì đó đã bị pha loãng đi, có màu gần như là hổ phách. Những cục đá đang bị tan, đồ uống đã rót ra nhiều giờ trước đó.
Một cái ly. Một bữa tiệc chỉ có một người.
Có thể Locking đã uống đến say bí tỉ nên không còn nghe thấy tiếng động nữa.
Tôi lại hỏi thật to.
Không có tiếng trả lời.
Tôi thử gọi thêm một lần nữa. Căn phòng có mùi thuốc lá và thức ăn mua mang về. Những cái gạt tàn thuốc lá màu đen khổng lồ trên bàn rượu dường như đã tràn ra ngoài. Biểu tượng của Vegas ở trên thành của một cái, đây là nơi và Ted Barnaby đã từng làm việc.
Bản nhạc từ đĩa CD là của ban nhạc mang tên Sepultura. Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là Mộ.
Hình ảnh thật đẹp.
Tôi tắt nhạc đi.
Không gian lặng như tờ. Không có tiếng người phản đối.
- Có ai ở nhà không đấy?
Không có tiếng trả lời.
Đây không phải là lúc để đi sâu hơn vào thám hiểm nơi này. Một nửa số người sống ở Los Angeles có súng. Mối quan hệ của anh ta với Cruvic và hình ảnh chơi ngông của anh ta khiến anh ta có thể là một trong số những người có súng. Nếu anh ta đã ngủ được trong tiếng nhạc ầm ầm như thế thì việc đánh thức anh ta dậy có thể nguy hiểm. Chí ít, tôi cũng đã vi phạm vào luật không xâm phạm vào nhà người khác.
Tôi quay ra định đi thì thấy có cái gì đó dưới một trong những cái gạt tàn thuốc.
Một bức ảnh của máy chụp nhanh. Một góc bức ảnh có gắn ghim.
Nó được đặt khớp với thành của cái bàn và cố định ở đó.
Như thể, cái ảnh này là để cho người ta xem.
Đó là bức ảnh của một người phụ nữ.
Cô ta hoàn toàn khỏa thân cho tới tận eo, hai cánh tay bị kéo cao lên quá đầu, hai cổ tay bị trói gô vào miếng gỗ đầu giường. Cặp vú nho nhỏ của cô ta bị sức ép kéo lên cao, làn da màu tai tái bọc ngoài bộ xương sườn bị kéo giãn ra. Cơ đen ta nổi lên căng cứng, bộ da như da ngỗng.
Mặt cô ta bị che đậy bởi một cái trùm đầu có khóa kéo.
Ở khu vực mũi có hai chỗ khóa mở, cái khe khóa ở miệng bị đóng kín.
Những lỗ ở mắt cũng được mở ra.
Hai cái đĩa màu nâu sáng chiếu qua.
Bên dưới chúng là hai đầu vú căng cứng, đã bị một đôi bàn tay véo vào.
Đó là bàn tay của người đàn ông. Là của hai người đàn ông khác nhau.
Bàn tay ở bên trái có vằn lông được nối với một cánh tay trơn nhẵn.
Hình xăm cái mỏ neo nhỏ ở giữa cánh tay.
Cái bàn tay bên phải, bóng nhẵn và không có lông, thò ra khỏi ông tay áo màu đen có gân.
Một chiếc nhẫn đeo ở bàn tay đó. Chiếc nhẫn đầu lâu bàng bạc, đôi mắt bằng thuỷ tinh màu đỏ.
Tôi tiến lại gần cái bức ảnh đó hơn.
Và nhìn thấy Locking.
Anh ta đang ở trên sàn nhà phía sau quầy rượu.
Đầu nghé lên góc nhà, hai chân dang rộng, hai cánh tay bất động. Một bàn tay gấp vào trong lòng, những ngón tay của bàn tay còn lại xòe ra.
Những móng tay màu xanh. Môi cũng màu xanh.
Cái nhẫn đầu lâu nhe răng cười với tôi.
Cái đầu anh ta đã bị văng ngoẹo ra phía sau khiến cái cổ thành một vòng cung về phía trần nhà. Xương gò má chùng xuống, bộ tóc dài rối bù.
Cái áo tắm bằng lụa màu đen không che nổi thân thể trắng và gày gò của anh ta.
Người anh ta trắng ngần ngoại trừ những điểm tái xám trên da nơi mà máu đã đọng lại sau khi anh ta tắt thở.
Miệng anh ta há to.
Khi sống anh ta thật tự phụ nhưng khi chết thì khuôn mặt lại tỏ ra đầy kinh ngạc.
Một cái lỗ có váng máu bám đầy nằm giữa trán anh ta.
Những dòng máu đã khô trên khuôn mặt anh ta, chảy xuống cái ngực không lông, làm thẫm lớp vải lụa đen của áo.
Máu có trên tấm thảm và cả trên tường phía sau anh ta. Máu tràn ở dưới xác anh ta.
Rất nhiều máu; thế mà tại sao khi vào đây tôi không nhìn thấy ngay nhỉ?
Mắt anh ta nửa khép nửa mở, khô cứng, và mờ đục như của những con cá bị phơi khô trên cảng. Những vệt máu tạo thành vật trang trí cho hàng mi dài của anh ta.
Tôi đã từng chứng kiến nhiều cái chết. Lần gần đây nhất đã giết một người đàn ông vì... tự vệ.
Hơi thở tôi dồn dập.
Bỗng nhiên, căn phòng có mùi chua loét.
Vị trí cái đầu anh ta làm tôi chú ý. Lẽ ra nó phải bị rơi xuống đất rồi.
Nhưng nó lại hướng lên trên, dựa vào tường như thể đang trong tư thế cầu nguyện.
Vậy nó được đặt như thế hay sao?
Xung quanh anh ta còn có thêm nhiều bức ảnh chụp lấy ngay nữa.
Rất nhiều. Xung quanh cái xác.
Vẫn là người phụ nữ đó, bị trói và bị bịt mặt.
Những bức ảnh chụp cận cảnh đùi cô ta, ngực, bụng và phần bên dưới.
Có cả những bức ảnh chụp toàn phần, phơi bày toàn bộ cơ thể cô ta, một cơ thể dài, nhỏ nhắn và có màu xám xịt, hai chân dang rộng trên chiếc giường có miếng drap trắng muốt.
Hai chân bị buộc vào tấm gỗ cuối giường, hông co lên phía trên như thể đang cố gắng cổ vũ cho một kẻ cưỡi.
Có những bức ảnh thì chụp riêng cô ta, cũng có những bức ảnh chụp cô ta với hai bàn tay ấy.
Véo, bóp, nhào, nặn và sờ mó.
Những cận cảnh phụ khoa.
Rồi cái bao chụp đầu cũng được bỏ ra. Bộ tóc màu vàng kẹp gọn ghẽ và được vén ra khỏi khuôn mặt.
Khuôn mặt rất đẹp, mỡ màng.
Cái miệng há ra thể hiện sự sợ hãi hoặc sự sung sướng. Hoặc là cả hai. Đôi mắt nâu mở rộng, sáng, tập trung và đang nhìn xa xôi.
Cho dù như thế, những cảm xúc của Hope Devane vẫn rất khó nói.
Mắt tôi đảo trở lại cái xác của Locking.
Có cái gì đó trên sàn nhà.
Một cái hộp các-tông. Rồi lại có những bức ảnh khác. Có tới hàng trăm ảnh. Một cạnh của cái hộp có hàng chữ ngay ngắn:
NGHIÊN CỨU VÀ TỰ KIỂM SOÁT, LÔ 4, SƠ KHẢO.
Khi Locking mang cái hộp các-tông khỏi nhà của Seacrest, anh ta thậm chí không buồn đóng nắp lại. Anh ta đã giấu những bức ảnh ở ngay phía dưới của đống giấy in ra từ máy tính.
Anh ta đã làm trò đùa với cảnh sát.
Và Seacrest đã đồng lõa trong việc này. Ông ta đã nói to để cảnh báo cho Locking.
Cái cánh tay có hình xăm. Vậy là họ đồng lõa với nhau.
Một tiếng vo ve làm tôi giật mình. Một con nhặng xanh đã vào qua lối cửa mở. Nó bay xung quanh phòng, đậu lên bàn, lại bay, kiểm tra những cái gạt tàn thuốc rồi bay nhanh tới tôi. Tôi lấy tay xua nó đi chỗ khác và nó liền tránh đi, bay tới cái gương để tự ngắm mình rồi quay trở lại. Nó bay lòng vòng trên xác của Locking rồi đậu vào một nơi ở bụng trên một miếng máu. Nó đậu ở đó. Mấy cái chân của nó xoa vào nhau.
Tôi đi kiếm điện thoại.
(21) Đạo Thiên chúa cứu vớt.
(22) Los Angeles.