Nhờ có khoa học, chúng ta có những thay đổi sâu sắc trong hình ảnh tự mãn của bản thân. Thiên văn học dạy chúng ta rằng Trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ đơn thuần là một trong chín hành tinh đang xoay trong một thiên hà gồm hàng tỷ những vì sao. Từ kiến thức sinh học, chúng ta biết rằng con nguời không phải được Chúa trời tạo ra một cách đặc biệt mà tiến hóa khoảng 10.000.000 năm về trước cùng với các loài sinh vật khác. Giờ đây, khảo cổ học lại đang phá vỡ một niềm tin thiêng liêng khác rằng: lịch sử loài người trong vòng 1.000.000 năm cuối cùng là một thiên sử thi chỉ bao gồm những tiến bộ.
Cụ thể hơn, những khám phá gần đây nêu lên rằng việc tiếp nhận nông nghiệp (với công việc chăn nuôi gia súc) vốn được cho là những bước đi có tính quyết định để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhưng thực chất lại là cột mốc quan trọng cho cả những điều tồi tệ hơn cũng như những điều tốt đẹp hơn. Cùng sự xuất hiện của một nền nông nghiệp, lượng lương thực sản xuất gia tăng nhanh chóng và loài người có được lương thực để dự trữ, nhưng kéo theo đó còn là sự bất bình đẳng trong toàn xã hội, phân biệt giới tính, bệnh tật và chế độ chuyên chế là những điều nguyền rủa sự tồn tại của con người hiện đại ngày nay. Do đó, trong những đặc trưng về văn hóa của loài người được đề cập tới trong phần III của cuốn sách này, nông nghiệp được thể hiện trong những đặc điểm của họa phúc lẫn lộn, một vị trí nằm giữa một bên là những đặc điểm cao quý đã được đề cập tới (như nghệ thuật và ngôn ngữ) và những hành vi hoàn toàn đồi bại của chúng ta cũng sẽ được nhắc tới (nạn lạm dụng thuốc, tội diệt chủng và sự phá hủy môi trường sống).
Đầu tiên, có những bằng chứng không thể chối cãi cho sự tiến bộ, mà qua đó nhằm chống lại lời lẽ bao biện của những người theo chủ nghĩa xét lại tấn công trực tiếp vào người Mỹ và châu Âu thế kỷ XX. Ở phần lớn các khía cạnh, chúng ta trở nên tốt đẹp hơn so với những con người ở thời Trung Cổ, mà vào thời điểm đó thì đời sống lại dễ dàng hơn so với những người tối cổ sống ở thời kỳ Băng hà, và cuối cùng thì chính những người tối cổ đó lại cũng còn khấm khá hơn so với loài vượn. Nếu bạn có xu hướng nghiêng về sự hoài nghi, thì trước hết hãy xét tới những ưu điểm của chúng ta. Chúng ta thưởng thức những loại thức ăn phong phú nhất và cũng là dư thừa nhất, có được những công cụ tốt nhất và những hàng hóa mua bán, và là những người sống lâu nhất và mạnh khỏe nhất trong lịch sử loài người. Đa số chúng ta không phải chịu cảnh chết đói và bị săn đuổi. Loài người thu được phần lớn năng lượng cho cuộc sống nhờ vào máy móc và xăng dầu, chứ không phải là từ chính mồ hôi của chúng ta. Điều gì khiến cho những người theo trường phái bảo thủ sống giữa chúng ta lại thực sự mong muốn đánh đổi cuộc sống hôm nay với những gì đã có trong đời sống của nông dân thời kỳ Trung Cổ, người tối cổ hay loài vượn?
Trong hầu hết lịch sử của chúng ta, tất cả loài người đều phải trải qua một lối sống nguyên thủy nhất, được gọi tên là “săn bắt-hái lượm”, họ săn đuổi những con thú hoang dã và thu lượm những thức ăn là các loại cây mọc hoang dại. Lối sống theo kiểu “săn bắt-hái lượm” thường được các nhà nhân chủng học phân tích với những đặc tính như “bẩn thỉu, tàn bạo và ngắn ngủi”. Do không có thức ăn được nuôi trồng và có rất ít để dự trữ, nên (theo quan điểm này) không thể có sự nghỉ ngơi trong cuộc chiến dai dẳng đó mà luôn phải bắt đầu một ngày mới bằng việc tìm kiếm các nguồn thức ăn hoang dại và tránh không để bị chết đói. Việc chúng ta trốn ra khỏi cảnh nghèo khổ này chỉ được khởi động sau giai đoạn cuối của thời kỳ Băng hà, khi con người ở những phần khác nhau của thế giới theo những cách thức hoàn toàn độc lập bắt đầu tiến hành thuần hóa động thực vật. Cuộc cách mạng trong nông nghiệp dần dần mở rộng cho tới tận ngày nay khi nó đã gần như mang tính toàn cầu và chỉ còn lại rất ít bộ lạc săn bắt-hái lượm sống sót.
Theo triển vọng của học thuyết tiến bộ là những gì tôi vốn được truyền giảng, câu hỏi “Tại sao phần lớn tổ tiên của những người săn bắt-hái lượm lại chấp nhận nông nghiệp?” thật là ngớ ngẩn. Tất nhiên họ chấp nhận nông nghiệp bởi đó là phương thức hiệu quả để có thể đem lại nhiều thức ăn mà tốn ít công sức hơn. Năng suất gieo trồng mỗi vụ của chúng ta gấp hàng nhiều tấn trên một hecta so với những gì thu được từ các rễ củ hoang dại và quả mọng. Chỉ cần hình dung những người thợ săn hung dữ, đói khát trong cuộc tìm kiếm các loại hạt và đuổi theo những loài thú hoang, đột nhiên lần đầu tiên nhìn thấy một vườn toàn hoa quả tươi hay một cánh đồng cỏ với đầy cừu trên đó. Bạn có nghĩ phải mất bao nhiêu phần trăm của một giây những người thợ săn đó mới đánh giá cao những tiến bộ, ưu điểm của nông nghiệp hay không?
Những đường lối của trường phái tiến bộ còn đi xa hơn thế khi cho rằng nông nghiệp đã mang đến sự khởi đầu cho nghệ thuật, sự đơm hoa kết trái, thứ cao quý nhất trong tinh thần của con người. Do mùa màng có thể tích trữ được, và cũng như tốn ít thời gian để trồng trọt cây cối trong vườn hơn là tìm kiếm chúng trong rừng, nông nghiệp đã mang lại cho chúng ta nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, những gì những người săn bắt-hái lượm trước kia chưa hề có. Bởi thời gian rỗi là cần thiết cho việc sáng tạo nghệ thuật và thưởng thức chúng. Do đó, rốt cuộc, nông nghiệp cũng là một món quà quý giá, cho phép chúng ta có thể xây dựng đền thờ Pathenon và viết nên tác phẩm bản giao hưởng Mass - cung Si thứ.
Trong số những dấu ấn quan trọng về văn hóa của loài người, nông nghiệp là dấu ấn gần đây nhất, chỉ mới bắt đầu xuất hiện rõ rệt từ 10.000 năm về trước. Không có loài nào trong số những họ hàng linh trưởng gần gũi với chúng ta thực hiện những công việc có dính dáng đôi chút tới nông nghiệp. Để tìm kiếm một tiền lệ tương tự nhất ở động vật, chúng ta phải nhắc tới loài kiến, bởi chúng không những tiến hành thuần hóa và nuôi dưỡng thực vật mà còn cả động vật nữa.
Thuần hóa thực vật được tiến hành bởi một nhóm gồm khoảng vài chục loài kiến ở Tân Thế giới. Tất cả những loại kiến này đều chuyển hóa trong việc nuôi dưỡng một số loài nấm mốc hay nấm thường trong những khu vườn, bên trong tổ kiến. Để không phụ thuộc vào đất đai tự nhiên, mỗi một loài kiến làm vườn lại tập trung chính loại phân bón trộn của riêng chúng: một số loài kiến trồng trọt nhờ vào phân của những loài sâu bướm, xác chết của những con côn trùng, hay các mảnh xác thực vật và cả những thứ khác trên lá cây tươi, cuống lá và hoa (những loài kiến này còn được gọi là kiến cắt lá). Chẳng hạn như, loài kiến ăn lá cắt rời những chiếc lá, chẻ chúng thành những mảnh nhỏ, cạo bó đi những loại nấm và vi khuẩn ngoại lai và mang những mảnh này về các tổ ở dưới lòng đất của chúng, ở đó, những mảnh lá cây này được ép thành những giọt nhỏ của thứ hỗn hợp nhão khá chắc chắn, được bổ sung thêm nước bọt và phân của kiến, và dùng để nuôi dưỡng cho những loại nấm ưa thích của chúng, mà sau đó những thứ nấm này trở thành nguồn thức ăn chính hay duy nhất của loài kiến đó. Trong một quá trình giống với việc nhổ cỏ trong vườn, những loài kiến này còn liên tục loại bỏ những bào tử hay những sợi của các loài nấm khác khi chúng có thể xuất hiện trong những hỗn hợp lá cây đó. Khi một con kiến chúa rời đi để lập nên một đàn mới, nó sẽ mang theo bên mình một chút hỗn hợp khởi đẩu của loại nấm đó, cũng giống như những người tiên phong đi khai phá mang theo những hạt giống để trồng trọt.
Còn đối với việc thuần hóa động vật, những loài kiến hấp thụ lượng dịch tiết ra có hàm lượng đường rát cao được gọi là dịch mật, từ rất nhiều loài khác nhau, từ những loài như rệp vừng, sâu ăn bột tới những loài côn trùng có vảy, rồi những loại sâu bướm hay bọ chét và những loại côn trùng có dãi. Để thu hồi được “dịch mật”, các loài kiến bảo vệ những “con bò sữa” của chúng tránh khỏi những loài ăn thịt và ký sinh trùng. Một số loài rệp vừng tiến hóa tới mức đã thực sự trở thành những loài côn trùng rất giống với gia súc được thuần hóa: chúng thiếu đi những cấu trúc bảo vệ cho bản thân, tiết mật ra từ hậu môn và có một đặc điểm giải phẫu rất chuyên biệt được thiết kế nhằm giữ cho giọt mật đứng yên trong khi một con kiến đang hút lấy nó. Để hút sữa những chú bò của mình và kích thích cho mật chảy ra, những con kiến tác động lên những con rệp vừng bằng chiếc râu của nó. Một vài con kiến chăm sóc cho những con rệp của mình trong tổ kiến trong suốt mùa đông lạnh giá, và khi mùa xuân sang chúng mang những con rệp này đang trong giai đoạn phát triển tốt nhất đến đúng địa điểm có những loài cây thích hợp nhất mà con rệp ăn. Cuối cùng, khi những con rệp phát triển cánh và phân tán đi khắp nơi để tìm kiếm chỗ ở mới, một số con may mắn lại được phát hiện ra bởi loài kiến và được “nhận nuôi”.
Hiển nhiên là, chúng ta không thừa hưởng việc thuần hóa động thực vật trực tiếp từ loài kiến mà là tái phát minh ra điều này. Thực chất, “tái tiến hóa” là khái niệm chính xác hơn so với “tái phát minh” bởi những bước phát triển đầu tiên của chúng ta dẫn tới nông nghiệp không kèm theo những thử nghiệm mang tính có ý thức về một hệ quả cuối cùng. Thay vào đó, nông nghiệp phát triển từ hành vi của loài người và từ những phản ứng hoặc thay đổi ở động vật và thực vật, dẫn tới một kết quả không thể dự đoán trước được của quá trình thuần hóa. Ví dụ như, thuần hóa động vật phát triển một phần là do những người tối cổ giữ những con vật hoang dã trong hang động như những con vật nuôi, phần khác từ sự học tập của các động vật hoang dã đem lại lợi ích cho những người xung quanh (ví dụ như, những con chó sói theo những người thợ săn để bắt những con mồi tàn tật). Tương tự như thế, những giai đoạn đầu tiên của quá trình thuần hóa thực vật bao gồm việc con người thu hoạch những loài cây hoang dã và bỏ lại những loại hạt, mà sau đó vô tình “được trồng lên”. Kết quả không thể khác được là sự chọn lựa vô thức giữa những loài thực vật và động vật ra những loài có ích nhất cho con người. Cuối cùng, tiếp sau đó là sự lựa chọn có ý thức và quá trình chăm sóc.
Giờ thì hãy quay lại với quan điểm của những người theo thuyết tiến bộ về cuộc cách mạng nông nghiệp của loài người. Như tôi đã giải thích khi bắt đầu chương này, chúng ta thường cho rằng việc chuyển hướng từ lối sống săn bắt-hái lượm sang một nền nông nghiệp mang lại cho chúng ta sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, sự an toàn, sự nghỉ ngơi và thứ nghệ thuật tuyệt vời. Trong khi tràn ngập những cơ sở cho quan điểm trên, thì việc chứng minh cho điều đó lại rất khó khăn. Làm thế nào bạn có thể thực sự chỉ ra rằng cuộc sống của con người 10.000 năm về trước đã trở nên khấm khá hơn nhờ vào việc chuyển từ săn bắt sang làm công việc nông nghiệp? Cho đến tận gần đây, các nhà khảo cổ cũng không thể kiểm chứng cho câu hỏi này một cách trực tiếp. Thay vào đó, họ phải sử dụng tới những kiểm tra mang tính gián tiếp, mà trong đó kết quả (thật bất ngờ) lại không ủng hộ cho quan điểm coi nông nghiệp như một điều may mắn hoàn toàn.
Dưới đây là một ví dụ cho những kiểm nghiệm gián tiếp đó. Nếu nông nghiệp được coi như là một ý tưởng hoàn toàn tuyệt vời, chắc rằng bạn sẽ kỳ vọng nó sẽ lan rộng nhanh chóng, một khi nó đã phát triển ở một vài khu vực. Nhung thực tế, những dẫn liệu khảo cổ lại cho thấy nông nghiệp phát triển xuyên suốt châu Âu với tốc độ chậm như sên bò; thậm chí chỉ khoảng gần 1 km mỗi năm. Từ sự khởi nguồn của nó ở vùng Viễn Đông khoảng 8.000 năm trCN, nông nghiệp tiến dần về phía tây bắc, lan tới Hy Lạp vào khoảng năm 6000 trCN, vương quốc Anh và bán đảo Scandinavi thì mới chỉ xuất hiện nông nghiệp 2.500 năm sau đó. Thực khó để bạn có thể gọi đó là một làn sóng đầy hứng khởi. Rất gần đây thôi vào khoảng thế kỷ XIX, tất cả những thổ dân của bang California, giờ là vựa hoa quả của toàn nước Mỹ, vẫn duy trì đời sống săn bắt-hái lượm, cho dù họ đã biết tới nông nghiệp qua việc trao đổi, mua bán với những thổ dân trồng trọt ở vùng Arizona. Liệu thổ dân có thực sự không nhìn thấy những lợi ích cho chính bản thân họ? Hay điều đó cho thấy họ đủ thông minh để nhìn nhận ẩn giấu bên dưới lớp vỏ lóng lánh của nông nghiệp là những hạn chế đã cài bẫy phần lớn những người còn lại như chúng ta?
Một kiểm tra gián tiếp khác về những quan niệm tiến bộ là nghiên cứu xem phải chăng những người sống đời sống săn bắt-hái lượm vào thế kỷ XX có thực sự nghèo khổ hơn những người nông dân của chúng ta hay không? Rải rác trên khắp thế giới, chủ yếu là ở những vùng không thích hợp với việc trồng trọt, có khoảng vài chục nhóm người được gọi là những người “nguyên thủy” giống với nhóm thổ dân Nam Phi sống ở sa mạc Kalahari, vẫn tiếp tục cuộc sống săn bắt-hái lượm cho tới tận ngày nay. Đáng ngạc nhiên là, người ta đã phát hiện ra rằng những người này thực sự cũng có thời gian rảnh rỗi, ngủ rất nhiều và làm việc cũng không chăm chỉ hơn những người nông dân ở các vùng lân cận với họ. Chẳng hạn như, thời gian trung bình trong mỗi tuần mà thổ dân Nam Phi này dành cho việc tìm kiếm thức ăn được ghi chép lại là chỉ khoảng từ 12 đến 19 giờ, có bao nhiêu người đọc cuốn sách này có thể có được một tuần làm việc ngắn đến vậy? Như một người đàn ông ở đó trả lời khi được hỏi là tại sao anh ta không cạnh tranh với những bộ tộc láng giềng bằng việc chấp nhận nông nghiệp: “Tại sao chúng tôi nên trồng trọt, trong khi có rất nhiều quả câv mangut trên Trái đất này?”
Tất nhiên, dạ dày của chúng ta không thể chỉ chứa những loại thức ăn được tìm thấy, những thức ăn đó cần phải được chế biến để có thể ăn được, và công đoạn này tốn khá nhiều thời gian nhất là với những thứ như quả cây mangut. Do đó, có thể là sai lầm khi nhảy ngay sang cực đối lập so với quan điểm của người tiến bộ và nói rằng cuộc sống săn bắt-hái lượm là cuộc sống hoàn toàn vui thích, như một số nhà nhân chủng học gần đây đã cho là như vậy. Tuy nhiên, cũng sẽ là sai lầm nếu nhìn nhận nó như một phương thức làm việc vất vả hơn nhiều so với người nông dân. So sánh với những người bạn là bác sỹ hay luật sư của tôi hiện nay, hay ông bà tôi - những người trông coi cửa hàng vào những năm đầu thế kỷ XX, thì những người săn bắt-hái lượm đó thực sự có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn.
Trong khi những người nông dân tập trung vào trồng trọt những loại thực phẩm cho hàm lượng tinh bột cao như lúa và khoai tây, thì sự hòa trộn giữa các loại động - thực vật hoang dã trong khẩu phần ăn của những người săn bắt-hái lượm đó cung cấp nhiều đạm hơn và một sự cân bằng tốt hơn những yếu tố dinh dưỡng khác. Lượng thức ăn trung bình trong một ngày của một thổ dân Nam Phi là tương đương với 2.140 calo- rie và 93 gram protein, lớn hơn đáng kể so với lượng RDA (tức là giới hạn được đề xuất hàng ngày) dành cho những người có kích thước cơ thể bé nhỏ nhưng hoạt động sống hết sức bận rộn. Những người săn bắt-hái lượm rất khỏe mạnh, ít bị bệnh, tận hưởng một chế độ ăn uống hết sức đa dạng, và không trải qua nạn đói có tính chu kỳ như những người nông dân lúc thất bát, phụ thuộc nhiều vào một vài vụ chính trong năm. Việc có thể chết vì đói là điều gần như hoàn toàn không được biết tới với những thổ dân Nam Phi, những người sử dụng tới 85 loại thực vật hoang dã ăn được làm thức ăn, như những gì mà hàng triệu người nông dân Ireland và gia đình họ phải trải qua trong suốt thập niên 1840 khi loài rệp vừng phá hoại khoai tây, vụ mùa chủ lực của họ.
Do vậy, ít nhất cuộc sống của những người săn bắt-hái lượm hiện đại cũng không phải là “bẩn thỉu, tàn bạo và ngắn ngủi” cho dù những người nông dân đang đẩy họ vào những khoảnh đất kém màu mỡ nhất còn sót lại trên trái đất này. Những người thợ đi săn trong quá khứ, khi mà vẫn làm chủ những vùng đất trù phú, khó có thể nói là có đời sống tồi tệ hơn những người thợ săn hiện đại. Nhưng tất cả những cộng đồng của những người thợ săn hiện đại đã chịu ảnh hưởng bởi xã hội nông nghiệp trong hàng nghìn năm không thể nói cho chúng ta về đời sống của người thợ săn trước khi có cuộc cách mạng nông nghiệp. Những nhìn nhận theo quan điểm tiến bộ thực sự tạo nên một lời tuyên bố về quá khứ xa xôi: cuộc sống của những con người sinh sống trên mỗi phần của thế giới đã trở nên tốt đẹp hơn khi họ chuyển từ việc săn bắt sang trồng trọt. Những nhà khảo cổ có thể xác định thời gian của sự chuyển hướng đó bởi những manh mối có thể phân biệt của các động thực vật hoang dã với những hóa thạch của các loài này sau khi đã được thuần hóa trong đống những tàn tích có từ thời tiền sử. Bằng cách nào mà con người có thể suy luận ra sức khỏe của những người tạo ra đống tàn tích thời tiền sử đó, và qua đó kiểm tra trực tiếp những điều được coi là phước lành của nền nông nghiệp.
Câu hỏi đó đã có lời giải đáp trong những năm trở lại đây, thông qua sự nổi lên của một ngành khoa học mới là “cổ bệnh học”: kiếm tìm những dấu hiệu của những căn bệnh (khoa học về các loại bệnh) trong những hóa thạch của những người cổ xưa (có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp paleo: có nghĩa là cổ xưa, ví dụ như paleontology: cổ sinh vật học). Trong một vài trường hợp may mắn, những nhà cổ bệnh học có được những tài liệu nghiên cứu ngang bằng với các nhà bệnh lý học. Ví dụ như, các nhà khảo cổ nghiên cứu ở những sa mạc của Chile tìm thấy rất nhiều những xác ướp còn được bảo quản rất tốt mà ở đó tình trạng y học tại thời điểm qua đời có thể được xác định nhờ vào khám nghiệm tử thi, giống như người ta có thể làm với một cái xác còn tươi trong bệnh viện ngày nay. Phân của những thổ dân đã chết từ lâu ở trong các hang động khô ráo ở Nevada vẫn còn tồn tại một cách hoàn hảo trong điều kiện bảo quản rất tốt để có thể làm các xét nghiệm kiểm tra giun móc và những loài ký sinh khác.
Cho dù chỉ có xương của loài người mới được duy trì trong tình trạng có thể sử dụng được cho các nhà cổ bệnh lý học nghiên cứu, nhưng họ vẫn thường xuyên có được một con số đáng ngạc nhiên những suy luận về sức khỏe. Để bắt đầu, một bộ xương cho phép nhận dạng giới tính của con người đó, cân nặng và độ tuổi xấp xỉ tại thời điểm chết. Do đó, với một lượng xương vừa đủ, con người có thể xây dựng những bảng biểu về quá trình tử vong giống như những gì thường được sử dụng tại các công ty bảo hiểm nhân thọ nhằm tính toán tuổi thọ ước đoán và nguy cơ tử vong ở bất cứ độ tuổi nào cho trước. Các nhà cổ bệnh lý học cũng có thể tính toán những tốc độ của quá trình phát triển thông qua việc đo đạc những đoạn xương của những con người ở các độ tuổi khác nhau, kiểm tra những lỗ hổng trong răng (tìm kiếm những dấu hiệu của chế độ ăn có hàm lượng đường cao) hay sự thiếu hụt men răng (dấu hiệu của chế độ ăn nghèo dinh dưỡng lúc nhỏ tuổi) và có thể phát hiện những vết sẹo có thể do những căn bệnh như thiếu máu, bệnh lao, phong hay viêm khớp mãn tính gây ra trong xương.
Một ví dụ trực tiếp về những gì mà các nhà cổ bệnh lý học có thể biết được qua những bộ xương có liên quan tới những thay đổi lịch sử về chiều cao. Rất nhiều trường hợp trong thế giới hiện đại phản ánh cách mà sự cải thiện dinh dưỡng trong thời kỳ ấu thơ có thể dẫn tới những cá nhân cao hơn: ví dụ như, chúng ta khom người để đi qua cửa trong những lâu đài có từ thời Trung Cổ được xây dựng cho những con người lùn hơn và suy dinh dưỡng. Các nhà cổ bệnh lý học nghiên cứu những bộ xương của người cổ đại ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ và phát hiện ra một điểm tương đồng rất đáng chú ý. Chiều cao trung bình của những người săn bắt hái lượm ở những khu vực này cho tới cuối thời kỳ Băng hà là khá tốt, 1,8 mét đối với nam và 1,67 mét với nữ giới. Với sự tiếp thu nền nông nghiệp, chiều cao đã đột ngột giảm xuống, tới khoảng năm 4000 trCN, một giá trị thấp hơn được ghi nhận chi là 1,6 mét đối với nam và 1,52 mét với nữ. Qua rất nhiều những biến cố cổ điển của lịch sử, chiều cao tăng lên rất chậm chạp một lần nữa, và cho tới tận ngày nay những người Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại vẫn chưa đạt tới chiều cao mà tổ tiên săn bắt-hái lượm mạnh khỏe của họ đã từng có được.
Một ví dụ khác trong công việc của các nhà cổ bệnh lý học đó là việc nghiên cứu về hàng nghìn bộ xương của những thổ dân châu Mỹ, được khai quật từ các khu vực chôn cất ở những thung lũng sông tại vùng Ohio và Illinois. Ngô, loại lương thực được thuần hóa đầu tiên ở Trung Mỹ hàng nghìn năm về trước, Trở thành nền tảng của việc trồng trọt chuyên canh ở những thung lũng này khoảng năm 1000. Cho tới tận thời điểm đó, những thổ dân săn bắt hái lượm có những bộ xương “khỏe mạnh tới mức mà ở một khía cạnh nào đó gây ra trở ngại khi làm việc với chúng” như một nhà cổ bệnh lý học đã phàn nàn. Cùng với sự xuất hiện của ngô, những bộ xương của những thổ dân đột nhiên trở nên rất đáng chú ý để nghiên cứu. Số lượng những lỗ hổng trong miệng của một người bình thường thay đổi từ ít nhất là từ một cho tới gần bảy lỗ, và những lỗ hổng răng, và những ổ ap-xe trở nên cực kỳ phổ biến. Sự thiếu hụt men răng trong các răng sữa của trẻ nhỏ thể hiện rằng những bà mẹ đang mang thai và cho con bú thiếu dinh dưỡng trầm trọng. Bệnh thiếu máu tăng lên gấp bốn lần; trong khi bệnh lao được xác định như một đại dịch; một nửa dân số mắc bệnh ghẻ cóc hay giang mai, và hai phần ba trong số họ mắc bệnh viêm khớp và rất nhiều bệnh do thoái hóa khác. Tỷ lệ tử vong ở mỗi lứa tuổi đều tăng lên, với hậu qủa là chỉ có 1% dân số sống qua độ tuổi 50, nếu so sánh với tỷ lệ 5% ở thời kỳ hoàng kim trước khi ngô xuất hiện. Gần như một phần năm trong tổng số dân chết ở độ tuổi từ một đến bốn, có thể là bởi những đứa trẻ chập chững biết đi đó có sức kháng cự kém với sự thiếu ăn và những bệnh nhiễm trùng. Do vậy ngô, được coi là phúc lành dành cho Tân Thế giới, thực chất lại được chứng minh đã gây ra những thảm họa cho sức khỏe cộng đồng. Kết luận tương tự về sự chuyển biến từ việc săn bắn sang trồng trọt cũng xuất hiện trong các nghiên cứu về bộ xương ở những nơi khác trên thế giới.
Có ít nhất là một nhóm gồm ba lý do giải thích cho những phát hiện trên rằng nông nghiệp là không có lợi cho sức khỏe. Trước tiên, những cư dân săn bắt-hái lượm có thể tận hưởng một chế độ ăn uống đa dạng với những hàm lượng tương đương của các loại protein, vitamin và muôi khoáng, trong khi người nông dân chủ yếu hấp thụ những thức ăn từ những loại lương thực là tinh bột. Tù nguyên nhân đó, dẫn đến người nông dân chỉ nhận được một lượng năng lượng rất thấp bởi hàm lượng dinh dưỡng nghèo nàn. Ngày nay chỉ với ba loại cây lương thực có hàm lượng tinh bột cao là lúa mỳ, gạo và ngô - đã cung cấp tới trên 50% tổng lượng calorie mà loài người hấp thụ.
Thứ hai là, do sự phụ thuộc quá nhiều vào một hoặc vài vụ thu hoạch trong năm, những người nông dân phải chịu nhiều rủi ro về nạn đói hơn những người sống nhờ săn bắt nếu như một trong những vụ thu hoạch đó thất bại. Nạn đói của người nông dân Ireland do mất mùa khoai tây chỉ đơn thuần là một trong rất nhiều các ví dụ đó.
Cuối cùng, phần lớn các bệnh truyền nhiễm và các ký sinh trùng hàng đầu của loài người vẫn chưa thể xác định được mãi cho tới khi có sự chuyển hướng sang nông nghiệp. Những kẻ giết người này tồn tại trong những xã hội đông dân, suy dinh dưỡng, định cư tại một nơi và liên tục chịu những truyền nhiễm ngược trở lại từ nước thải của những người khác và của chính họ. Ví dụ như những vi khuẩn tả không tồn tại lâu bên ngoài cơ thể con người. Nó phát tán rộng từ người bệnh này tới người tiếp theo qua con đường nhiễm bẩn nước uống bởi phân của người mắc bệnh tả. Bệnh sởi sẽ không thể tồn tại trong một cộng đồng người có số lượng nhỏ, một khi nó không thể giết hay gây ra hiệu ứng miễn dịch cho phần lớn những người có nguy cơ, nhưng chỉ trong những cộng đồng mà số dân lên tới hàng vài trăm nghìn người, nó mới có thể duy trì mãi mãi. Những bệnh dịch theo số đông như vậy không thể xuất hiện ở những nhóm người sống nhờ vào công việc săn bắt phân bố lẻ tẻ và thường xuyên di chuyển trong các lều trại. Bệnh lao, phong hay dịch tả chỉ chờ đợi tới khi có sự phát triển của nền nông nghiệp, trong khi bệnh đậu mùa hay dịch hạch và sởi thì chỉ mới xuất hiện từ hàng nghìn năm trước trong quá khứ cùng với sự phát triển của những nhóm cư dân đông đúc hơn nữa tập trung ở các thành phố.
Bên cạnh sự thiếu ăn, chết đói và bệnh dịch, hoạt động nông nghiệp còn mang tới một sự xấu xa đáng nguyền rủa nữa của loài người: sự phân chia tầng lớp xã hội. Những người săn bắt-hái lượm có rất ít hay hầu như không có thức ăn để dự trữ, và cũng không có những nguồn thức ăn tập trung như một khu vườn hay đàn bò. Thay vào đó, họ sống nhờ vào những thực vật và động vật hoang dã mà họ bắt được mỗi ngày. Mọi người trừ trẻ nhỏ, người ốm và những người quá già đều tham gia vào cuộc tìm kiếm nguồn thức ăn. Do đó, sẽ chẳng có ai là vua, không có những người làm công việc chuyên môn hoàn toàn, không có các tầng lớp ăn bám xã hội, sống béo tốt nhờ cướp lấy phần thức ăn từ những người khác.
Chỉ trong một xã hội có đời sống nông nghiệp mới có sự đối lập giữa một bên là đa số những người mang đầy bệnh tật với một bên là sự gia tăng một số người thống trị khỏe mạnh, không làm ra của cải. Những bộ xương từ những lăng mộ Hy Lạp cổ ở Mycenae khoảng những năm 1500 trCN cho thấy những người trong hoàng tộc thưởng thức một chế độ ăn tốt hơn so với những thường dân, nhờ thế mà những bộ xương của những người quý tộc dài hơn từ 5 đến 7 cm và có những chiếc răng tốt hơn (trung bình chỉ có một chứ không phải là sáu lỗ hổng cũng như những chiếc răng bị khuyết). Trong số những xác ướp từ những khu hầm mộ ở Chile khoảng năm 1000, những tầng lớp thống trị được phân biệt không chỉ bởi những đồ tùy táng, vật dụng, những chiếc kẹp tóc bằng vàng mà còn bởi một tỷ lệ nhỏ hơn tới bốn lần những thương tổn ở xương phát sinh từ các bệnh truyền nhiễm.
Những dấu hiệu của sự phân hóa sức khỏe trong cùng một cộng đồng các cư dân nông nghiệp trong quá khứ xuất hiện với quy mô toàn cầu trong thế giới hiện đại. Với hầu hết những người dân Mỹ và châu Âu, tranh cãi về việc con người nhìn chung có thể trở nên khấm khá hơn khi là những người săn bắt-hái lượm so với chúng ta ngày nay nghe chừng thật lố bịch, bởi phần lớn mọi người trong xã hội công nghiệp ngày nay đều có sức khỏe tốt hơn so với những người săn bắt-hái lượm. Tuy nhiên, chính những người Mỹ và châu Âu ngày nay lại đang là giai cấp thống trị thế giới, sống phụ thuộc vào dầu hỏa và những nguyên liệu nhập khẩu từ các nước có số dân làm nông nghiệp rất lớn và có những tiêu chuẩn về sức khỏe kém hơn rất nhiều. Nếu bạn có thể lựa chọn để trở thành một trong số những con người sau: một người dân trung lưu ở Mỹ, một thổ dân Nam Phi sống nhờ săn bắt và một người nông dân ở Ethiopia, thì sự lựa chọn đầu tiên rõ ràng là tốt nhất cho sức khỏe, còn chọn lựa cuối cùng có lẽ là kém nhất về sức khỏe.
Trong khi dẫn tới sự gia tăng việc phân hóa tầng lớp trong xã hội, hoạt động nông nghiệp có lẽ cũng làm gia tăng tràn lan sự bất bình đẳng về giới vốn đã ngấm ngầm tồn tại từ trước đó. Với sự phát minh ra nông nghiệp, phụ nữ thường bị biến thành thân trâu ngựa, bị kiệt quệ bởi những lần mang thai, sinh nở nhiều hơn (xem dưới đây) và do đó, cũng có sức khỏe yếu hơn. Ví dụ như, trong các xác ướp của người Chile vào những năm 1000, số lượng phụ nữ vượt hơn hẳn đàn ông trong tỷ lệ mắc các bệnh viêm khớp mãn tính và các thương tổn về xương do những căn bệnh truyền nhiễm. Ngày nay, trong các cộng đồng cư dân nông nghiệp ở New Guinea, tôi cũng thường sửng sốt khi nhìn thấy những người phụ nữ mang vác những bao nặng rau xanh và củi trong khi những người đàn ông thì chỉ đi tay không. Trong một lần tôi đề nghị trả tiền cho những người dân trong làng để mang những đồ tiếp tế của tôi từ đường băng sân bay về tới trại trên núi, và một nhóm người đàn ông, phụ nữ và trẻ em cùng tình nguyện xin làm. Thứ nặng nhất là một túi gạo khoảng gần 50 kg, mà tôi đã buộc vào một cái cọc và để nghị một nhóm gồm bốn người đàn ông cùng vác trên vai. Nhưng cuối cùng, khi tôi đuổi theo kịp những người dân làng đó, thì những người đàn ông lại đang mang những túi nhẹ hơn, trong khi một phụ nữ có cân nặng còn nhỏ hơn trọng lượng của bao gạo thì lại đang còng lưng cõng bao gạo, chống đỡ với sức nặng của nó bằng một chiếc dây thừng buộc qua thái dương của mình.
Như trong lời tuyên bố rằng nông nghiệp đặt ra những nền tảng của nghệ thuật thông qua việc mang tới cho chúng ta nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, nhưng những cư dân săn bắt-hái lượm trung bình ít nhất cũng có thời gian rảnh rỗi ngang bằng với những người nông dân. Tôi thừa nhận rằng một vài người trong những xã hội công nghiệp và nông nghiệp được tận hưởng sự nhàn nhã nhiều hơn những người dân săn bắt-hái lượm, những điều đó phải trả giá bằng việc có rất nhiều người khác phải chu cấp cho họ và có quá ít thời gian rảnh rỗi. Không nghi ngờ gì nữa, nông nghiệp giúp cho có thể duy trì những người hoàn toàn chi làm nghề chế tác và các nghệ sỹ, mà nếu không có họ chúng ta không thể có một lượng lớn đến vậy những công trình nghệ thuật có quy mô hoành tráng như nhà thờ Sistine hay thánh đường Cologne. Tuy nhiên, toàn bộ sự nhấn mạnh về thời gian rảnh rỗi như một nhân tố quyết định trong việc giải thích những khác biệt về mặt nghệ thuật giữa các xã hội loài người với tôi dường như là sự lạc lối. Không phải là do sự thiếu thời gian đã ngăn cản chúng ta ngày nay để có thể vượt qua được vẻ đẹp của ngôi đền Pathenon. Trong khi những tiến bộ về kỹ thuật của thời kỳ hậu nông nghiệp thực sự khiến những dạng nghệ thuật mới trở thành hiện thực và việc trưng bày nghệ thuật trở nên dễ dàng hơn, thì những bức vẽ và tranh khắc tuyệt vời ở quy mô nhỏ hẹp hơn những gì có trong thánh đường Cologne đã thực sự được tạo nên bởi những người săn bắt-hái lượm Cro-Magnon 15.000 năm về trước. Nghệ thuật tuyệt đẹp vẫn còn được tạo nên trong thời hiện đại bởi những người săn bắt-hái lượm như người Eskimo hay thổ dân ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương. Thêm vào đó, khi chúng ta tính toán những con người đặc biệt mà xã hội của họ có thể chu cấp đủ cho đời sống sau quá trình phát minh ra nông nghiệp, chúng ta nên nhớ lại rằng không chỉ có Michelangelo hay Shakespeare mà còn là cả những đội quân thường trực của những kẻ giết người chuyên nghiệp.
Cùng với việc khám phá ra nông nghiệp, kẻ thống trị đã trở nên mạnh hơn, nhưng cũng có rất nhiều người trở nên tồi tệ đi. Thay cho đường lối của những người theo quan điểm tiến bộ rằng, chúng ta lựa chọn nông nghiệp bởi điều đó tốt cho chúng ta, một người hoài nghi có thể hỏi bằng cách nào chúng ta rơi vào cạm bẫy của nông nghiệp cho dù sự tồn tại của nó như một điều tốt xấu lẫn lộn.
Câu trả lời nằm gọn trong câu ngạn ngữ: “Điều có thể luôn luôn là đúng đắn.” Nông nghiệp có thể chu cấp đời sống của nhiều người hơn rất nhiều so với đời sống săn bắt-hái lượm cho dù có hay không việc nó cũng mang tới nếu tính trung bình là thêm lượng thức ăn cho mỗi người. (Mật độ dân số của những người săn bắt-hái lượm ít nhất đã tăng thêm gấp mười lần.) Một phần nữa là, điều này còn bởi vì một hecta đất trồng trọt hoàn toàn cho những sản phẩm ăn được tạo nên một sản lượng trên một tấn thức ăn, do đó khiến một người có thể nuôi được nhiều miệng ăn hơn, so với một hecta rừng với lác đác một vài loại cây có thể ăn được. Thêm nữa là, bởi vì những người săn bắt-hái lượm có đời sống du mục buộc phải giữ khoảng cách giữa những lần sinh con trong một khoảng thời gian bốn năm bằng cách giết bớt những đứa trẻ sơ sinh và những cách khác nữa, bởi người mẹ phải bế theo đứa con chập chững của mình cho đến khi nó đủ lớn để có thể theo kịp những người lớn. Do những người mẹ nông dân sống định cư không gặp phải vấn đề này, nên một người phụ nữ có thể và thường sinh con kế tiếp cứ sau hai năm một. Có thể nguyên nhân chủ yếu chúng ta nhận thấy là rất khó để phủi sạch những quan niệm truyền thống rằng nông nghiệp theo một cách không rõ ràng là tốt cho chúng ta bởi không có chút nghi ngờ rằng điều đó đồng nghĩa là có thêm nhiều tấn thức ăn trên mỗi héc ta. Chúng ta quên đi rằng nó cũng dẫn tới nhiều cái miệng cần phải nuôi và do đó sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống lại phụ thuộc vào lượng thức ăn trên mỗi đầu người.
Do mật độ của dân số trong cộng đồng người săn bắt-hái lượm tăng chậm chạp ở cuối thời kỳ Băng hà, những “nhóm người” này buộc phải lựa chọn theo cách có thể là có ý thức hoặc không giữa việc nuôi thêm nhiều miệng ăn bằng việc tiến những bước đầu tiên tới nông nghiệp, hay tìm một cách khác để hạn chế sự gia tăng dân số. Một vài nhóm người đã chấp nhận giải pháp đầu tiên mà không thể thấy hết được những hiểm họa của nông nghiệp, và tận hưởng những quyến rũ của sự dư thừa ngắn ngủi mà mình có cho tới khi dân số tăng lên bắt kịp với sự gia tăng sản lượng năng suất thức ăn. Những nhóm người như vậy giao phôi lẫn lộn với nhau và sau đó hất cẳng hay giết chết những nhóm người lựa chọn sự duy trì đời sống săn bắt-hái lượm, bởi 10 người nông dân đói ăn có thể thừa sức hạ được một người đi săn khỏe mạnh. Điều đó không có nghĩa là những người săn bắt-hái lượm kia sẽ từ bỏ lối sống của mình, nhưng cũng đủ để nhận thấy rằng những người không chịu từ bỏ sẽ bị tống ra khỏi tất cả những phần đất đai ngoại trừ những gì mà người nông dân không thèm đếm xỉa tới. Những người sống đời sống săn bắt-hái lượm ngày nay chủ yếu vẫn tồn tại rải rác trong các khu vực mà không thể sử dụng cho mục đích nông nghiệp, chẳng hạn như vùng Bắc Cực và các sa mạc.
Đến thời điểm này thật là nhẫn tâm khi nhắc lại những lời phàn nàn chung chung rằng khảo cổ học là một thứ gì quá xa xỉ, đắt đỏ, liên quan tới quá khứ xa xôi và chẳng mang lại bài học gì cho hậu thế. Các nghiên cứu khảo cổ về sự khởi đầu của nông nghiệp đã tái tạo cho chúng ta một giai đoạn mà ở đó loài người đã có một trong những quyết định trọng đại nhất trong lịch sử của mình. Buộc phải lựa chọn giữa việc giới hạn sự gia tăng dân số và việc cố gắng gia tăng sản lượng thức ăn, chúng ta đã chọn lựa để rồi sau đó là kết thúc với nạn đói, chiến tranh và chế độ chuyên chế. Sự lựa chọn tương tự mà chúng ta cũng đang phải đối mặt tới trong thế giới hiện đại, có khác chăng là chúng ta có thể học hỏi gì từ quá khứ hay không.
Những người săn bắt-hái lượm đã tiến hành một lối sống thành công nhất và cũng tồn tại bền bỉ nhất trong quá trình phát triển của loài người. Ngược lại, chúng ta vẫn phải đấu tranh với những vấn đề mà nảy sinh từ nông nghiệp và chưa thể nói rằng chúng ta đã giải quyết được chúng. Thử cho rằng một nhà khảo cổ học từ bên ngoài vũ trụ tới thăm chúng ta đang cố gắng giải thích lịch sử loài người cho những người cùng đi với mình. Người khách tới thăm có thể minh họa những kết quả của những khám phá của ông ta bằng chiếc đồng hồ có 24 giờ thể hiện cho 100.000 năm của quá khứ thực sự. Nếu cuộc đua của lịch sử loài người xuất phát lúc nửa đêm, vậy thì chúng ta hiện nay có thể đang trong thời điểm gần cuối của ngày đầu tiên. Chúng ta sống như những người săn bắt-hái lượm trong gần như toàn bộ ngày đó, từ nửa đêm tới bình minh, buổi trưa rồi hoàng hôn. Cuối cùng, ở thời điểm lúc 11 giờ 54 phút buổi đêm, chúng ta chấp nhận nông nghiệp. Trong sự hồi tưởng về dĩ vãng, quyết định này là không thể tránh khỏi, và không có câu hỏi nào được đưa ra là tại sao không quay trở lại. Nhưng cùng với việc tiến đến nửa đêm lần thứ hai, liệu những cảnh khốn khổ của người nông dân châu Phi hiện tại có dần lan rộng rồi nhấn chìm tất cả chúng ta hay không? Hay là không biết bằng cách nào, chúng ta sẽ có thể giành lấy những lợi hại có sức quyến rũ kia, những gì mà chúng ta tưởng tượng ra ẩn dưới vẻ lấp lánh bề ngoài của nông nghiệp, và như thế tới một chừng mực nào đó lảng tránh chúng ta ngoại trừ dạng lẫn lộn của nó?