Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3 Sự Tiến Hóa Trong Hoạt Động Tình Dục Ở Loài Người
Chương 3 Sự Tiến Hóa Trong Hoạt Động Tình Dục Ở Loài Người

❊ ❊ ❊

Không có tuần nào trôi qua mà lại không có thêm một ấn phẩm mới về tình dục được công bố. Mong muốn được tìm hiểu về tình dục của con người chỉ thua kém duy nhất ham muốn thực hiện hành vi này. Do vậy, bạn có thể nghĩ rằng những thuộc tính cơ bản về tình dục của loài người hẳn phải không xa lạ với hầu hết mọi người và đã được các nhà khoa học nghiên cứu. Hãy tự kiểm tra sự hiểu biết của mình bằng cách cố gắng trả lời năm câu hỏi dưới đây:

* Giữa các loài động vật nhân hình và con người, loài nào có dương vật lớn nhất, và để làm gì?

* Tại sao đàn ông lại to lớn hơn phụ nữ?

* Bằng cách nào đàn ông có thể thực hiện các hành vi duy trì nòi giống khi mà tinh hoàn của anh ta nhỏ hơn hẳn của tinh tinh?

* Tại sao con người giao hợp kín đáo trong khi các loài vật khác lại làm việc này một cách công khai?

* Tại sao phụ nữ không giống hầu hết các con cái của loài động vật có vú khác trong việc có thể nhận biết trước ngày rụng trứng thông qua sự chấp nhận quan hệ tình dục đặc trưng vào những ngày ấy?

Nếu bạn cho rằng câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên là “gorilla” thì bạn đúng là một học sinh kém, câu trả lời đúng phải là đàn ông. Còn nếu bạn đưa ra bất kỳ câu trả lời thông thái nào cho bốn câu hỏi tiếp theo, hãy công bố ra, bởi các nhà khoa học hiện vẫn đang tranh cãi về điều đó với các giả thuyết khác nhau.

Năm câu hỏi trên đã minh chứng cho những khó khăn trong việc giải thích những sự thật hiển nhiên về giải phẫu cũng như sinh lý tình dục của con người. Một phần của vấn đề là sự trì hoãn của chúng ta khi đề cập tới tình dục: mãi cho đến gần đây, các nhà khoa học mới thực sự nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề quan trọng này, và họ vẫn gặp phải những khó khăn do các yếu tố khách quan. Khó khăn khác nữa là các nhà khoa học không thể kiểm soát được những thí nghiệm về thói quen tình dục của con người, như là họ có thể tiến hành với lượng cholesterol đưa vào cơ thể hay tạo thói quen đánh răng cho con người. Cuối cùng là, các cơ quan sinh dục không tồn tại một cách độc lập mà chúng thích nghi với các thói quen xã hội và cuộc đời của chính chủ nhân của chúng, mà những điều này đến lượt nó lại tương thích với thói quen dinh dưỡng của con người. Trong trường hợp của chúng ta, điều này có nghĩa rằng, giữa những thứ khác nữa, sự tiến hóa của cơ quan sinh dục loài người có quan hệ mật thiết với việc sử dụng công cụ lao động, não bộ lớn và những hoạt động chăm sóc con cái. Do đó, sự tiến hóa của chúng ta từ chỗ chỉ là một loài thú lớn trở thành loài người độc nhất vô nhị phụ thuộc vào việc tái cấu trúc không chỉ bộ não và khung xương chậu mà còn tái cấu trúc cả hoạt động tình dục của chúng ta nữa.

Đưa ra những hiểu biết về cách mà một loài vật tìm kiếm thức ăn, một nhà sinh vật học thường có thể đoán trước được cơ chế giao phối và cấu tạo giải phẫu sinh dục của loài đó. Đặc biệt, nếu chúng ta muốn biết hoạt động tình dục của loài người được hình thành theo cách nào, ta phải bắt đầu tìm hiểu những tiến hóa trong việc ăn uống của bản thân và của cả xã hội. Từ chỗ chỉ ăn thực vật như tổ tiên vượn người, con người đã phân hóa trong vòng vài triệu năm trước khi trở thành loài ăn tạp mang tính xã hội với thức ăn bao gồm cả thực vật và động vật. Răng và móng của chúng ta vẫn giữ lại những đặc điểm giống với vượn người chứ không giống với loài hổ. Các kỹ năng trong săn bắn của con người không phụ thuộc vào bộ não lớn mà là nhờ việc sử dụng công cụ lao động và vận hành các nhóm đã được phối hợp với nhau, tổ tiên chúng ta có thể săn bắt thành công bất chấp sự thiếu thốn những thiết bị cần thiết, và họ thường chia sẻ thức ăn với nhau. Khả năng hái lượm các loại củ hay quả chín của chúng ta có được là nhờ vào các công cụ lao động, và do đó, khả năng này cũng đòi hỏi một bộ não lớn.

Kết quả là, những đứa trẻ cần mất nhiều năm mới thu nhận được các thông tin và sự thực hành cần thiết để trở thành một người thợ săn bắt-hái lượm, giống như ngày nay chúng cũng phải mất nhiều năm để học làm nông dân hay lập trình viên máy tính. Trong suốt những năm tháng lâu dài sau khi cai sữa đó, những đứa trẻ vẫn còn chưa biết gì và không thể tự lo liệu để kiếm được thức ăn cho bản thân; chúng phụ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ, người mang thức ăn đến cho chúng. Những thói quen này đã trở nên quá tự nhiên tới mức mà chúng ta quên đi rằng những vượn con đã biết thu lượm thức ăn ngay sau khi cai sữa.

Các nguyên nhân khiến những đứa trẻ sơ sinh hầu như không có khả năng tìm kiếm thức ăn gồm hai yếu tố: cơ học và hệ thần kinh. Đầu tiên, để chế tạo và sử dụng những công cụ được dùng để kiếm thức ăn đòi hỏi phải có sự phối hợp tốt giữa các ngón tay, điều mà bọn trẻ phải mất nhiều năm mới có thể làm được. Giống như đứa con trai bốn tuổi của tôi vẫn không tự thắt được dây giày của nó thì một đứa trẻ bốn tuổi của thời đại nguyên thủy cũng không thể mài sắc một cái rìu đá hay đẽo một cái thuyền độc mộc. Lý do thứ hai là con ngưòi phụ thuộc nhiều vào trí thông minh trong việc tìm kiếm thức ăn hơn các loài động vật khác, bởi chúng ta có chế độ ăn uống đa dạng hơn rất nhiều và các kỹ thuật thu lượm thức ăn lại càng phong phú và phức tạp hơn. Ví dụ như, những người New Guinea mà tôi đã có dịp cùng làm việc, có thể biết tên riêng của hàng nghìn loại cây và thú khác nhau sống ở vùng lân cận. Với từng loài trong số đó, họ biết một số thông tin về sự phân bố, quá trình sống và bằng cách nào có thể nhận biết chúng; đó có thể là thức ăn hay những thứ có ích, và cách bảo quản hay thu hoạch chúng tốt nhất. Tất cả các thông tin này phải mất nhiều năm mới có thể thu nhận hết được.

Những đứa trẻ đã cai sữa vẫn không thể tự lo cho chính mình bởi chúng thiếu các kỹ năng vận động và tư duy. Chúng cần được người lớn dạy dỗ và nuôi dưỡng suốt quá trình học tập đó trong khoảng mười năm hay hơn thế. Như rất nhiều đặc trưng khác của loài người, những vấn đề này của chúng ta cũng có nhiều tiền lệ từ động vật. Ở sư tử và một số loài khác, những con non cũng được tập luyện cách săn mồi cùng bố mẹ của chúng. Tinh tinh cũng có một chế độ ăn rất phong phú, tận dụng rất nhiều các các kỹ thuật tìm kiếm khác nhau và giúp đỡ những con non trong việc tìm kiếm thức ăn, trong đó, thông thường thì những con tinh tinh thường (chứ không phải loài tinh tinh lùn) đã có thể sử dụng các công cụ. Sự khác biệt của chúng ta các kỹ năng là rất cần thiết, và do đó, gánh nặng lên cha mẹ lớn hơn rất nhiều so với loài sư tử và tinh tinh.

Vì thế, gánh nặng của việc nuôi dạy con cái khiến cho sự chăm sóc của người cha cũng quan trọng như của người mẹ đối với sự sống sót của một đứa trẻ. Những con đười ươi bố chỉ đơn giản là đóng góp cho con cái chúng một giao tử lúc đầu, trong khi những người cha gorilla, tinh tinh, vượn hơn thế còn trao con cái chúng sự bảo vệ, nhưng những người cha săn bắt-hái lượm, hơn tất thảy, không chỉ cung cấp thức ăn mà còn dạy dỗ các con. Tập quán săn bắt-hái lượm của con người đòi hỏi một hệ thống xã hội mà trong đó, người đàn ông vẫn duy trì mối quan hệ với người phụ nữ sau quan hệ tình dục, nhằm giúp đỡ nuôi nấng đứa trẻ sinh ra từ quan hệ đó. Nếu không, đứa trẻ đó sẽ ít có cơ hội sống sót hơn và người cha cũng khó có khả năng truyền đạt được nguồn gen của bản thân cho thế hệ kế tiếp. Lối sống theo kiểu của đười ươi, con đực sẽ ra đi sau khi giao hợp với con cái không thể thích hợp với loài người chúng ta.

Nhưng với cuộc sống của loài tinh tinh, ở đó một vài con đực trưởng thành thích giao phối với cùng một con cái đang động dục cũng không phù hợp với chúng ta. Kết quả của phương thức sống này là một con tinh tinh bố không có ý niệm gì về con non nào trong bầy là do nó sinh ra. Với các ông bố tinh tinh, điều đó chẳng mất mát gì, bởi những nỗ lực vì những đứa con của nó cũng vừa phải. Tuy nhiên, đối với một ông bố loài người, người sẽ góp phần đáng kể để chăm sóc cho những đứa trẻ mà ông ta cho là con mình, thì tốt hơn hết là người đàn ông đó nên có sự tự tin vào quyền làm cha - cứ cho là như vậy nếu không tính tới mối quan hệ riêng về tình dục với người sinh ra những đứa con ấy. Mặt khác những đóng góp trong việc chăm sóc đứa trẻ có thể giúp việc truyền đạt vốn gen di truyền của người đàn ông tốt hơn.

Sự tự tin vào quyền làm cha hẳn sẽ không gặp vấn đề gì nếu loài người cũng giống như loài vượn, sống rải rác khắp nơi thành từng cặp riêng rẽ, vì thế một con vượn cái hiếm khi gặp một con đực nào khác ngoài chồng mình. Nhưng vẫn tồn tại những lý do thuyết phục cho việc hầu như tất cả các cộng đồng của loài người đều bao gồm những nhóm người trưởng thành mặc dù trong trường hợp đó có thể gây ra sự nghi ngờ về quyền làm cha. Một trong những lý do đó là các hoạt động săn bắt, hái lượm của con người nguyên thủy đều liên quan tới những nỗ lực phối hợp giữa các nhóm đàn ông, đàn bà, hoặc cả hai và sự tìm kiếm thức ăn ở thời kỳ này diễn ra rải rác khắp nơi nhưng cuối cùng đều được tập hợp lại để có thể cung cấp cho nhiều người, và việc sống theo bầy đàn giúp bảo vệ họ tốt hơn trước các loài thú dữ, kẻ xâm chiếm và đặc biệt là chống lại những người lạ từ nơi khác tới.

Trong một thời gian ngắn, hệ thống xã hội chúng ta đã tiến hóa để thích nghi với thói quen ăn uống không còn giống vượn người nữa, dường như gần giống với chúng ta ngày nay nhưng điều đó là hết sức kỳ lạ với các chuẩn mực của loài động vật nhân hình và gần như là duy nhất trong số các loài động vật có vú. Những con đười ươi trưởng thành rất cô độc, con vượn khi trưởng thành thì sống riêng rẽ thành từng cặp theo kiểu một vợ - một chồng. Gorilla đực sống với một hậu cung đông đảo trong đó một con đực có thể đi kèm với một số con cái trưởng thành và thường có một con đực vượt trội hơn hẳn những con khác. Tinh tinh thường thì sống thành những cộng đồng khá hỗn tạp, một nhóm rải rác có vài con cái đi kèm với một số con đực, trong khi những con tinh tinh lùn còn tạo nên những nhóm hỗn tạp hơn thế về cả hai giới. Nhưng với xã hội của con người, chẳng hạn như thói quen ăn uống của chúng ta lại phần nào giống sư tử và sói ở chỗ xã hội của chúng ta đã có tổ chức: trong đó người đàn ông và đàn bà thường kết đôi với nhau. Trái ngược với điều đó, bất cứ con sư tử đực nào cùng với niềm tự hào của riêng nó cũng có thể và thường xuyên kết hợp với bất cứ con sư tử cái danh giá nào trong đàn khiến cho việc xác định quyền làm cha là điều không thể. Nhưng xã hội đặc biệt của chúng ta lại có sự tương đồng gần gũi với một số loài trong đó các loài chim biển, tiêu biểu là chim hải âu và chim cánh cụt, chúng cũng sống thành từng cặp giữa con đực và cái.

Ít nhất, trong các thể chế chính trị hiện đại, sự kết đôi của con người một cách chính thức ít nhiều cũng có tính chung thủy, một vợ - một chồng, nhưng “sự đa thê nhẹ nhàng” trong phần lớn những bộ tộc nguyên thủy còn sống sót, là hình mẫu tốt hơn về việc con người đã sống như thế nào từ hàng triệu năm về trước. (Sự mô tả này cho phép việc cân nhắc tới vấn đề ngoại tình, dù điều đó khiến chúng ta trở nên hiệu quả hơn đời sống đa thê và bởi các khía cạnh về mặt khoa học hết sức quyến rũ của nó mà ta sẽ thảo luận đến trong chương tiếp theo). Bởi sự “đa thê nhẹ nhàng”, tôi muốn nói rằng phần lớn những người đàn ông nguyên thủy có thể nuôi sống được một gia đình đơn lẻ, nhưng cũng có một vài người đàn ông quyền lực hơn lại có nhiều vợ. Đem so sánh việc nhiều vợ này với loài voi biển, trong đó một con đực mạnh nhất thì có tới hàng chục vợ, thì đó là điều không thể với một người đàn ông nguyên thủy, bởi họ khác với loài voi biển ở chỗ, họ còn phải chăm sóc tới những đứa trẻ của mình. Một hậu cung lớn mà nhờ đó những tên vua chuyên chế trở nên nổi tiếng không thể trở thành hiện thực cho tới khi có sự phát triển về nông nghiệp và chính quyền tập trung cho phép đặt ra mức thuế với tất cả mọi người để nuôi dưỡng nổi tất cả những đứa con trong hậu cung của hoàng tộc đó.

Bây giờ ta hãy cùng tìm hiểu xem bằng cách nào mà tổ chức xã hội này tạo nên kích thước cơ thể của người đàn ông và đàn bà. Sự thực đầu tiên là đàn ông trưởng thành thường to lớn hơn đôi chút so với những người đàn bà cùng tuổi (tính trung bình họ cao hơn khoảng 8% và nặng hơn khoảng 20% so với những người phụ nữ). Một nhà động vật học từ ngoài vũ trụ khi nhìn thấy người vợ cao khoảng 1,70 m đứng cạnh tôi (cao khoảng 1,76 m), hoàn toàn có thể ước đoán rằng chúng tôi thuộc một nhóm loài khá nhiều vợ. Vậy nên bạn có thể hỏi bằng cách nào một người có thể ước đoán về các tập tính giao phối thông qua kích thước cơ thể tương xứng?

Điều đó cho thấy, trong những loài có vú nhiều vợ, số vợ trung bình của những con đực tăng theo tỷ lệ kích thước cơ thể giữa con đực và con cái. Do đó, thú có nhiều vợ nhất là ở những loài mà con đực to lớn hơn rất nhiều so với những con cái. Ví dụ như, vượn đực và vượn cái thường có kích cỡ như nhau nên chúng sống theo kiểu một vợ - một chồng; nhưng một con gorilla với đặc điểm có từ 3 - 6 vợ thì trọng lượng của nó phải gấp đôi con cái; nhưng với số vợ trung bình của loài voi biển phía Nam là 48 vợ - thì một con voi biển đực nặng chừng ba tấn khiến những người vợ chỉ nặng có khoảng 300 kg của nó trở nên thật nhỏ bé. Sự lý giải ở đây là: trong những loài sống một vợ - một chồng thì bất cứ con đực nào cũng có thể chinh phục được một con cái, nhưng ở những loài đa thê rõ rệt, phần lớn những con đực sẽ già yếu đi mà chưa một lần được giao phối, bởi chỉ với một số lượng rất ít những con đực vượt trội mới có thể thành công trong việc thu nhận tất cả các con cái vào trong hậu cung của nó. Do vậy, cùng với việc nhiều vợ hơn thì cũng là một cuộc tranh đấu gay gắt hơn giữa những con đực và thường những con đực to lớn hơn là kẻ giành chiến thắng. Loài người chúng ta với đặc điểm kích thước cơ thể người đàn ông lớn hơn đôi chút và có tính chất đa thê chút ít cũng là sự phù hợp với khuôn mẫu này (tuy nhiên, ở một vài điểm trong sự tiến hóa của loài người, trí thông minh và nhân cách của con người có giá trị hơn nhiều so với kích cỡ cơ thể: cầu thủ bóng rổ và võ sĩ sumo thì không thể có xu hướng có nhiều vợ hơn so với vận động viên đua ngựa hay chèo thuyền được).

Do sự canh tranh trong việc kết đôi giao phối ở những loài nhiều vợ dữ dội hơn so với loài có quan hệ một vợ - một chồng nên loài nhiều vợ vẫn có xu hướng lưu giữ những đặc điểm khác biệt rõ rệt giữa con đực và con cái bên cạnh sự sai khác về kích cỡ cơ thể. Những điểm khác biệt đó là các đặc trưng thứ cấp về giới tính đóng vai trò thu hút bạn tình. Thí dụ như, ở loài sống một vợ một chồng như loài vượn, con vượn đực và cái nhìn từ xa trông rất giống nhau, trong khi con gorilla đực (phù hợp với đời sống nhiều vợ) thì dễ dàng được nhận ra bởi chỏm đầu gợn sóng và mó lông bạc ở phần lưng. Ở đây cũng vậy cơ thể con người chúng ta phản ánh khá rõ chế độ đa thê nhẹ nhàng ở người. Sự khác biệt về hình thức giữa nam giới và phụ nữ không hoàn toàn chỉ liên quan tới giới tính như ở loài đười ươi hay gorilla, nhưng một nhà động vật học từ ngoài không gian có lẽ vẫn phân biệt giữa đàn ông với phụ nữ là nhờ vào cơ thể và bộ râu chỉ có ở người đàn ông, đàn ông loài người thường có dương vật lớn còn phụ nữ thì có bầu vú lớn ngay cả trước khi sinh con lần đầu tiên (chúng ta là loài duy nhất có những đặc điểm này ở bộ linh trưởng).

Giờ chúng ta tiếp tục bàn tới bản thân bộ phận sinh dục ngoài, trọng lượng tổng thể của tinh hoàn ở một người đàn ông trung bình là khoảng 43 g. Điều đó có thể khoe thêm nhận thức nam tính của người đàn ông khi anh ta biết rằng trọng lượng tinh hoàn của mình chỉ nhỏ hơn chút ít so với của một con gorilla đực nặng 204 kg. Nhưng hãy khoan: tinh hoàn của chúng ta chỉ là nhỏ xíu nếu so với trọng lượng khoảng 113 g của tinh hoàn ở một con tinh tinh đực nặng chỉ 46 kg. Vậy tại sao lại có một sự tiết kiệm đến vậy ở loài gorilla hay quá hào phóng ở tinh tinh khi so sánh với chính chúng ta?

“Học thuyết về kích cỡ tinh hoàn” là một trong những thành tựu của sinh lý học người hiện đại. Bằng việc cân trọng lượng tinh hoàn của 33 loài động vật linh trưởng khác nhau, những nhà khoa học người Anh đã khám phá ra hai khuynh hướng: những loài giao hợp nhiều hơn cần có tinh hoàn lớn hơn và những loài tạp giao trong đó một số con đực có thói quen giao hợp lần lượt với cùng một con cái thì cần những tinh hoàn đặc biệt lớn (bởi như thế nó sẽ cung cấp được nhiều tinh trùng có cơ hội để thực hiện sự thụ tinh với trứng). Tuy nhiên, sự thụ thai là một cuộc cạnh tranh đầy may rủi, và tinh hoàn lớn chỉ thể hiện rằng con đực sẽ có nhiều tinh trùng khi giao hợp mà thôi.

Image

Hình 4: Con người và những loài động vật nhân hình cỡ lớn khác biệt nhau rõ rệt về kích thước tương ứng giữa giống đực và giống cái, cũng như với độ dài dương vật và kích cỡ tinh hoàn. Những vòng tròn thể hiện kích cỡ cơ thể giống đực của các loài khi so sánh với giống cái của cùng một loài. Kích cỡ cơ thể của giống cái ở tất cả các loài đều được biếu hiện giống nhau và là vòng tròn ở phía trên cùng. Như vậy, loài tinh tinh có trọng lượng bộ phận sinh dục ở hai giới là như nhau, ở loài người thì đàn ông lớn hơn đàn bà một chút nhưng với đười ươi và gorilla thì bộ phận sinh dục con đực lớn hơn con cái rất nhiều. Mũi tên ở trên biểu tượng của giống đực chỉ độ dài cương lên của dương vật, trong khi hai vòng tròn nhỏ mô tả trọng lượng tinh hoàn tương đương với chính cơ thể đó. Vì vậy, đàn ông có dương vật cương lên dài nhất, tinh hoàn của tinh tinh to nhất, đười ươi và gorilla là loài có dương vật cương lên ít nhất và tinh hoàn nhỏ nhất.

Image

Hình 5: Phụ nữ là điển hình duy nhất có bộ ngực với kích cỡ to hơn hẳn các động vật có vú khác ngay cả trước khi sinh con. Những vòng tròn lớn biểu hiện kích cỡ cơ thể nữ giới tương xứng với cơ thể nam giới cùng loài.

Đó là một số xem xét về sự khác nhau giữa kích thước tinh hoàn của những loài linh trưởng cỡ lớn và con người. Một con gorilla cái phải 3 - 4 năm sau khi sinh con mới có thể khôi phục lại hoạt động tình dục và nó cũng chỉ chịu quan hệ vào một số ngày trong tháng cho đến khi lại thụ thai lần nữa. Ngay cả một con gorilla đực thành công có một hậu cung với một vài con cái thì quan hệ tình dục cũng là một chuyện hiếm thấy, vì nếu may mắn điều này mới có thể diễn ra vài lần trong một năm. Kích cỡ dương vật nhỏ xíu là hoàn toàn phù hợp cho những đòi hỏi tối thiểu của nó.

Cuộc sống tình dục của con đười ươi đực có thể ở một mức độ nào đó thì cũng đòi hòi không nhiều hơn là mấy. Tuy nhiên, một con tinh tinh đực trong một bầy đàn tạp giao lẫn lộn với những con cái thì quả như được sống trong cõi thần tiên của tình dục với việc con tinh tinh thường có cơ hội được giao phối với con cái gần như hằng ngày, và vài lần trong một ngày đối với loài tinh tinh lùn. Thêm vào đó con tinh tinh còn phải vượt qua những con đực khác trong việc xuất tinh nếu muốn thụ thai cho những con cái có mối quan hệ lộn xộn, chính điều đó giải thích vì sao nó lại cần một cái dương vật khổng lồ. Loài người chúng ta có thể tiến hành giao phối với dương vật chỉ có kích thước vừa phải, bởi vì một người đàn ông bình thường, tuy sự giao hợp diễn ra thường xuyên hơn so với gorilla hoặc vượn nhưng không thể thường xuyên như ở tinh tinh. Thêm vào đó, một phụ nữ bình thường với chu kỳ kinh nguyệt đặc trưng hằng tháng không nhất thiết phải buộc nhiều người đàn ông cùng tham gia vào cuộc cạnh tranh của tinh trùng khi muốn thụ thai.

Vì vậy, việc thiết kế tinh hoàn ở những loài linh trưởng minh họa rất rõ ràng những cơ sở của sự tương xứng và sự phân tích về cái đượcmất về mặt tiến hóa của điều này đã được giải thích ở trang 99 - 105. Mỗi loài lại có tinh hoàn vừa đủ lớn để thực hiện công việc của nó và không cần tới những cái lớn hơn. Kích cỡ tinh hoàn lớn hơn có thể dẫn tới nhiều thiệt hại mà không đem lại lợi ích tương xứng, bởi sự bố trí về không gian cũng như năng lượng cho những mô khác và sự gia tăng rủi ro của căn bệnh ung thư tinh hoàn.

Từ những thắng lợi của các giải thích khoa học này, chúng ta đã rơi vào một sai lầm hiển nhiên khác: sự bất lực của khoa học thế kỷ XXI khi trình bày một cách đầy đủ về “Học thuyết về độ dài của dương vật”. Độ dài của dương vật khi cương lên trung bình là 3,2 cm ở gorilla; ở tinh tinh là 3,8 cm; 7,6 cm ở đười ươi và của con người là 12,7 cm. Sự sai khác ở đây là quá rõ ràng theo một trật tự như sau: dương vật của gorilla không nhìn thấy được rõ ràng ngay cả khi cương lên vì nó có màu đen, trong khi dương vật của đười ươi có màu hồng thường cương lên khi được đẩy lên khỏi lớp da mỏng màu trắng ở bên dưới. Dương vật khi mềm đi thì thậm chí còn không thể nhìn thấy được ở các loài khỉ nhân hình. Tại sao một người đàn ông lại cần dương vật của mình có kích cỡ khá lớn và thu hút được sự chú ý, trong khi nó lớn hơn bất cứ cơ quan tương tự của các động vật nhân hình khác. Và trong khi những con vật nhân hình đực thành công trong việc truyền giống chỉ với lượng tinh trùng ít hơn rất nhiều, liệu điều đó có khiến dương vật của con người thể hiện sự lãng phí chất nguyên sinh lớn và biết đâu sẽ có giá trị hơn khi dành điều đó cho sự phát triển vỏ não hay cải thiện các ngón tay.

Những người bạn là các nhà sinh vật học của tôi, khi bị tôi đưa ra câu hỏi hóc búa này, họ thường nghĩ tới những đặc điểm khác biệt trong sự giao hợp của con người, mà qua đó họ cho rằng cái dương vật lớn bằng cách nào đó có thể trở nên hữu dụng trong việc chúng ta thường xuyên giao hợp ở vị trí mặt đối mặt, sự đa dạng trong cách xoay chuyển vị trí trong khi giao hợp, hay quãng thời gian nghỉ ngơi trong lúc quan hệ. Không có những giải thích nào có thể tồn tại sau những khảo sát kỹ lưỡng gần nhất. Vị trí mặt đối mặt thường được ưa thích hơn ở các loài đười ươi và tinh tinh lùn, thỉnh thoảng cũng xuất hiện ở cả gorilla. Đười ươi chia giao phối đối diện ra thành hai vị trí: theo chiều sau - trước hay nghiêng sang một bên, và việc giao hợp khi treo mình trên các cành cây, chắc chắn là chúng có nhu cầu xoay sở nhiều hơn chúng ta khi ở trong phòng riêng. Khoảng thời gian giao cấu trung bình đối với loài người (4 phút với người Mỹ) lâu hơn rất nhiều so với ở gorilla (1 phút); tinh tinh lùn (50 giây) hoặc tinh tinh bình thường (7 giây) nhưng lại ngắn hơn so với đười ươi (50 phút) và chỉ là nháy mắt khi so sánh với 12 tiếng đồng hồ ở loài chuột túi.

Do đó, những sự thực này khiến ta không chắc chắn rằng những đặc điểm đặc biệt trong quá trình giao phối của con người đòi hỏi một dương vật lớn, một học thuyết thay thế khá phổ biến khi cho rằng dương vật của loài người có thể trở thành một phần của sự trưng bày giống như đuôi công hoặc bờm sư tử. Lý luận này là khá hợp lý nhưng lại không đề cập đến đúng vấn đề cần bàn cãi: đó là loại trưng bày gì và dành cho ai?

Các nhà nhân chủng học là nam giới với niềm kiêu hãnh sẽ trả lời một cách không lưỡng lự rằng: đó là sự phô trương tính hấp dẫn của nam giới và được dành cho phụ nữ. Nhưng những câu trả lời ấy của nhà nhân chủng học chỉ thể hiện sự mơ mộng và tưởng tượng mà thôi. Nhiều phụ nữ nói rằng họ bị lôi cuốn bằng tiếng nói, đôi chân hay bờ vai của người đàn ông hơn là nhìn vào dương vật của anh ta. Một câu chuyện kể lại rằng thoạt tiên một tạp chí dành cho phụ nữ có tên là Viva có ý định đăng công khai những bức ảnh khỏa thân của đàn ông nhưng đã từ bỏ điều đó sau khi các nghiên cứu chỉ ra không thu hút được mấy sự quan tâm từ phụ nữ. Khi những tấm hình nam giới khỏa thân không xuất hiện, số lượng độc giả là phụ nữ tăng lên và lượng độc giả nam giảm xuống. Rõ ràng rằng, những độc giả nam sẽ là những người mua tạp chí Viva nếu nó có đăng bức ảnh khỏa thân. Như vậy, chúng ta có thể đồng ý rằng dương vật của loài người là một bộ phận cơ thể để trưng bày, nhưng sự trưng bày đó không phải là dành cho phái nữ mà lại chính là cho những người đàn ông khác.

Những sự thật khác cũng xác nhận và củng cố thêm vai trò của dương vật lớn như là mối đe dọa hay sự phô trương thân thể của một người đàn ông với những người khác. Hãy thử nhớ lại tất cả những sáng tạo nghệ thuật về dương vật được tạo ra bởi những người đàn ông và dành cho những người đàn ông khác, và đó còn là nỗi ám ảnh phổ biến của nam giới về kích thước dương vật của họ. Sự tiến hóa về kích thước dương vật của người đàn ông bị giới hạn rất hiệu quả bởi chiều sâu âm đạo của người phụ nữ: một dương vật quá lớn của người đàn ông có thể thực sự gây nguy hiểm cho người phụ nữ. Tuy nhiên, tôi có thể đoán được rằng dương vật sẽ trông như thế nào nếu loại bỏ đi sự kiềm chế có tính thực tiễn đó và nếu như những người đàn ông có thể tự thiết kế cho dương vật của chính bản thân. Điều đó cũng có thể tương tự với lớp vỏ bọc bên ngoài dương vật (bao dương vật), thứ thường được dùng như đồ trang sức của đàn ông tại các vùng của New Guinea, nơi tôi đã từng đi nghiên cứu thực tế. Bao dương vật rất đa dạng về chiều dài (có thể lên tới 60 cm), đường kính (lên tới 10,2 cm), có hình dáng cong hay thẳng với góc nghiêng tùy thuộc vào vóc dáng người mặc, màu sắc (đỏ hoặc vàng) và các đồ trang trí đi kèm (như một túm lông ở đuôi…). Mỗi người đàn ông có một tủ đựng những chiếc bao với kích cỡ và hình dạng khác nhau để từ đó có thể lựa chọn chúng cho mỗi ngày tùy thuộc vào tâm trạng của ông ta vào buổi sáng hôm đó. Các nhà nhân chủng học là nam giới ngượng ngập giải thích rằng bao dương vật dùng để thể hiện sự khiêm tốn hay mang lại cảm giác kín đáo, nhưng vợ tôi lại có một câu trả lời thật vắn tắt khi nhìn thấy nó: “Đó là điều khiếm nhã nhất của sự khiêm tốn mà tôi từng thấy!”

Do đó, dường như vẫn chứa đựng rất nhiều điều đáng ngạc nhiên, chức năng quan trọng của dương vật ở người đàn ông vẫn là một bí ẩn. Đây là một lĩnh vực nghiên cứu còn rất nhiều điều thú vị cần khai phá.

Giờ đây, chuyển từ nghiên cứu giải phẫu sang sinh lý học, chúng ta ngay lập tức đối mặt với các hình mẫu của hoạt động tình dục của chính chúng ta, điều phải được coi là hết sức quái đản so với những chuẩn mực của các động vật có vú thông thường. Hầu hết những động vật có vú trong phần lớn thời gian không hoạt động tình dục. Chúng giao phối chỉ khi con cái đang trong thời kỳ động dục - hay là khi nó đang rụng trứng và có khả năng thụ thai được. Con cái của các loài thú rõ ràng là biết khi nào chúng rụng trứng, và do đó, cố gắng giao phối ngay sau đó thông qua việc khoe bày cơ quan sinh dục trước những con đực. Sợ rằng con đực có thể bỏ qua đặc điểm này, rất nhiều con cái của các loài linh trưởng còn đi xa hơn thế: vùng xung quanh âm hộ, nay thêm vào đó ở một số loài khác còn ở một số vùng như mông và ngực đều căng lên và chuyển sang màu đỏ, hồng hay xanh. Những cách khoe bày sự tiếp nhận đập vào mắt của con cái ảnh hưởng tới con đực ở loài khỉ giống với cách một người phụ nữ diện thật đẹp và trang điểm đầy quyến rũ thu hút cánh đàn ông ở loài người. Với sự xuất hiện của những con cái với cơ quan sinh dục ngoài căng phồng lên và rất rực rỡ, những con khỉ đực quan sát chăm chú hơn rất nhiều vào bộ phận sinh dục của con cái, làm tăng lượng testosterone(10), chúng cố gắng giao hợp thường xuyên hơn và đưa dương vật vào nhanh hơn chỉ sau những cú thúc ít hơn vào vùng xương chậu của con cái so với trường hợp các con cái không thể hiện dấu hiệu này.

Chu kỳ hoạt động tình dục ở người cũng hết sức khác thường. Người phụ nữ duy trì sự chấp nhận tình dục có thể liên tục hoặc không, điều này thay cho việc chỉ hạn chế chính xác trong một thời gian động dục rất ngắn. Thực sự là, mặc dù có rất nhiều các nghiên cứu với mục tiêu xác định thời điểm tiếp nhận tình dục của người phụ nữ thay đổi như thế nào trong cuộc đời của cô ta, vẫn còn tồn tại những quan điểm bất đồng về câu trả lời rằng không có những giai đoạn mà ở đó sự chấp nhận là cao nhất nếu như chúng thực sự có thay đổi theo vòng đời.

Chính việc giấu kín thời điểm rụng trứng của phụ nữ đã khiến cho tới những năm 1930, chúng ta vẫn không có bất cứ thông tin khoa học chính xác nào về thời điểm ấy. Trước đó, rất nhiều các nhà sinh lý học nghĩ rằng phụ nữ có thể chấp nhận quan hệ vào bất kỳ thời điểm nào trong vòng đời của họ, hay ngay cả khi sự tiếp nhận rất có thể diễn ra vào thời điểm bắt đầu có kinh nguyệt. Trái ngược với con khỉ đực khi mà chúng chỉ rà soát khắp khu vực mà nó kiểm soát để tìm những con cái có sự phồng đỏ lên mà thôi, những người đàn ông kém may mắn hơn khi không có ý niệm rõ rệt nào để nhận ra người phụ nữ nào xung quanh anh ta đang rụng trứng và có thể thụ thai. Tự bản thân người phụ nữ có thể học cách nhận ra những cảm giác có liên quan tới quá trình rụng trứng, nhưng thường điều đó có thể đánh lừa họ thậm trí với cả sự giúp sức của cặp nhiệt độ hay đánh giá về lượng dịch nhầy xuất hiện ở âm đạo. Hơn thế, ngày nay, một người ở độ tuổi sinh đẻ, cố gắng bằng nhiều cách khác nhau để có thai hay tránh nó, phải rất vất vả nhằm đạt được mục tiêu thông qua những tính toán lạnh lùng từ những kiến thức sách vở hiện đại. Cô ta cũng chẳng có sự lựa chọn nào khác, do thiếu đi cảm nhận bẩm sinh, nhiệt thành về sự chấp nhận tình dục mà các loài thú khác có được.

Sự rụng trứng âm thầm của chúng ta, việc chấp nhận tình dục liên tục và giai đoạn thụ thai rất ngắn ngủi trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt đảm bảo rằng phần lớn các hoạt động giao phối diễn ra giữa hai người đều tiến hành sai thời điểm trứng có thể tiếp nhận. Điều đó còn trở nên tồi tệ hơn khi chu kỳ kinh nguyệt rất khác nhau giữa những người phụ nữ, hay với chính người phụ nữ nếu đem so sánh với con cái của loài thú khác. Kết quả là, những đôi uyên ương mới cưới khi bỏ qua các phương pháp tránh thai và quan hệ với tần số tối đa cũng sẽ chỉ có 28% khả năng có thể thụ thai trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt. Các con được dùng để làm giống ở loài vật sẽ tuyệt vọng nếu một con bò cái tốt cũng chỉ có khả năng thụ thai thấp đến vậy, nhưng trên thực tế thì chúng lại có thể được tiến hành thụ tinh nhân tạo đơn lẻ và do đó, con bò cái có tới 75% cơ hội được thụ thai.

Bất kể chức năng sinh học chính của quá trình giao phối ở con người là như thế nào thì đó cũng không phải là sự thụ thai, mà nó chỉ như một sản phẩm phụ thỉnh thoảng mới xuất hiện. Trong thời đại của sự gia tăng dân số quá mức như hiện nay, một trong những bi kịch đáng mỉa mai nhất lại chính là đòi hỏi của nhà thờ Thiên Chúa giáo rằng việc giao hợp phải dẫn đến thụ thai như là chức năng tự nhiên của nó và rằng các biện pháp tránh thai là điều duy nhất đúng trong việc khống chế tỷ lệ sinh đẻ. Biện pháp tránh thai có thể là rất tốt với gorilla và với hầu hết mọi loài thú khác nhưng không phải là cho chúng ta. Không có một loài vật nào khác ngoài con người mà mục đích giao phối lại trở nên không liên quan mật thiết tới việc thụ thai hay biện pháp tránh thai là quá bất tiện cho việc ngăn ngừa sự thụ tinh.

Đối với các loài thú, giao phối là điều xa xỉ nguy hại. Trong khi đang hành sự(11), một con vật có thể đốt cháy lượng calorie khá lớn, từ chối cơ hội kiếm tìm thức ăn, và bị tấn công bởi các con thú ăn thịt mình hay không thể tấn công những kẻ cạnh tranh hoặc xâm lược lãnh thổ của nó. Vì vậy việc giao phối phải tiến hành trong thời gian ngắn nhất chỉ đủ để thực hiện việc thụ thai. Trái ngược hoàn toàn với loài người khi mà tình dục được coi như một công cụ để tiếp nhận sự thụ thai, có thể bị đánh giá như một sự hoang phí lớn về thời gian và năng lượng, một thất bại trong tiến hóa. Nếu như chúng ta cũng có những chu kỳ động dục như những loài động vật có vú khác, thời gian lãng phí đó có thể được tổ tiên chúng ta dùng vào việc giết chết thêm nhiều thú dữ. Bởi cách nhìn về tình dục hướng đến kết quả như vậy, bất cứ bộ lạc nguyên thủy nào mà ở đó phụ nữ thể hiện thời kỳ động dục của mình có thể nuôi dưỡng nhiều đứa trẻ hơn và cạnh tranh tốt hơn với các bộ tộc khác.

Do vậy, vấn đề thảo luận nóng bỏng nhất về sự tiến hóa của sinh sản loài người là phải giải thích tại sao cuối cùng loài người đã phát triển đến sự rụng trứng âm thầm và tất cả những điều tốt đẹp mà việc giao phối không lựa chọn thời điểm có thể mang tới cho chúng ta. Với các nhà khoa học, không thể nói rằng giao phối chỉ nhằm mục đích vui thích. Chắc chắn là nó có thể tạo nên sự vui sướng nhưng tiến hóa không nhằm mục đích chính là như vậy. Nếu chúng ta không có được nhiều lợi ích từ việc giao phối nhầm thời điểm, những con người bị đột biến và tiến hóa để không ham mê tình dục đã có thể thống trị thế giới này.

Liên quan tới nghịch lý về sự rụng trứng âm thầm chính là nghịch lý của việc giao phối một cách riêng tư. Tất cả các loài động vật sống theo nhóm khác đều giao phối giữa cộng đồng cho dù chúng theo phương thức một vợ - một chồng hay đa thê. Các cặp hải cẩu giao hợp với nhau ngay giữa trung tâm bầy, một con tinh tinh cái đang rụng trứng có thể giao hợp lần lượt với năm con đực với sự chứng kiến của các con khác. Tại sao chúng ta lại là duy nhất trong việc ưa thích hơn sự giao phối riêng tư?

Các nhà sinh vật học gần đây đã tranh luận dựa trên ít nhất sáu học thuyết nhằm giải thích về nguồn gốc của sự rụng trứng âm thầm và việc giao phối kín đáo của loài người. Thú vị hơn, cuộc tranh luận này được chứng minh là bài kiểm tra Rorschach(12) về giới tính và quan điểm của các nhà khoa học có liên quan. Dưới đây là các học thuyết đó và những đề xuất của chúng:

1. Một học thuyết được các nhà nhân chủng học nam giới truyền thống ủng hộ. Theo quan điểm này, quá trình rụng trứng và giao phối kín đáo tiến hóa nhằm mục đích tăng cường sự phối hợp và giảm thiểu sự tranh giành giữa những người đàn ông. Làm sao mà những người đàn ông tiền sử có thể cùng hợp tác đâm một con voi ma mút nếu như buổi sáng hôm ấy họ vừa đánh nhau vì cùng yêu một người phụ nữ tiền sử đang độ ham muốn? Thông điệp tiềm ẩn của giả thuyết này đó là: sinh lý phụ nữ chủ yếu quan trọng đối với mối quan hệ giữa hai người đàn ông - những người hoạt động thực sự trong xã hội. Tuy nhiên, người ta có thể mở rộng học thuyết này nhằm khiến nó bớt sự phân biệt giới tính rõ rệt đó là: ham muốn và hành vi tình dục lộ liễu có thể phá hủy xã hội loài người thông qua việc ảnh hưởng lên mối quan hệ giữa những người phụ nữ, giữa đàn ông và phụ nữ và ngay cả giữa những người đàn ông với nhau.

Để có được cái nhìn cởi mở hơn về học thuyết rất thông dụng này, hãy quan tâm tới hình ảnh sau trong một bộ phim truyền hình dài tập, qua đó thể hiện rằng cuộc sống của những người “săn bắt-hái lượm” hiện đại sẽ ra sao nếu không có sự rụng trứng kín đáo và giao hợp một cách riêng tư. Các nhân vật chính của bộ phim truyền hình này bao gồm Bob, Carol, Ted và Alice, Ralph, Jane. Bob, Alice, Ralph và Jane cùng làm việc trong một văn phòng nơi mà những người đàn ông thì săn các hợp đồng còn phụ nữ thì thu thập các chứng từ để có thể thanh toán. Ralph lấy Jane, còn Carol là vợ của Bob, chồng của Alice chính là Ted. Carol và Ted lại làm việc ở nơi khác.

Một buổi sáng, Alice và Jane thức dậy cùng phát hiện rằng cơ thể họ đã chuyển sang màu đỏ rực báo hiệu sự rụng trứng và sẵn sàng cho việc quan hệ. Alice và Ted làm tình tại nhà trước khi chia tay và đi theo những hướng khác nhau tới nơi làm việc. Jane và Ralph đi làm cùng với nhau, tại đó, họ thỉnh thoảng làm tình với nhau trên chiếc ghế sofa trong phòng làm việc trước sự chứng kiến của các đồng nghiệp.

Bob không thể nén cảm giác thèm muốn Alice và Jane khi anh ta thấy bộ phận trên cơ thể họ chuyển sang màu đỏ và nhìn thấy Jane cùng Ralph làm tình. Anh ta không thể tập trung vào công việc của mình. Anh ta liên tục gạ gẫm hết Jane rồi đến Alice.

Ralph đuổi Bob tránh xa Jane..

Alice rất chung thủy với Ted và từ chối Bob nhưng phiền nhiễu này vẫn gây rắc rối tới công việc của cô.

Suốt cả ngày, Carol ở trong văn phòng của cô tại một nơi nào đó, sôi sục lên vì ghen tức với Jane và Alice, bởi Carol biết rằng cả Alice và Jane đều có màu đỏ rực và hấp dẫn Bob trong khi cô thì không có.

Kết quả là, công ty đó chỉ thành công trong việc bỏ túi một vài hợp đồng và một số giấy tờ được thanh toán. Trong khi đó, tại những văn phòng khác, nơi mà những sự rụng trứng được giấu kín và sự giao phối là riêng tư thì lại kinh doanh rất phát đạt. Cuối cùng, văn phòng của Bob, Alice, Ralph và Jane phải đóng cửa. Và chỉ ở những cơ quan nơi mà sự rụng trứng và giao hợp được giấu kín mới có thể hoạt động được.

Câu truyện ngụ ngôn trên cho thấy lý thuyết cổ điển cho rằng sự rụng trứng và hành vi giao hợp kín đáo đã tiến hóa nhằm phát triển sự phát triển sự hợp tác trong xã hội loài người là hợp lý. Không may rằng, bên cạnh đó cũng còn có những học thuyết rất hợp lý mà tôi sẽ giải thích rất ngắn gọn ngay sau đây.

2. Giả thuyết được nhiều nhà nhân chủng học nam giới khác lựa chọn hơn. Sự rụng trứng và giao phối kín đáo gắn chặt sợi dây liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà xác định, qua đó tạo nên những nền tảng của gia đình loài người. Một người phụ nữ luôn duy trì sự gợi tình và ham muốn tình dục nhằm luôn có thể thỏa mãn tình dục của một người đàn ông, gắn kết anh ta với cô ấy, và dâng hiến hết mình cho anh ta vì đã cùng cô nuôi dạy con cái. Thông điệp phân biệt giới tính là: phụ nữ tiến hóa để làm đàn ông hạnh phúc. Phần chưa thể lý giải bởi giả thuyết này chính là câu hỏi tại sao những đôi vượn, vốn là hình mẫu quan trọng cho xu hướng đạo đức vì chúng hoàn toàn tự nguyện sống một vợ - một chồng, vẫn chung sống với nhau mặc dù phải cách vài năm chúng mới làm tình một lần.

3. Giả thuyết của các nhà nhân chủng học nam giới hiện đại hơn (Donald Symons). Symons cho rằng một con tinh tinh đực khi giết được một con mồi ngon thường có xu hướng thích chia sẻ phần thịt đó cho những con cái đang có hưng phấn tình dục hơn là cho những con không có điều này. Điều đó đã gợi ý cho Symons rằng giống cái rất có thể đã tiến hóa để đạt tới những trạng thái hưng phấn tình dục ổn định để đảm bảo được cung cấp nguồn thức ăn thường xuyên từ các con đực săn mồi thông qua sự đánh đổi bằng quan hệ tình dục. Như một học thuyết để thay thế, Symons cũng cho rằng phụ nữ trong xã hội săn bắt-hái lượm có ít tiếng nói trong việc lựa chọn bạn đời. Những xã hội này có ưu thế thuộc về nam giới, và những phe phái đàn ông này chỉ việc tìm sự thích hợp cho bản thân bằng cách hoán đổi con cái thông qua cưới gả cho nhau. Tuy nhiên, do lúc nào cũng hấp dẫn nên ngay cả một người phụ nữ lấy một người chồng thấp kém hơn mình vẫn có thể bí mật quyến rũ một người đàn ông có địa vị cao hơn khác và cấy vốn gen của anh này cho các con cô ta. Những học thuyết của Symons, trong khi vẫn hướng về phái nam, nhưng ít nhất cũng thể hiện một bước tiến trong quan niệm của ông khi cho rằng phụ nữ rất thông minh khi đeo đuổi mục đích của riêng họ.

4. Học thuyết do các nhà sinh vật học nam giới và nữ giới cùng đưa ra. (Richard Alexander và Katherine Noonan). Nếu một người đàn ông có thể nhận ra những dấu hiệu của sự rụng trứng, anh ta có thể sử dụng kiến thức đó làm tình với vợ mình bằng cách chỉ quan hệ trong khi cô ta rụng trứng. Người đàn ông đó có thể khước từ cô một cách an toàn trong những khoảng thời gian còn lại rồi chuồn mất và đi lăng nhăng mà vẫn chắc chắn rằng người vợ anh ta bỏ lại ở nhà không có ham muốn với ai nếu vẫn chưa thụ thai. Do vậy, người phụ nữ tiến hóa tới độ che giấu giai đoạn rụng trứng nhằm buộc người chồng vào một mối quan hệ hôn nhân bền vững, bằng việc tác động vào thói đa nghi về quan hệ cha - con của người đàn ông. Người đàn ông không biết thời điểm rụng trứng của vợ nên phải giao hợp với vợ thường xuyên để cô có thể có thai và vì thế anh ta có ít thời gian lăng nhăng với những người phụ nữ khác hơn. Người vợ được lợi từ điều này nhưng ngay cả người chồng cũng vậy. Anh ta có thêm sự tự tin về quyền làm cha với những đứa con của mình và không cần phải lo lắng rằng vợ mình có thể đột nhiên thu hút rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác bằng việc trở nên nóng bỏng trong một vài ngày đặc biệt. Cuối cùng, chúng ta cũng có được một học thuyết dường như có nền tảng dựa trên sự bình đẳng giới.

5. Học thuyết của nhà xã hội học - sinh học nữ giới (Sarah Hrdy). Hrdy có ấn tượng bởi tần số mà rất nhiều các động vật linh trưởng - bao gồm không chỉ là khỉ mà còn bao gồm cả khỉ đầu chó, gorilla và những tinh tinh thường - giết hại những con sơ sinh không phải của chúng. Những linh trưởng mẹ mất con do vậy dần động dục trở lại và thường giao phối với chính kẻ giết hại, từ đó làm tăng khả năng sản sinh con cái của chúng. (Những tội ác này cũng thường thấy trong lịch sử loài người, đàn ông chiến thắng giết chết những kẻ bại trận và trẻ em nhưng lại tha cho phụ nữ). Để đối phó với điều này, Hrdy lý giải rằng, phụ nữ tiến hóa tới mức rụng trứng âm thầm nhằm mục đích lôi kéo những người đàn ông sợ lẫn lộn trong việc xác định quyền làm cha. Một người phụ nữ ban phát tình cảm cho nhiều người đàn ông có thể khiến nhiều đàn ông giúp đỡ nuôi dưỡng (hay ít nhất cũng không giết hại) con cô ta, do rất nhiều đàn ông có thể tự cho mình là cha đứa trẻ. Cho dù học thuyết này là đúng hay sai, chúng ta cũng phải hoan nghênh Hrdy vì đã lật đổ thành kiến trọng nam khinh nữ và chuyển quyền lực giới tính sang cho phụ nữ.

6. Học thuyết của một nhà xã hội học - sinh học nữ khác (Nancy Burley). Cân nặng trung bình của một đứa trẻ thông thường sinh ra là 3.5 kg gấp đôi một con gorilla mới chào đời, nhưng những bà mẹ gorilla nặng tới trên 100 kg đã khiến cho những người mẹ bình thường trở nên thật nhỏ bé. Do tỷ lệ kích thước trẻ em sơ sinh với mẹ chúng lớn hơn rất nhiều so với tỷ lệ này ở động vật nhân hình, việc sinh nở trở nên cực kỳ đau đớn và khó khăn ở loài người. Trước khi phát minh ra các loại thuốc, phụ nữ thường chết trong sinh nở, trong khi đó tôi chưa hề nghe thấy những định mệnh như vậy xảy đến với những con gorilla hay tinh tinh cái. Vì con người tiến hóa tới mức đủ trí thông minh để ý thức được mối liên quan giữa thụ thai và giao phối, phụ nữ có thể lựa chọn không giao phối vào đúng thời điểm rụng trứng và do vậy tránh đau đớn và nguy hiểm khi sinh nở. Nhưng những phụ nữ như vậy chỉ có thể sinh ra ít con hơn những phụ nữ không biết thời điểm rụng trứng của mình. Do vậy, trong khi những nhà nhân chủng học nam giới nhìn nhận quá trình rụng trứng âm thầm như là một phần của tiến hóa phụ nữ vì đàn ông (theo học thuyết 1 và 2), Nancy Burley lại nhìn nhận nó như một trò lừa mà phụ nữ tiến hóa nên để đánh lừa chính họ.

Vậy trong sáu học thuyết về quá trình rụng trứng âm thầm ở trên, cái nào là chính xác? Không chỉ các nhà sinh vật học không chắc chắn về điều này, và chỉ tới những năm gần đây câu hỏi này mới bắt đầu nhận được những quan tâm nghiêm túc. Sự song hành của các học thuyết này là ví dụ cho khó khăn phổ biến trong việc thiết lập các kết quả trong sinh học tiến hóa, cũng như trong lịch sử, tâm lý học và rất nhiều lĩnh vực khác mà con người không thể tạo ra các biến số cần thiết cho một thí nghiệm có kiểm soát. Những thí nghiệm này đủ sức đưa ra cách thức thuyết phục nhất cho nguyên nhân cũng như vai trò của hiện tượng. Nếu chúng ta có thể làm lại mô hình một bộ lạc người mà ở đó những người phụ nữ biểu hiện ngày rụng trứng của họ, chúng ta có thể nhìn thấy có thể sự hợp tác giữa các cặp hay trong mỗi cặp nam - nữ sẽ bị phá hủy, hoặc những người phụ nữ sử dụng vốn kiến thức mới này của mình để tránh thai. Do thiếu những thí nghiệm như vậy, chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn liệu xã hội loài người ngày nay sẽ thực sự ra sao nếu thiếu sự rụng trứng thầm lặng.

Nếu như việc xác định chức năng của những điều đang xảy ra ngay trước mắt ta hôm nay là rất khó khăn, vậy sẽ còn khó khăn đến mức nào để xác định được chức năng của những điều đã biến mất trong quá khứ. Chúng ta biết rằng các bộ xương người và công cụ là rất khác nhau từ hàng trăm nghìn năm trở về trước, khi mà con người có thể tiến hóa theo hướng rụng trứng âm thầm. Rất có thể bản năng giới tính của con người, bao gồm cả chức năng của sự rụng trứng âm thầm trong quá khứ có thể rất khác biệt theo cách mà giờ đây chúng ta khó hình dung nổi. Giải thích về quá khứ của chúng ta khiến cho những rủi ro thường xuyên của thoái hóa chỉ đơn thuần là một thứ “nghệ thuật cổ đại”, những câu chuyện mà chúng ta dựng lên ngày nay chịu ảnh hưởng từ chút xương hóa thạch còn sót lại và thể hiện như trong các bài kiểm tra của Rorscharch kiểm nghiệm thành kiến của mỗi cá nhân, nhưng lại tránh không đưa ra bất cứ một tuyên bố nào để đánh giá quá khứ cả.

Tuy nhiên, tôi không thể chỉ đơn thuần đề cập tới sáu học thuyết hợp lý như trên mà không cố gắng tổng kết chúng lại. Ở đây, một lần nữa chúng ta lại đối mặt với một vấn đề nan giải khác trong việc tìm hiểu nguyên nhân. Hầu như không có hiện tượng phức tạp nào chẳng hạn như việc rụng trứng âm thầm mà lại chỉ chịu ảnh hưởng bởi một nhân tố duy nhất. Tìm kiếm nguyên nhân duy nhất dẫn tới rụng trứng kín đáo cũng ngốc nghếch y như hành động tìm kiếm một nguyên nhân duy nhất cho Thế chiến thứ nhất. Thay vào đó, có rất nhiều các nhân tố độc lập khác trong giai đoạn từ 1900 - 1914 đưa tới chiến tranh và một số khác dẫn đến hòa bình. Cuối cùng chiến tranh nổ ra khi các nhân tố đó nặng về hướng chiến tranh. Nhưng điều đó không bào chữa được cho quan điểm thái quá và “giải thích” những hiện tượng phức tạp bằng mớ quan điểm nông cạn bao biện cho mọi nhân tố có thể hiểu được.

Như bước đầu tiên nhằm hạn chế những quan điểm nông cạn của sáu học thuyết kể trên, hãy chấp nhận rằng, bất cứ nhân tố nào thúc đẩy những tập tính tình dục khác biệt của chúng ta tiến hóa từ quá khứ xa xưa, chúng không thể tồn tại lâu dài cho đến ngày nay nếu không có một vài nhân tố duy trì chúng. Nhưng những nhân tố chịu trách nhiệm về sự xuất hiện ban đầu không nhất thiết phải giống hoàn toàn với những gì đang diễn ra hiện nay. Cụ thể là, mặc dù những nhân tố đằng sau học thuyết 3, 5 và 6 có thể là những điểm cốt yếu trước đây rất lâu, thì nay chúng không còn như vậy nữa. Chỉ có một bộ phận thiểu số phụ nữ sử dụng tình dục để kiếm sống từ nam giới, hay làm xáo trộn quyền làm cha và đồng thời khiến cho một số đàn ông phải nuôi con cho cô ta. Những thừa nhận về vai trò của chúng trước đây chỉ là một thứ nghệ thuật cổ đại, dẫu nó vẫn được chấp nhận. Hãy chỉ tập trung vào ý nghĩa hiện tại của sự rụng trứng âm thầm và giao phối riêng tư thường xuyên. Ít nhất những phỏng đoán của chúng ta có thể được dẫn dắt bởi sự xem xét nội tâm bản thân chúng ta cộng thêm với những quan sát người khác.

Các nhân tố đứng đằng sau các học thuyết 1, 2 và 4 với tôi dường như chúng vẫn còn có tác động cho tới ngày nay, và có thể là vấn đề của những nghịch lý tương tự trong tổ chức xã hội loài người. Nghịch lý đó là người đàn ông và người phụ nữ ước muốn cho những đứa con (nguồn gen) của họ được sống sót buộc phải hợp tác nuôi dạy đứa trẻ đồng thời hợp tác trên phương diện kinh tế với các cặp vợ chồng khác sống quanh đó. Hiển nhiên là việc quan hệ tình dục thường xuyên giữa một người đàn ông và một người đàn bà tăng cường nối kết giữa họ với nhau hơn hẳn với những người đàn ông và đàn bà khác mà họ vẫn gặp hằng ngày nhưng không có quan hệ tình dục. Rụng trứng âm thầm và sẵn sàng chấp nhận tình dục đã thúc đẩy chức năng “mới” này của tình dục (mới nếu so với những chuẩn mực của phần lớn động vật có vú) như là một chất gắn kết xã hội, chứ không đơn thuần là một hành động dẫn tới thụ tinh. Chức năng này không như quan niệm của những người đàn ông theo chủ nghĩa sô vanh truyền thống trong học thuyết 1 và 2, là một miếng mỡ được những người phụ nữ lạnh lùng và tính toán ném ra cho những gã đàn ông khát tình, mà thay vào đó là điều thuyết phục được cả hai giới. Để nhấn mạnh khác biệt giữa các cặp bạn tình và cặp bạn thông thường trong cùng một cộng đồng gần gũi, không chỉ tất cả các dấu hiệu rụng trứng đã biết mất mà ngay cả việc sinh hoạt tình dục cũng phải diễn ra kín đáo. Đối với vấn đề mâu thuẫn là loài vượn vẫn sống một vợ - một chồng mà không cần quan hệ tình dục thường xuyên: mỗi cặp động vật nhân hình chỉ có quan hệ xã hội tối thiểu và không liên quan về mặt kinh tế với các cặp khác.

Kích thước tinh hoàn theo tôi dường như cũng là một sản phẩm của nghịch lý cơ bản trong tổ chức xã hội loài người. Trong khi tinh hoàn người lớn hơn so với loài gorilla bởi con người quan hệ thường xuyên nhằm thỏa mãn sự vui thích, nó lại nhỏ hơn so với loài tinh tinh bởi vì chúng ta chặt chẽ hơn trong mối quan hệ một vợ - một chồng. Kích thước quá khổ ở dương vật đàn ông có thể tiến hóa dưới dạng phô diễn hấp dẫn tình dục độc đáo, cũng độc đáo như chiếc bờm sư tử hay bộ ngực rất lớn ở người phụ nữ. Vậy tại sao những con sư tử cái không có bộ ngực thật vĩ đại, sư tử đực không có dương vật thật lớn còn những người đàn ông thì lại có bờm? Nếu có là như vậy, những dấu hiệu hoán vị này đều có thể đảm nhận tốt chức năng. Điều đó không nói lên rằng đây chỉ là một hướng tiến hóa ngẫu nhiên, mà là kết quả tương đối đơn giản của sự tiến hóa ở nhiều đặc điểm cấu trúc của mỗi loài, và mỗi giới tính khác nhau.

Nhưng vẫn còn những điều cơ bản còn thiếu sót trong sự bàn luận của chúng ta từ trước tới nay. Tôi vừa nói đến một dạng lý tưởng hóa hoạt động tình dục của con người: các cặp đôi một vợ - một chồng (cộng thêm với một vài gia đình đa thê), người chồng tin tưởng mình là cha của các con do vợ mình đẻ ra, và cùng giúp vợ nuôi dạy con cái chứ không bỏ mặc chúng để đi quan hệ lăng nhăng. Để bào chữa cho việc thảo luận quan niệm hư cấu này, tôi vẫn phải nhấn mạnh rằng thực tế quan hệ vợ chồng của con người gần với lý tưởng này hơn hẳn so quan hệ này ở khỉ đầu chó hay tinh tinh. Nhưng nó vẫn chỉ là một dạng lý tưởng phi hiện thực. Bất cứ một hệ thống xã hội có luật lệ nào cũng có nguy cơ tồn tại những cá nhân lừa dối khi họ nhận ra những ích lợi của việc lừa dối đó đáng kể hơn gánh nặng trừng phạt. Do đó, câu hỏi ở đây thiên về định lượng: có phải rằng việc lừa dối trở nên quá phổ biến tới mức mà toàn bộ chế độ đó sụp đổ hay chính việc lừa dối có xảy ra nhưng không đủ thường xuyên để phá hủy hệ thống, hay lừa dối hiếm tới mức gần như không có? Áp dụng vào hoạt động tình dục của con người, câu hỏi sẽ là: 90%, 30% hay 1% những đứa trẻ sinh ra là ngoài giá thú? Giờ đây chúng ta hãy đương đầu với câu hỏi đó và những hậu quả của nó.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.